Đức Giám Mục Nguyễn Văn Long: Hãy cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi!

LỜI CHÚC TẾT BÍNH THÂN
CHO ĐỒNG BÀO TRONG NGOÀI NƯỚC

Vincent Nguyễn văn Long
Giám Mục Phụ Tá Melbourne, Australia.

(bấm vào đây nghe âm thanh)
http://freevietnews.com/audio/GmVincentNguyenVanLong_ChucTet2016.mp3

 

 

 








Kính gởi tới quý vị quý bạn lời nhận định và Chúc Tết Bính Thân của Đức Giám mục Vincent Nguyễn văn Long, Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận Melbourne Úc Châu. Ngài nguyên là bề trên giám tỉnh và thành viên ban lãnh đạo quốc tế của Tu Viện Dòng Tu Anh Em Hèn Mọn, và là Tổng Giám Đốc đặc trách vủng Châu Á Thái Bình Dương của dòng tu này.

 Hãy cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi

 Úc Châu ngày 5 tháng 2, 2016

Kính chào đồng bào thân mến,

Từ Úc Châu, tôi xin được cùng với những người Việt tỵ nạn cộng sản định cư tại đây, kính chúc đồng bào khắp nơi, đặc biệt trên quê hương mến yêu một Năm Mới Bính Thân an khang, hạnh phúc thịnh vượng và một mùa Xuân đầy niềm tin yêu hy vọng.

Cũng năm Thân khi xưa, khi cuộc chiến tranh Bắc Nam lên cao điểm, quân cộng sản xâm lăng đã dã tâm giết hại đồng bào tại Thừa Thiên Huế. Những mồ chôn tập thể và những cái chết của hàng ngàn người dân vô tội trong biến cố thảm sát tết Mậu Thân là những ký ức kinh hoàng về cái gọi là chủ trương bạo lực cách mạng của cộng sản. Bất chấp những thủ đoạn bóp méo lịch sử, không ai có thể phủ nhận các tội ác mà do cộng sản gây nên.








Ngày nay, tuy đã hơn 40 năm toàn trị, chế độ độc tài đảng trị vẫn tiếp tục làm cho đất nước chậm tiến, băng hoại toàn diện và nhất là hiểm họa mất chủ quyền.

Đứng trước sự xâm lấn của Trung Cộng, Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nguyên hình là một bè lũ bán nước, hèn với giặc ác với dân. Họ đặt quyền lợi bổng lộc của đảng và của chính họ lên trên cả vận mệnh của Tổ Quốc. Sự tranh dành quyền lực trong Đại Hội Đảng 12 trước cơn điêu linh của tổ quốc đã chứng tỏ sự vong nô của họ.

Bánh xe lịch sử đã lăn chuyển tới một khúc quanh hệ trọng. Không một thể chế độc tài nào có thể chống lại xu hướng tất yếu của thời đại. Chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ và một Việt Nam do dân và vì dân sẽ chiến thắng mọi thế lực xâm lược và duy trì phát triển tiền đồ Tổ quốc.

Vì sự nghiệp của tiền nhân và vì tương lai của những thế hệ nối tiếp, chúng ta hãy cùng đoàn kết trong truyền thống bảo vệ tổ quốc hào hùng mà cha ông ta đã đề lại. Hãy “cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi” chống lại thù trong giặc ngoài và kiến tạo một Việt Nam dân chủ, văn minh, nhân ái, thái hòa cho xứng với hy sinh của tiền nhân và niềm kiêu hãnh của thế hệ tương lai.

Dấu tích oai hùng nơi đồng bào hải ngoại lẫn đồng bào quốc nội  chính là những chồi non hy vọng báo hiệu một mùa Xuân đích thực cho Dân tộc. Chúng ta hãy cùng tranh đấu cho mục đích chung và cùng kiến tạo một mùa Xuân mới cho tổ quốc. Mùa Xuân đó là Việt Nam quang phục, Việt Nam dân chủ, Việt Nam tự do, Việt Nam nhân bản, Việt Nam là tiền đồ cha ông tranh đấu và trối lại, Việt Nam là niềm tự hào cho người Việt khắp nơi.

Xin trân trọng và cám ơn toàn thể đồng bào.

Vincent Nguyễn văn Long
Giám Mục Phụ Tá Melbourne, Australia.


(bấm vào đây nghe âm thanh)
http://freevietnews.com/audio/GmVincentNguyenVanLong_ChucTet2016.mp3

 Description: Description: coat of arms 300dpi

 KÍNH NHỜ CHUYỂN TIN VỀ VIỆT NAM

 Xin giới thiệu toàn văn bài giảng chúa nhật 29.04.2012 của Đức cha Vincent Nguyễn Văn Long, Giám mục phó Tổng giáo phận Melbourne (Úc Đại Lợi) để quý Cha, quý thầy và anh chị em khắp nơi có cơ hội hiệp thông.
 
Kính thưa toàn thể qúy ông bà anh chị em,

Một lần nữa, ngày 30 tháng 4, ngày ghi sâu trong ký ức của toàn dân Việt Nam như một ngày Quốc Nạn lại trở về với chúng ta, nhất là những người Việt tỵ nạn cộng sản ở khắp nơi trên thế giới. Có nhiều người nói rằng chúng ta không nên nhìn về qúa khứ nữa, chúng ta không nên tưởng niệm ngày quốc nạn hay quốc hận nữa mà hãy hướng về tương lai. Có không ít người còn nói rằng: “Việt Nam bây giờ đã đổi mới, chính thể Cộng Sản đã thay đổi với thời đại, đâu còn gì để chúng ta phải ôn lại dĩ vãng xa xưa, hãy bắt tay vào việc xây dựng tương lại của đất nước trong tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Nhưng làm sao chúng ta có thể tiến về tương lai nếu chúng ta không biết nhận ra những bài học của lịch sử? Có “ôn cố mới biết tri tân”. Tôi thiển nghĩ rằng, không ai thiết tha với vận mệnh của dân tộc Việt Nam có thể làm ngơ trước những bài học của lịch sử. Nếu lịch sử là một dòng sông thì những bế tắc trong chiều dài của nó phải được đả thông cặn kẽ. Lúc đó dòng sông mới được chảy đều và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu; lúc đó chúng ta mới mong có tương lai tươi sáng.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một khúc ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam cận đại. Nó cũng đánh dấu một bế tắc dẫn đến một sự băng hoại toàn bộ cho cả đất nước và dân tộc Việt Nam. Khi bao nhiêu bom đạn của cuộc chiến ý thức hệ đã gây chết chóc thương tích và tàn phá trên những người dân vô tội; khi bao nhiêu những chiến sĩ bỏ mình nơi chiến trận, phơi thây không một nấm mồ hay chết dần mòn tức tưởi trong các trại cải tạo; khi những phương phế binh bị ruồng bỏ trong một xã hội vô nhân bản; khi cả triệu người phải bỏ nước ra đi, làm nạn nhân trên biển cả trong bao tủi nhục đắng cay; khi cả khối dân Việt tại quốc nội phải sống trong một xã hội hoàn toàn băng hoại, bị cai trị bởi một chính thể đã bị đào thải trong thế giới tiến bộ; khi những người dân lưu vong tại hải ngoại chưa có cơ hội đóng góp vào tiến trình canh tân đất nước.

Đây chẳng phải là những mệnh đề của người nhìn dưới lăng kính của kẻ chiến bại hay một nhóm người còn mang đầu óc hận thù chia rẽ. Nhưng đây là những bế tắc của lịch sử mà chỉ khi được khai thông mới mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.

Kính thưa toàn thể qúy vị và nhất là các bạn trẻ,

Hôm nay chúng ta cùng “ôn cố tri tân” trong niềm tin vào tiến trình tất yếu của lịch sử. Lịch sử sẽ đào thải những gì không còn thích hợp. Dù có ngoan cố cưỡng lại, không ai có thể ngăn cản thế lực của lịch sử, cũng như không chính thể nào có thể làm ngược lòng dân mà tồn tại. Hôm nay chúng ta tưởng nhớ đến những nạn nhân trước và sau 30 tháng 4 năm 1975. Chúng ta cùng ôn lại những bài học của lịch sử. Nhưng trên hết, chúng ta hãy góp một bàn tay khai thông những bế tắc hầu cùng với toàn thể dân tộc mở ra một kỷ nguyên mới cho quê hương Việt Nam.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta sự an ủi và niềm tin vào một tương lai tươi sáng, một bình minh mà bóng tối của tà thần sẽ không chế ngự được. Thánh Phêrô đã dùng lời Thánh Vịnh để nói với dân chúng về Đức Kitô rằng “Phiến đá mà người thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường”. “Người thợ xây” trong bối cảnh này chính là những con người tượng trưng cho thế lực của bóng tối và tội lỗi. “Người thợ xây” đây là Giuda, là quân dữ, là những kỳ mục, là Philatô, là Cêsarê và đồng thời là tất cả những ai đứng về phía của sự dữ.

Họ đã loại bỏ Đức Kitô, tức là loại bỏ ánh sáng và sự sống, công lý và sự thật cùng tất cả những giá trị nhân bản và siêu nhiên. Nhưng Đức Kitô là phiến đá bị họ loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường. Ngài đã chiến thắng trên tà thần và tội lỗi. Chiến thắng của Ngài vượt không gian và thời gian, để rồi những ai đứng về phía công lý và sự thật đều được thông phần vào chiến thắng của Ngài.

Qủa thế, dù cho thế lực của sự dữ lấn án sự lành, dù cho những kẻ cường bạo giết hại những bậc chí nhân, nhưng chúng ta có thể tin chắc vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta.

Trong bối cảnh của đất nước chúng ta hôm nay, “người thợ xây” là ai nếu không phải là chế độ phi nhân vong bản; “người thợ xây” là ai nếu không phải là những công cụ đàn áp cưỡng chiếm đất đai của người dân vô tội như công an, cảnh sát cơ động và côn đồ. Và “phiến đá bị họ loại bỏ” là ai nếu không phải là những người đấu tranh cho công lý và sự thật, là người giáo dân Thái Hà với lá cây vạn tuế, là Đồng Chiêm với một cây thánh giá, là Cồn Dầu với một nghĩa trang thiêng liêng, là anh Việt Khang với một bài ca ái quốc,hay là dân oan với chỉ những tiếng kêu than vô vọng. Như Thiên Chúa đã thực hiện qua sự khổ nhục, sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, Ngài cũng sẽ thực hiện nơi những ai đứng về phía của công lý và sự thật. Chúng ta hãy vững tin và liên đới với nhau trong cùng một lý tưởng, một giấc mơ, một mục đích là ngày khải hoàn của chân thiện mỹ trên quê hương mến yêu.


“Ta là mục tử nhân lành. Ta hiến mạng sống vì chiên ta”. Lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay nói lên một chân lý bất hủ là chỉ có tình yêu hiến thân cho người khác mới là lẽ sống của người tín hữu. Sứ mạng của Đức Kitô cũng chính là hiến thân để sự sống viên mãn được thể hiện nơi con người. Hôm nay, một cách đặc biệt, chúng ta tưởng nhớ đến những người con của tổ quốc đã vì nước vong thân.

Họ đã chẳng màng danh vọng, vinh quang, phú qúy hay trường thọ. Họ hy sinh chính mạng sống ngay trong tuổi thanh xuân để quê hương có ngày tươi sáng. Chúng ta nghiêng mình kính cẩn trước những gương anh linh của tổ quốc. Chúng ta hãy cùng nhau hướng về mục đích mà chính họ đã làm những viên gạch lót đường: đó là sự sống viên mãn cho tha nhân, sự phục hưng cho dân tộc và sự trường tồn của cơ đồ tổ quốc.

Kính thưa qúy ông bà anh chị em,

Ngày 30 tháng 4 không chỉ là một ngày quốc hận hay quốc nạn. Nó là ngày mà chúng ta, nhất là những thế hệ trẻ phải “ôn cố tri tân”. Nó là ngày chúng ta cùng động viên tranh đấu cho một tương lai Việt Nam tươi sáng hơn. Trong tinh thần Phục Sinh, người tín hữu chúng ta nhìn vào biến cố lịch sử đó như là đoạn đường chúng ta phải đi để tiến vào tương lai vinh thắng. Chúng ta phải can trường bước theo con đường mà các anh hùng hào kiệt đã đi trước chúng ta, vững tin vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta.

Hãy liên kết thành sức mạnh để phá tan xiềng xích của sự bạo tàn, dối trá và gian ác là chế độ cộng sản. Hãy cùng nhau khai thông dòng sông lịch sử để nó được chảy và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu. Xin Thiên Chúa chúc lành và kiện toàn cho mọi hy sinh và nỗ lực của chúng ta, người con dân của tổ quốc trong và ngoài nước đang khát khao và tranh đấu cho công lý. Hãy vững tin tiến về bình minh mới, ngày mùa gặt mới của quê hương, vì “người đi gieo trong đau thương sẽ về giữa vui cười”.

DGM Nguyễn văn Long



Anh chị em hãy tham dự vào tiến trình công lý hóa cho dân tộc. Vì sao? Vì căn nguyên của sự nghèo đói và của những nỗi nhục quốc thể ở trong nước cũng như ở ngoài nước là hệ thống chính trị lỗi thời, là chế độ cộng sản tham nhũng, bất công và phi nhân....Chúng ta không thể mặc nhiên để sự ác hoành hành khống chế xã hội. Sự ác này không những thể hiện nơi cá nhân hay đoàn thể. Tôi cho rằng sự ác lớn nhất đang hoành hành trên đất nước chúng ta hôm nay chính là tà quyền và hệ thống chính trị đưa con người vào chỗ bế tắc.



Gặp Đức GM Vincent Nguyễn Văn Long
từ Úc đến Nam Cali

Bài và hình: Thanh Phong/Viễn Đông

SANTA ANA - Đức Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long, Giám Mục Phụ Tá Giáo phận Melbourn, Úc vừa đến Nam California và dâng thánh lễ vào lúc 6 giờ 30 sáng Chủ nhật 29-6-2014 tại thánh đường Saint Barbara, Santa Ana. Trước thánh lễ, Đức Giám Mục đã dành cho phóng viên Viễn Đông cuộc phỏng vấn ngắn, sau đó ngài chủ tế thánh lễ và có bài giảng rất sâu sắc về hiện tình Việt Nam và những gì đồng hương VN hải ngoại cần thực hiện để cứu nguy tổ quốc.

Đức Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long và các Linh Mục đồng tế thánh lễ trước hang đá Lộ Đức tại giáo xứ Saint Barbara hôm Chủ Nhật.

Trong khi chờ đến giờ cử hành thánh lễ, Đức Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long đi một vòng xung quanh nhà thờ để “thăm giáo dân cho biết sự tình” và chúng tôi may mắn được ngài dành cho cuộc phỏng vấn ngắn:

Viễn Đông: Kính thưa Đức Cha, Đức Cha đến Nam Cali với công tác mục vụ hay có chuyện gì khác?

Đức GM: Tôi đến đây không phải công tác mục vụ nhưng là đi nghỉ hè một vài tuần để đi thăm thân nhân, bà con, và sáng nay tôi tới giáo xứ Saint Barbara để dâng thánh lễ cùng với cha quản xứ Vũ Ngọc Long và một số cha khác.

Viễn Đông: Xin Đức Cha cho một vài nhận định về tình hình Việt Nam, và theo Đức Cha, người Việt hải ngoại nên làm gì trước tình hình cấp bách hiện nay?

Đức GM: Thưa quý độc giả báo Viễn Đông, tôi nghĩ rằng tình hình đất nước Việt Nam chúng ta đã đến một giai đoạn quyết định, rất là nóng bỏng và nó đòi hỏi sự nhạy cảm và dấn thân cũng như tinh thần yêu nước của mọi người, nhất là đồng bào chúng ta tại hải ngoại phải tiếp sức cho đồng bào tại quốc nội, bởi vì biến cố Trung Cộng xâm lăng đất nước chúng ta, chiếm hai hòn đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như thềm lục địa trong vùng gọi là kinh tế đặc quyền của Việt Nam cũng như cả trên đất liền.

“Sự ngang tàng và thái độ trịch thượng, coi thường người dân cũng như chính phủ của Cộng Sản Việt Nam nói lên sự mất chủ quyền cũng như sự lệ thuộc hoàn toàn vào chế độ cộng sản quan thầy Trung Cộng, cho nên người dân chúng ta ở trong nước cũng như tại hải ngoại phải nhìn thấy sự nghiêm trọng của tình hình đất nước, và mình phải đóng góp một phần nào đó để đất nước chúng ta không bị mất vào tay người ngoại bang cũng như bị chi phối bởi một chế độ cộng sản vong nhân, và mất nhân bản hiện nay.

Viễn Đông: Thay mặt độc giả, chúng con cám ơn Đức Cha.

Sau đó, Đức Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long đã cùng Linh mục Quản xứ Giuse Vũ Ngọc Long và các Linh mục Đa Minh Phạm Văn Tụ, Phaolo Nguyễn Khang, Phaolo Bùi Văn Viết và Giuse Bùi Văn Tuấn lên bàn thờ dâng thánh lễ mừng kính hai thánh Tông Đồ Phêrô – Phaolô, hai vị thánh trụ cột của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

Trong bài giảng, trước hết Đức Giám Mục ngỏ lời cám ơn cha quản xứ Vũ Ngọc Long, chào thăm và chúc lành đến tất cả mọi người, sau đó Đức Giám Mục chia sẻ lời Chúa qua cuộc đời hai thánh Phêro và Phaolo, đồng thời nhấn mạnh đến câu Thánh Vịnh “Phiến đá mà người thợ xây loại bỏ chính phiến đá đó lại trở thành tảng đá góc tường. Đó là điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đã thực hiện trước mắt chúng ta.”

Vị Giám Mục nói rằng, câu thánh vịnh này áp dụng đúng vào trường hợp người Việt Nam chúng ta; chúng ta như những phiến đá bị loại bỏ, mà ai loại bỏ chúng ta? Chế độ cộng sản đã loại bỏ chúng ta một cách dã man, loại bỏ chúng ta một cách thô bạo! Chính vì thế, chúng ta bất chấp sự chết chóc trên biển cả, trong rừng sâu để vượt biển, vượt biên tìm tự do, để làm những nhân chứng sống động của tất cả những giá trị bất khả xâm phạm của con người, và lịch sử cho thấy, nước Việt Nam chúng ta đã trải qua nhiều giai đoạn nghiệt ngã, thăng trầm nhưng chẳng bao giờ người Việt chúng ta phải bỏ nước ra đi một cách rầm rộ, một cách vĩ đại, một cách đau thương, một cách tủi nhục như vậy!

Nhưng chính trong cái đau thương, trong nước mắt, trong sự chết chóc hãi hùng đó như trong lệ sầu và được lớn lên, đâm chồi, trổ sinh hoa trái để rồi như ngày hôm nay, từ Á chấu tới Âu châu, từ Úc châu đến Mỹ châu, nơi nào có dấu chân người Việt Công Giáo, nơi đó chúng ta đem một luồng gió mới của Chúa Thánh Thần, chúng ta mang sự tác động, chúng ta mang đức tin đã được tôi luyện trong đau khổ, trong thử thách, trong nước mắt và sự chết đó để tô điểm cho đời, tô điểm cho giáo hội.

Đức Giám Mục đặc biệt nhấn mạnh đến tinh thần “Dấn Thân.” Ngài nói, “Dấn thân là không vô cảm, không sợ hãi, không tìm sự an phận cho mình mà sẵn sàng chấp nhận tất cả những bất chấp rủi ro vì lý tưởng, vì hạnh phúc, vì sự sống, vì nhân phẩm của người khác, vì những giá trị bất khả xâm phạm,” và ngài nhắc nhở giáo dân, “Người Việt Nam chúng ta cũng không thể ngủ quên, không thể thờ ơ với đất nước, với quê hương khi chúng ta đang được sống với đầy đủ tự do tại hải ngoại này, bởi vì chúng ta có bổn phận với quá khứ, hiện tại và tương lai với đất nước của chúng ta.

"Chúng ta không những có bổn phận với các chiến sĩ đã hy sinh, với nạn nhân, những người đã chết trong chế độ cộng sản, trong lao tù, trên đường vượt biển, vượt biên, và ngay hiện tại bây giờ trên đất nước chúng ta, bởi vì nhờ sự hy sinh của những người đó, chúng ta mới có ngày hôm nay thì chúng ta cũng phải có bổn phận, trách nhiệm nào đó. Chúng ta không thể vô cảm, chúng ta không thể hững hờ với đất nước, với dân tộc, với những người đã hy sinh cho chúng ta. (Bài giảng của Đức Giám Mục khá dài, chúng tôi chỉ tóm tắt một số ý chính).

Sau cùng, Đức Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long cầu chúc tất cả mọi người hãy dấn thân và tín thác vào quyền năng của Thiên Chúa, và cùng với Linh mục Giám Quản Vũ Ngọc Long cũng như quý Linh mục đồng tế tiếp tục dâng thánh lễ.

Trước khi Đức Giám Mục ban phép lành của Chúa cho mọi người, ông Chủ Tịch Cộng Đoàn Saint Barbara thay mặt giáo dân cám ơn Đức Giám Mục và qúy Linh mục, và trao tặng Đức Giám Mục bó hoa tươi./
Tháng 6, 2014
Viễn Đông


Sau thánh lễ khai mạc HÀNH HƯƠNG MẸ LA VANG 2012 tại nhà thờ Mẹ Việt Nam, Silver Spring, Maryland (TGP Washington, DC), Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long đã chia sẻ với cộng đoàn dân Chúa với chủ đề MẸ LA VANG VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM...

 http://liendoanconggiao.net

 Kính thưa quý ông bà anh chị em,

 Hôm nay, tôi rất hân hạnh được đến Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn để tham dự cuộc Hành Hương kính Đức Mẹ La Vang do Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ tổ chức. Lời đầu tiên, tôi xin được gởi đến toàn thể quý vị đó là lời chúc sức khoẻ, tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa. Xin Ngài kiện toàn thánh ý nhiệm mầu của Ngài nơi chúng ta, những chứng nhân của tự do, công lý và nhân bản.

 Tôi cũng xin được chuyển lời chào thân thương của đồng bào chúng ta tại Úc Đại Lợi luôn hướng về khối người Việt tại Hoa Kỳ như là con chim đầu đàn của đàn chim Việt đang tản mác khắp bốn phương trời. Dù ở đâu, người Việt Nam chúng ta cũng cố gắng để làm rạng danh ‘con Rồng cháu Tiên’ và cùng tranh đấu cho một tương lai tươi sáng của quê hương dân tộc.

Chủ đề mà Ban Tổ Chức đã mời tôi đến để chia sẻ với quý vị tối nay là “Mẹ La Vang với dân tộc Việt Nam.” Tôi phải thú thật là khi nhìn vào một chủ đề như thế, tôi không biết phải nói gì để khỏi phụ lòng mong đợi của quý vị. Nhiều người nghĩ rằng, giám mục thì có thể nói về bất cứ vấn đề gì. Thực tế thì không như thế. Ở lứa tuổi 50 và sống hai phần ba đời mình ở Úc, tôi cũng chỉ có một kiến thức giới hạn – nhất là về những vấn đề liên quan đến Việt Nam.

 Tôi không thể ‘xuất khẩu thành thơ’ và càng không thể ‘múa rìu qua mắt thợ’ trước một cử tọa ở cái nôi chính trị và văn hóa của Hiệp Chủng Quốc này. Ước mong của tôi là được chia sẻ và học hỏi hơn là được ‘thuyết giảng’ về mối liên quan giữa tôn giáo và dân tộc – nhất là trong hoàn cảnh đất nước chúng ta hôm nay. Tôi cũng đại diện cho một thế hệ trẻ được hấp thụ hai nền văn hoá khác nhau. Vì thế, ước mơ của tôi là làm một nhịp cầu giữa hai thế hệ, ngõ hầu ngọn đuốc của tự do và công lý được chuyển tiếp cho đến ngày quê hương mến yêu được phục hưng.

 Để tìm hiểu về sự tương quan của “Mẹ La Vang với dân tộc Việt Nam,” chúng ta có thể nhìn vào một dân tộc mà lịch sử của họ cũng có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam chúng ta, đó là Ba Lan, quê hương của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolo II. Ba Lan, một quốc gia bị ngoại bang xâm chiếm nhiều lần, và trong lịch sử cận đại đã chịu nhiều tang tóc hơn các dân tộc khác, với hơn sáu triệu người chết trong Đệ Nhị Thế Chiến.


 





Hơn thế nữa, Ba Lan đã sống dưới bóng của tên khổng lồ không mấy tử tế là Liên Bang Xô Viết và chế độ Cộng Sản hơn bốn thập niên. Trong suốt những năm dài tăm tối đó, người dân Ba Lan đã hướng về một thánh địa tượng trưng cho tinh thần dân tộc và ý chí bất khuất của họ, đó là Jasna Gora – một địa danh có nghĩa là Núi Sáng (Luminous Mount) hoặc có thể tạm dịch là Minh Sơn. Nơi đây, Đức Trinh Nữ Maria dưới danh hiệu Đức Mẹ Czestochowa được sùng kính như là Đấng Bảo Vệ cho dân tộc Ba Lan qua bao thăng trầm của lịch sử.

 Đức Mẹ Czestochowa có nghĩa là ‘Đức Mẹ Đồng Đen’ Tục truyền rằng, vào năm 1655, khi quân Thụy Điển chuẩn bị xâm chiếm Ba Lan, những người lính trên đồi Jasna Gora đã cầu nguyện với ảnh Đức Mẹ Đồng Đen và họ dù yếu thế hơn đã đẩy lui được quân Thụy Điển. Từ đó, Đức Mẹ Czestochowa được mệnh danh là Nữ Vương nước Ba Lan và đồi Jasna Gora được coi như thánh đô của họ.

 Vào năm 1920, khi Hồng Quân Liên Xô ồ ạt đánh vào Warsava, một lần nữa người dân Ba Lan lại chạy đến với Đức Mẹ Czestochowa. Không ai có thể giải thích nổi, với một đạo quân hùng mạnh nhất Âu Châu thời đó, Hồng Quân Liên Xô đã bị đánh bại ở dòng sông Vistula – một chiến thắng không ngờ, như Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm xưa (938).

 Với lịch sử dân tộc gắn liền với đức tin Công Giáo và đặc biệt là lòng sùng kính Đức Mẹ, chúng ta không ngạc nhiên khi Jasna Gora trở thành một biểu tượng không thuần túy về tôn giáo mà là một biểu tượng cho tinh thần quốc gia và niềm tự hào dân tộc. Mỗi khi quốc gia bị mất chủ quyền và dân tộc bị đàn áp, người dân Ba Lan đã tìm đến Jasna Gora không phải chỉ nguyện xin mà còn tìm một lối thoát cho quốc gia và một tương lai mới cho dân tộc. Chính vì thế, trong những năm gọi là ‘chiến tranh lạnh’, khi bạo quyền Cộng Sản Ba Lan, được sự chỉ đạo của Điện Cẩm Linh, dập tắt tất cả các ngọn lửa đấu tranh cho nhân quyền, Jasna Gora đã trở nên thành lũy đối kháng và linh hồn của phong trào chống cộng.


 Vào ngày 26 tháng 8 năm 1982, tức ngày Lễ Kính Đức Mẹ Czestochowa, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã nói những lời tâm huyết với đồng bào mình còn đang sống sau cái gọi là ‘bức màn sắt’ và đang tranh đấu cho tự do. Ngài nói như sau:

 "Đồng bào thân mến. Dù đời sống của người Ba Lan khó khăn thế nào, xin cho chúng ta thâm tín rằng cuộc đời của chúng ta đã thuộc về Trái Tim Mẹ. Như Mẹ đã toàn thắng nơi Thánh Maximiliano Kolbe, người Hiệp sĩ của Đấng Khiết Trinh, xin Mẹ cũng toàn thắng nơi chúng ta"

"Xin Mẹ Jasna Gora toàn thắng nơi chúng ta và qua chúng ta. Xin Mẹ toàn thắng ngay cả qua những đau khổ và thất bại của chúng ta. Xin Mẹ cho chúng ta đừng nản lòng tranh đấu cho công lý và sự thật, cho tự do và nhân phẩm của con người. Chẳng phải lời của Mẹ ở tiệc cưới Cana ‘Hãy làm theo mệnh lệnh của Ngài’ có nghĩa như vậy sao? Anh chị em hãy nhớ rằng, sức mạnh được thể hiện qua sự yếu đuối. Tôi ở gần anh chị em. Tôi luôn nhớ tới anh chị em.”

Đọc những lời của Đức Thánh Cha, tôi không có cảm tưởng là tôn giáo và chính trị là hai thái cực mà người tín hữu không được lẫn lộn. Ngược lại, sự nhập thể của Thiên Chúa vào đời sống của con người đòi buộc chúng ta cũng phải ‘nhập thể’ dưới ánh sáng Tin Mừng.

Như lời mở đầu Hiến chế Gaudium et Spes (Vui mừng và Hy vọng) của Công Đồng Vaticano II đã khẳng định “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô,” Chân phước Gioan Phaolô II đã cho chúng ta thấy rằng, tranh đấu cho công lý và sự thật, cho tự do và nhân phẩm không phải là việc làm của những kẻ muốn chính trị hóa tôn giáo mà là bổn phận ‘nhập thể hóa’ Tin Mừng và ‘Kitô hóa’ môi trường của chúng ta.

Nếu chúng ta chỉ giữ đạo trong nhà thờ, nếu chúng ta chỉ đóng khung tôn giáo trong những vấn đề siêu nhiên mà hoàn toàn vô cảm với những vui mừng và hy vọng, những sợ hãi và lo âu của đồng loại, thì phải chăng tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện ru ngủ chúng ta như lời Karl Marx? Đây cũng là chiêu bài của cộng sản. Họ muốn tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện ru ngủ dân chúng. Họ muốn biến tôn giáo trở thành một công cụ của chế độ.

Cách đây không lâu, tôi có nghe một câu nói rất hùng hồn: “Nếu ai không thích cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ.” Đằng sau câu nói này là một khó khăn thực tế cho những ai phải sống dưới chế độ cộng sản.

Trong bối cảnh đất nước và giáo hội Việt Nam hôm nay, sự liên quan giữa chính trị và tôn giáo quả thật là một đề tài hết sức tế nhị cho người tín hữu, nhất là các vị lãnh đạo. Làm sao để giữ được một lợi thế thực dụng cho giáo hội mà không thỏa hiệp các giá trị cơ bản của Phúc Âm? Làm sao thăng tiến đời sống đạo và lo cho các nhu cầu của các giáo xứ, các dòng tu, các chủng viện v.v... và đồng thời làm trách nhiệm ngôn sứ trong một xã hội độc tài đảng trị? Đó là một số những mệnh đề nan giải mà những ai sống với cộng sản mới biết những phức tạp của nó.

 Ở đây, tôi không có ý phê bình câu nói hùng hồn trên kia hay một thái độ nào đó của các vị lãnh đạo giáo hội trước tình hình chính trị của đất nước. Tuy nhiên, như Đức Cố Giáo Hoàng Phaolo II đã quảng diễn qua lời giảng dạy, thái độ và đời sống của ngài, Kitô hóa môi trường theo tôn chỉ Phúc Âm là nhiệm vụ của mọi tín hữu.

Tranh đấu cho công lý và sự thật, tự do và nhân phẩm là con đường tất yếu của những ai theo Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Vì thế, vấn đề ở đây không phải là chúng ta ‘không thích cộng sản’ hay ‘khích bác họ.’ Vấn đề ở đây là chọn lựa của chúng ta giữa hai thế lực tương phản: sự thật và sự giả dối, sự thánh thiện và sự gian ác, ánh sáng và bóng tối.

Vâng, người tín hữu phải yêu thương cả kẻ thù, kể cả người cộng sản. Nhưng chúng ta không thể đồng lõa và vô cảm với sự giả dối, gian ác và phi nhân của họ. Chính tình yêu đối với Thiên Chúa và nhiệt tâm cho Vương Quốc của Ngài đòi hỏi thôi thúc chúng ta trong cuộc chiến cho công lý và sự thật, ánh sáng và sự sống – cuộc chiến mà chính Đức Kitô đã tranh đấu và khải hoàn qua sự chết và phục sinh của Ngài.


Quý vị thân mến,

Nếu người dân Ba Lan đã coi Đức Mẹ Czestochowa như là biểu tượng niềm tin của họ, thì người Việt Nam chúng ta có thể coi Đức Mẹ La Vang như là biểu tượng niềm tin của chúng ta hay không?


Hơn thế nữa, nếu Jasna Gora đã hun đúc tinh thần đấu tranh cho quê hương và cho giáo hội Ba Lan trong những chặng đường cam go nhất của lịch sử dân tộc Ba Lan, người Việt Nam Công Giáo chúng ta có thể đến với Mẹ La Vang trong nỗ lực tìm kiếm một tương lai tươi sáng cho đất nước và giáo hội hay không?

Đối với tôi, những câu hỏi này thật thiết thực với bối cảnh của quê hương chúng ta hôm nay. Đối với tôi, đây không phải là ‘chính trị hóa’ La Vang mà là đem Phúc Âm vào lòng dân tộc và là thực thi vai trò ngôn sứ của chúng ta trong một xã hội đang mất căn tính nhân bản. Nói một cách khác, nếu người tín hữu chúng ta phải như ‘thành phố xây trên núi’ hay như ‘muối men cho đời,’ thì vai trò phục hồi cho xã hội một căn tính nhân bản trên những giá trị Phúc Âm là vai trò thiết yếu của chúng ta.

Câu Kinh Đức Mẹ La Vang “Xin cho chúng con tấm lòng từ bi nhân hậu, đại lượng bao dung, cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống” sẽ không có ý nghĩa khi người tín hữu chúng ta vô cảm trước hiện tình một xã hội băng hoại toàn diện đang diễn ra trên quê hương chúng ta.

Như quý vị đã biết, trong những ngày gần đây, giáo hội tại Hoa Kỳ đang tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo qua những cuộc biểu tình rầm rộ, những kháng cáo trước tòa án cũng như qua các phương tiện truyền thông. Lý do là gi? Đó là việc chính phủ của Tổng thống Obama đã đề xướng ra một đạo luật về y tế mà theo đó, tất cả các tổ chức kể cả tổ chức Công Giáo phải cung cấp bảo hiểm phổ quát bao gồm ngừa thai cho các nhân viên của mình.

 Các giám mục Hoa Kỳ đã không ngần ngại đương đầu với chính sách ‘Obamacare’ mà họ cho rằng đi ngược lại với luân lý Công Giáo và hơn thế nữa giới hạn quyền tự do của giáo hội trong việc hành xử theo giáo luật. Giáo hội không thể làm ngược lại tôn chỉ của Phúc Âm nếu bị bắt buộc phải cung cấp dịch vụ phá thai hay ngừa thai – dù chỉ là gián tiếp – trong các bệnh viện của mình hay tài trợ các dịch vụ này cho các nhân viên của mình như tại trường học, giáo xứ, cơ sở xã hội v.v... Chính vì thế, các giám muc Hoa Kỳ đã không ngần ngại đứng lên bảo vệ những giá trị mà họ cho là không thể nhượng bộ dù là trong một xã hội đa nguyên.

 Nhiều giáo dân và ngay cả một số giáo sĩ Hoa Kỳ không đồng quan điểm với Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Nhưng ít ra, không ai có thể chỉ trích là họ đã can thiệp vào chính sách của nhà nước hay là họ đã vượt qua giới hạn tôn giáo thuần túy. Phúc Âm và đời sống không thể tách lìa nhau; tôn giáo và chính trị không thể không liên hệ với nhau. Vai trò ngôn sứ của Giáo hội đòi buộc người tín hữu ở mỗi bậc và mỗi hoàn cảnh phải tranh đấu cho một xã hội phản ảnh Vương Quốc của Thiên Chúa, hay như Kinh Đức Mẹ La Vang, là xây dựng một ‘nền văn minh tình thương và sự sống.’

 Thực thế, truyền thống công lý xã hội trong Kinh Thánh là bằng chứng hùng hồn về sự nhập thế của các giá trị siêu nhiên vào đời sống tự nhiên của con người. Ơn cứu độ không chỉ có nghĩa là một sự giải thoát của linh hồn và đời sống vĩnh hằng trên Thiên Quốc mà là sự giải thoát con người toàn diện. Ngay trên cõi đời này và ngay trong xã hội này, con người được mời gọi để sống cuộc sống sung mãn với Thiên Chúa và tha nhân. Do đó, sống đức tin và sống thánh thiện không chỉ có một chiều dọc, tức là thờ phượng kính mến Chúa được quảng diễn qua xây nhà thờ, tu viện, trung tâm, lễ nghi, kinh kệ, rước sách, đình đám, hành hương, ăn chay hãm minh v.v...

Sống đức tin và sống thánh thiện không thể tách lìa khỏi tiến trình công lý hóa xã hội và phong phú hóa đời sống con người. Tiên tri Isaiah đã định nghĩa cho chúng ta thế nào là giữ đạo, đó là “phá vỡ xiềng xích của bọn ác nhân, cất đi gánh nặng của kẻ lầm than, giải thoát cho kẻ bị áp bức và phá tan mọi gông xiềng (Isaiah 58:6). Đức Kitô cũng đã đúc kết sứ mạng của Ngài trong câu nói đầy ý nghĩa và súc tích: “Ta đến để mọi người được sự sống và sự sống viên mãn” (Gioan 10:10). Sự sống viên mãn không phải chỉ là ở đời sau. Nó là sự sống toàn thể trọn vẹn. Nó là sự sống trong yêu thương, trong công lý, trong tình người từ bây giờ và mãi mãi.

Ở bên Úc, có rất nhiều người hỏi tôi là họ phải làm gì khi nhận những lá thư hay những lời kêu gọi giúp đỡ giáo hội quê nhà. Nào là xây nhà thờ, sửa tu viện, tu bổ trung tâm hành hương, nâng cấp địa điểm truyền giáo.... rồi nào là giúp cô nhi, người tàn tật, các chị em lầm lỡ [tôi không mấy ưa nhóm chữ này vì nó có vẻ kỳ thị giới tính quá. Còn các anh lầm lỡ đâu?] Có nhiều người còn nói là họ rất sợ vô đoàn thể, vì đó là những nơi bị xin tiền! Tôi trả lời với họ rằng chúng ta không nên vô cảm nhưng cũng không nên tạo một gánh nặng cho mình hay cho người khác.

Tôi cũng nói thêm là trên hết mọi sự giúp đỡ, anh chị em hãy tham dự vào tiến trình công lý hóa cho dân tộc. Vì sao? Vì căn nguyên của sự nghèo đói và của những nỗi nhục quốc thể ở trong nước cũng như ở ngoài nước là hệ thống chính trị lỗi thời, là chế độ cộng sản tham nhũng, bất công và phi nhân. Tôi sẽ không bao giờ ngần ngại để nói lên sự thật phũ phàng đó. Tôi sẽ không bao giờ tách lìa lý tưởng một Việt Nam phi cộng sản và một Việt Nam nhân bản ra khỏi sứ mạng giám mục của tôi.

Nhiều người Công Giáo quan niệm rằng, đạo và đời là hai thực thể riêng biệt. Chính vì thế, câu nói “người Công Giáo không làm chính trị” đối với họ đã trở thành sự biện minh cho thái độ vô cảm hay chủ trương không tham dự vào những vấn đề xã hội và đất nước. Một số quý vị lớn tuổi ở đây chắc đã từng trải qua thời kỳ Việt Minh vào những năm sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ở Bắc Việt, Đức Giám Mục Lê Hữu Từ, là một vị tiền nhiệm của Đức Giám Mục Nguyễn Năng hiện nay, đã có thời lập ra khu Bùi Chu - Phát Diệm tự trị với cả những đội vũ trang Tự vệ Công giáo, chống lại chính quyền Việt Minh do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Đối với ngài cũng như rất nhiều giám mục miền Bắc trong thời kỳ đó đã không ngần ngại dấn thân cho quê hương và có thể nói vượt qua cái ranh giới thông thường của đạo và đời, tôn giáo và chính trị. Hôm nay, tôi không có ý hoài niệm về một quá khứ mà nhiều người trong thế hệ cha anh rất tự hào về giáo hội Việt Nam; tôi càng không có ý cổ võ một con đường chống đối bạo động dù đối với chế độ vong bản phi nhân.


Tuy nhiên, khi lấy cuộc sống sung mãn làm mục đích, chúng ta không thể mặc nhiên để sự ác hoành hành khống chế xã hội. Sự ác này không những thể hiện nơi cá nhân hay đoàn thể. Tôi cho rằng sự ác lớn nhất đang hoành hành trên đất nước chúng ta hôm nay chính là tà quyền và hệ thống chính trị đưa con người vào chỗ bế tắc.

 Có nhiều người sẽ không đồng thuận với nhận xét và quan điểm ở trên của tôi. Họ dẫn chứng rằng: Việt Nam đã có ít nhiều tự do tôn giáo. Nhà thờ, dòng tu, chủng viện v.v... được xây cất tu bổ một cách rầm rộ. Giáo dân đi lễ không còn chỗ ngồi. Ơn gọi không còn chỗ chứa. Bây giờ, cái khó không phải là do chính phủ hay công cụ của họ như công an cảnh sát gây nên. Cái khó là do đời sống luân lý đạo đức suy đồi của người dân, đặc biệt là giới trẻ...

 Tôi không phủ nhận những thử thách đến từ sự mất hướng đi, lối sống buông thả và hưởng thụ vô trách nhiệm của thế hệ hôm nay, cũng như đã xảy ra cho thế hệ hôm qua. Nhưng tôi cho rằng những thử thách về đời sống luân lý vẫn ở mãi với chúng ta từ đời này qua đời khác. Cái khác là trong một xã hội bị cai trị bởi một tà quyền và hệ thống chính trị gian dối ác độc, những thử thách ấy mang một sắc thái tiêu cực và bi đát hơn.

Khi một chế độ không cho giới trẻ một tương lai, không tạo cho họ một niềm tự hào, không cho họ cơ hội phát huy tài năng; khi một chế độ chỉ cho họ tiến thân qua thẻ đảng, khi chỉ có ‘còn đảng mới còn ta’ thì làm sao tránh được sự tuyệt vọng, sự mất hướng đi và sự bất cần của giới trẻ.

 Hãy cứ hỏi những cô dâu đi lấy chồng Đài Loan, Nam Hàn, những người lao động hợp tác ở Mã Lai, ở Arab Saudi và thậm chí ở cả Phi Châu, những người di dân bất hợp pháp ở Đông Âu, những em bị bán làm nô lệ tình dục ở Thái Lan, những người dân oan bị cướp đất, các công nhân bị bóc lột ở các hãng xưởng, những người trẻ trong các ‘chat-room’ v.v...

 Có lần đi Macau, tôi gặp một số bạn trẻ Việt Nam lao động bất hợp pháp. Họ bị đối xử tàn tệ mà tòa đại sứ Việt Nam hoàn toàn không can thiệp. Tôi không nghĩ là trong các nước không cộng sản không có những vấn nạn xã hội của họ – ngay cả trên đất nước Hoa Kỳ này. Nhưng một điều không thể chối cãi được là trong nước ta hôm nay, nhiều những hiện tượng tôi đan cử trên là vô tiền khoáng hậu trong lịch sử oai hùng của nước ta và là những nỗi nhục quốc thể cho những ai mang dòng máu Việt. Những hiện tượng này là triệu chứng của một cơn bệnh trầm kha: một thể chế hoàn toàn băng hoại và dẫn cả dân tộc vào chỗ bế tắc.

 


Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI có nhắc nhở cho người Công Giáo là “Giáo Hội không làm chính trị nhưng cũng không đứng bên lề xã hội.” Lịch sử Việt Nam qua nhiều thời đại đã minh chứng được sự dấn thân của người tín hữu thuộc mọi thành phần giáo hội vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Thế nhưng trong những năm gần đây, sự ru ngủ lương tri của giáo hội đã trở thành một hiện tượng phổ biến nằm trong chính sách công cụ hóa tôn giáo của chính quyền cộng sản.

Các nhóm chữ như ‘tôn giáo và dân tộc,’ ‘tốt đời đẹp đạo,’ ‘giáo dân tốt công dân tốt,’ ‘kính Chúa yêu nước’ và ‘đồng hành cùng dân tộc’ đã trở thành những viên thuốc an thần để ru ngủ lương tri và vô hiệu hóa vai trò ngôn sứ của giáo hội. Khi “đồng chí” Lê Hồng Anh, thường trực Ban Bí Thư, đi thăm Đức Cha Bùi Tuần nhân dịp Giáng sinh 2011, “ông bày tỏ tin tưởng đồng bào có đạo tiếp tục phát huy truyền thống kính Chúa yêu nước” (nguyên văn của báo Sàigòn Giải Phóng).

Rồi sống sượng hơn nữa, “đồng chí” Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ Tướng, tại La Vang năm 2010 đã ban huấn từ cho cả các giám mục Việt Nam về việc mà ông gọi là “đồng hành cùng dân tộc.” Cái điều mà người Tây phương gọi là ‘elephant in the room’ tức là điều ai cũng nhận ra là đảng đã tự tôn mình ngang hàng với dân tộc thay vì là ‘đầy tớ của nhân dân’ như họ vẫn rêu rao. Bằng chiêu bài đồng hóa đảng với dân tộc họ biến lòng yêu nước thành yêu đảng, và chống đảng là chống lại dân tộc. Điều đáng buồn là liều thuốc an thần này đang làm ru ngủ và làm vô cảm lương tri của nhiều người Việt Nam, kể cả người tín hữu. Đồng hành cùng dân tộc không thể là đồng hành cùng chế độ, nhất là khi chế độ đó đang đưa dân tộc vào chỗ diệt vong.

 Quý vị thân mến,

 Trở lại câu hỏi là chúng ta có thể đến với Mẹ La Vang trong nỗ lực tìm kiếm một tương lai tươi sáng cho đất nước và giáo hội hay không, niềm xác tín của tôi là đây là bổn phận của người tín hữu. Như người Công Giáo Ba Lan, cũng như ở khắp mọi nơi, chúng ta người tín hữu Việt Nam cũng cùng Mẹ để hành trình tiến về sự sống sung mãn cho đất nước và cho dân tộc.

Ở trên, tôi đã chứng minh là đây là sự nhập thể hóa đức tin và là bổn phận Phúc Âm hóa môi trường xã hội của người môn đệ Chúa Giêsu. Bây giờ, tôi xin được hướng về chính Đức Trinh Nữ Maria như là một ‘mẫu người lữ hành trong đức tin’ và là một ‘đầy tớ can trường của công lý.’

 Có lẽ đối với nhiều người Công Giáo Việt Nam, họ ít khi nào dùng hai nhóm chữ này để diễn tả hay suy niệm về Đức Mẹ. Trong gần 20 năm ở trong nước, kể cả những năm ở tiểu chủng viện Phaolô Xuân Lộc, tôi chưa một lần nghe các cha giảng về Đức Mẹ dưới hai danh hiệu nói trên. Thế nhưng tôi cho rằng đây là một kho tàng về Thánh Mẫu học mà chúng ta cần khai phá, nhất là cho những tín hữu Việt Nam trong bối cảnh của đất nước chúng ta hôm nay.

Phúc Âm thánh Luca đã mô tả là khi Maria bước vào nhà mình, bà Elisabeth được đầy ơn Chúa Thánh Thần đã thốt lên: “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi... Phúc cho em là kẻ đã tin lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện” (Luca 1:43,45). Maria được đầy ơn phúc không những vì là người được những đặc ân Thiên Chúa ban tặng. Bà là một người đã tín thác tuyệt đối. Bà là mẫu người lữ hành trong đức tin vượt trội hơn mọi người lữ hành khác.

 Abraham đã tin vào lời Chúa hứa khi ông bỏ tất cả để tiến về vùng đất hứa. Ông đã tin dù chẳng được thấy bằng chứng của lời hứa ấy. Abraham chẳng hề nhìn thấy con đàn cháu đống và cũng chẳng hề được bước chân vào vùng đất đầy sữa và mật ong. Ông tin khi không còn gì để tin và hy vọng khi không còn gì để hy vọng. Maria cũng thế. Bà cũng tin khi không còn gì để tin và hy vọng khi không còn gì để hy vọng. Ít ra ông Abraham khi phải chịu thử thách là đem con đi sát tế, Chúa đã nhận lòng tin và cứu con ông khỏi chết. Còn lòng tin của Maria thì bị thúc đẩy đến đường cùng. Bà phải chứng kiến con một mình bị sát tế trên bàn thờ thập giá. Đức tin của bà được chứng minh một cách tuyệt đối.


 





Maria trên Núi Sọ đã trở thành một người lữ hành trọn hảo trong đức tin. Bà cũng là môn đệ trọn hảo vì đã bước theo con đường chân thiện mỹ của Đức Kitô cho đến cùng.

Còn Maria là ‘đầy tớ can trường của công lý’ như thế nào? Kinh Magnificat (Luca 1:46-55) cho chúng ta câu trả lời khi Maria ca ngợi Đấng đoái thương tới người nữ tì hèn mọn như Ngài đã luôn chúc phúc cho những kẻ khiêm nhường và đói nghèo nhưng luôn kính sợ Ngài. Những lời nói này đối với những người không hiểu lịch sử cứu độ thì có vẻ tổng quát và mơ hồ. Kẻ khiêm nhường và người nghèo đói theo truyền thống Kinh Thánh là những người trung tín với giao ước, bất chấp những thử thách. Họ không chỉ là những người mà nói theo tục ngữ Việt Nam là “ở hiền gặp lành”.

 Khi người Do Thái bị lưu đày hơn 60 năm ở Babylon, rất nhiều tín hữu mất niềm tin trong tâm trạng tuyệt vọng hoàn toàn. Họ mất quê hương, mất đền thánh Jerusalem, mất hòm bia, mất chính quyền, mất quân đội và mất tất cả. Họ bỏ giao ước vì nghĩ rằng chính Thiên Chúa đã bỏ họ. Chỉ có một thiểu số giữ vững niềm tin và tiếp tục duy trì giao ước. Trong Kinh Thánh họ được gọi là ‘Anawim’ mà có thể gọi nôm na là ‘tàn dư còn sống sót’ [danh từ này rất phổ thông trong những năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975; chính quyền cộng sản dùng để miệt thị những ai dính líu tới chế độ cũ.]

Chính từ những ‘tàn dư’ này hay hình ảnh ‘gốc chồi Jesse’ mà Thiên Chúa đã tái tạo một Do Thái mới sau khi họ trở về đất hứa. Họ là những người sống theo sự công chính của giao ước. Họ là những người trung tín với đường lối Thiên Chúa ngay cả khi lộ trình này tưởng như chỉ dẫn đến sự thất bại, tủi nhục và tuyệt vọng.

Maria là nữ tì hèn mọn theo bước chân của những ‘tàn dư’ trung tín. Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã viết là “Anawim không phải một giai cấp xã hội mà là một sự chọn lựa của kẻ công chính.” Họ chọn con đường công lý và sự thật mặc dù bị thiệt thòi và bắt bớ. Họ trung kiên theo giao ước dù bị kẻ có quyền bính ức hiếp. Như thế kẻ ‘tàn dư’ trung tín cũng là những ai sống tám mối phúc thật.


Maria đầy ơn phúc vì Ngài là người nghèo khó, người hiền lành, người có lòng thương xót, người khóc lóc và khao khát chân lý... Maria đầy ơn phúc vì Bà trung kiên bước theo con đường của người Tôi Tớ Đau Khổ của Thiên Chúa.

Đức Gioan Phaolô II kết luận là “Bài ngợi ca Magnificat đã nói lên vai trò của Mẹ trong cuộc chiến chống lại sự dữ và tà quyền.” Mẹ là người đồng hành và liên đới với tất cả những ai đứng về phía công lý và sự thật.

 Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay trắng
. (Lc 1:51-53)

Những lời này cho chúng ta thấy Thiên Chúa luôn đứng về phía ‘anawim’ của Ngài, tức là những người dù thiểu số và yếu hèn nhưng luôn kiên cường trong công lý và sự thật. Ngài sẽ chiến thắng trên những kẻ gian tà và phục hồi danh dự những ‘anawim’ của Ngài. Thiên Chúa đã thực hiện chiến thắng này nơi Đức Kitô, “phiến đá mà người thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường”. Ngài đã thực hiện nơi Maria nữ tì hèn mọn cũng như tất cả những ‘anawim’ trung tín của Ngài.

Quý vị thân mến,

Đức Mẹ La Vang đã đi vào tâm hồn của người Công Giáo Việt Nam và Ngài cũng đã đi vào lòng dân tộc chúng ta. Dù không phải như là người Ba Lan đã gắn bó với thánh địa Minh Sơn như là linh hồn của cả dân tộc, người Việt Công Giáo ở khắp mọi nơi hướng về Mẹ La Vang như là người đồng hành trong thăng trầm của lịch sử và là đấng phù hộ trong cơn thử thách. Lòng sùng kính Đức Mẹ không chỉ đưa chúng ta tới những hành động thuần túy tôn giáo và lễ nghi như đi hành hương, dâng hoa, rước kiệu, cung nghinh v.v...

 Với bổn phận ‘nhập thể hóa’ Tin Mừng và ‘Kitô hóa’ môi trường, lòng sùng kính Đức Mẹ cũng như lòng yêu mến Chúa thôi thúc chúng ta tìm cuộc sống sung mãn cho tha nhân. Chính vì thế, chúng ta không thể chỉ đến với Mẹ qua những hành động thuần túy tôn giáo mà không noi gương đấng là ‘anawim’ của Thiên Chúa. Maria là người lữ hành trong đức tin và là nữ tì trung tín của triều đại chính trực. Lòng sùng kính Mẹ thách thức chúng ta cũng phải làm đầy tớ và là chiến sĩ của công lý và sự thật trong cuộc chiến muôn thuở chống lại sự dữ và tà quyền.

Vào ngày 15 tháng 8 tới đây, theo như tin tức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam thì sẽ có nghi lễ đặt viên đá đầu tiên để xây Vương Cung Thánh Đường tại La Vang.








Đây là một biến cố quan trọng thể hiện lòng sùng kính Mẹ và là một biểu hiện đặc thù của đức tin Công Giáo Việt Nam. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta không dừng lại ở một hình thức bên ngoài và nhất là tạo nên một biến cố để trang điểm cho chế độ. Nếu Kitô giáo mà mất vai trò ngôn sứ thì nó bị thuần hóa và trở thành công cụ của chế độ. Lúc đó, chúng ta không còn là tiếng kêu trong hoang địa nữa mà sẽ là tiếng chũm chọe kêu inh ỏi (1Cor 13:1); lúc đó chúng ta sẽ như muối không còn mặn nữa mà chỉ còn chờ ném ra ngoài đường cho người ta đạp lên nó (Mat 5:13).

Nói tóm lại, lòng sùng kính Đức Mẹ La Vang không thể tách lìa với bổn phận xây dựng một xã hội theo giá trị của Phúc Âm. Sứ mạng của Đức Kitô là đem sự sống sung mãn cho con người. Người Kitô hữu chúng ta không thể chỉ dừng lại trong những hành động tôn giáo mà không kiếm tìm sự sung mãn của đồng loại và nhất là của đồng bào. Như Mẹ Maria là nữ tì trung tín, xin cho mọi người Công Giáo Việt Nam trong và ngoài nước cũng trở nên đầy tớ của Tin Mừng, của công lý, của sự thật trong cuộc chiến chống lại sự dữ và tà quyền. Tôi xin phỏng theo lời của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolo II để kết thúc buổi chia sẻ hôm nay:

Xin Mẹ La Vang toàn thắng nơi quê hương chúng ta.
Xin Mẹ toàn thắng ngay cả qua những đau khổ
          và thất bại của chúng ta.
Xin Mẹ cho chúng ta đừng nản lòng tranh đấu cho công lý
       và sự thật,
cho tự do và nhân phẩm của con người.
Xin Mẹ đem lại chiến thắng của ánh sáng trên tối tăm,
       sự lành trên sự dữ, chí nhân trên cường bạo
       và đại nghĩa trên hung tàn.

Cùng Mẹ La Vang, chúng ta hãy tiến bước về tương lai tươi sáng cho dân tộc và cho đất nước.

+Vinh sơn Nguyễn văn Long OFMConv,
Giám mục Hiệu tòa Tala và

Giám mục Phụ tá TGP Melbourne, Australia.

 

TÒA TỔNG GIÁM MỤC VINH LÊN ÁN
HÀNH ÐỘNG ÐÀN ÁP TÔN GIÁO TẠI NGHỆ AN


HÀ NỘI.-Vừa bị khủng bố, đánh đập, vừa bị vu khống, phân biệt đối xử… đó là những gì linh mục và các giáo dân của Giáo điểm Con Cuông, thuộc xã Yên Khê, huyện Con Cuông phải hứng chịu trong nhiều ngày qua mà đỉnh điểm là ngày Chủ nhật 1 tháng 7 năm 2012. Tòa Giám mục Vinh đã mạnh mẽ lên án hành động đàn áp tôn giáo này của nhà cầm quyền địa phương.

Theo thông báo của Tòa Giám mục Vinh công bố ngày 4 tháng 7, trong những ngày qua nhà cầm quyền đã liên tục cho người đe doạ, ngăn cản khủng bố linh mục và giáo dân và theo Tòa Giám mục Vinh, sự kiện xảy ra ra ngày Chủ nhật 1 tháng 7 là cao trào và là kết quả những mưu tính lâu dài, được dàn dựng công phu kỹ lưỡng của các thế lực đen tối.



Theo tường thuật của Giáo phận Vinh Online ngày 3 tháng 7 thì trong ngày Chủ nhật hôm đó, công an, dân phòng và một nhóm côn đồ đã kéo đến hành hung các nữ tu, giáo dân, thậm chí đánh cả linh mục Nguyễn Ðình Thục, khi vị linh mục này chuẩn bị cử hành thánh lễ. Nhiều giáo đã bị đánh trọng thương, trong đó có một phụ nữ bị đánh vào đầu gây chấn thương sọ não phải đưa đi Hà Nội cấp cứu.

Vẫn theo bản thông cáo trầm trọng nhất là đám người nói trên còn đập nát cả tượng Ðức Mẹ. Nhà nguyện bị chiếm giữ, linh mục Nguyễn Ðình Thục đã phải làm lễ ở ngoài sân, giáo dân thì hoảng sợ vì thấy cảnh sát cơ động 113 và một lực lượng quân đội với súng ống sẳn sàng chĩa vào nhà nguyện.

Ðể thể hiện sự phản đối, Tòa giám mục Vinh ngày 4 tháng 7 đã lêu gọi mọi linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận thắp nến cầu nguyện cho giáo dân tại Con Cuông, đồng thời kêu gọi các linh mục treo biểu ngữ tại giáo xứ với nội dung Phản đối hành vi phạm thánh và đánh đập linh mục, giáo dân của nhà cầm quyền Con Cuông. Cũng trong ngày 4 tháng 7, Tòa Giám mục Vinh đã gởi một công văn đến nhà cầm quyền tỉnh Nghệ An, để lên án mạnh mẽ vụ đàn áp linh mục và giáo dân tại Giáo điểm Con Cuông. Bức công văn khẳng định việc linh mục và giáo dân dâng lễ cầu nguyện tại xã Yên Khê, huyện Con Cuông là việc chính đáng, phù hợp với luật pháp Việt Nam và công ước quốc tế.



Tuy nhiên, tờ Nghệ An điện tử đến hôm qua vẫn tiếp tục đăng bài khẳng định là chính các linh mục và giáo dân Giáo xứ Quan Lãng đã kéo đến gây rối, hành hung người dân xã Yên Khê và cho rằng các linh mục đã truyền đạo trái phép, vì đã làm lễ tại một nhà riêng mà chưa có sự đồng ý của nhà cầm quyền điạ phương.(SBTN)


 "Phản đối chính quyền Con Cuông Nghệ An:
  đánh đập, khủng bố linh mục giáo dân" !

-- Người Công giáo ở hầu khắp các giáo xứ miền Bắc “bước qua nỗi sợ hãi để can đảm, hiên ngang đòi công lý và sự thật”. Cái lợi ích tinh thần to nhất là như thế, là vượt qua nỗi sợ!.

--Việc giáo Dân miền Bắc làm vì lợi ích Chung của các Tôn Giáo, của cả Giáo Hội, cả Dân Tộc.

-- Giáo dân ở miền Bắc hầu hết các giáo xứ, không riêng gì giáo dân Hà Nội, giáo dân đạo đức hơn rất nhiều, giáo dân có bản lãnh hơn rất nhiều và giáo dân cầu nguyện, xưng tội đông hơn trước rất nhiều.

-- Cái lòng yêu nước là một tình cảm thiêng liêng tốt đẹp tự nhiên của con người cũng không được phép bày tỏ. Hễ ai bày tỏ lòng yêu nước thì bị chụp mũ là chống nhà cầm quyền và bị bắt bớ, thủ tiêu, tù đày.

-- Còn đám cán bộ nhà nước họ vẫn nắm quyền lãnh đạo, vẫn ăn tiền từ trên rót xuống, và tiền từ nước ngoài đổ vào. Còn nạn nhân chết thì thôi, họ không cần!

-- Xét về mặt pháp lý quốc tế thì chính phủ hay Việt Nam Cộng Hòa là có chính nghĩa hơn. Lá cờ đỏ sao vàng mà cháu là công dân, cháu thấy nhục, nhục lắm! Vì nó là cờ bán nước, vì bán Trường Sa, bán Hoàng Sa, bán Thác Bản Dốc...

-- Nhà thờ Kỳ Đồng và Thái Hà, cầu nguyện cho các nạn nhân của họa ngoại xâm, cho các nạn nhân của công lý hòa bình, cho các ngư dân bị Trung quốc bắt, giết. Thì ở các màn ảnh rộng trong ngoài nhà thờ Kỳ Đồng chiếu cảnh Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đánh trả quân Trung quốc, chiếu cảnh cờ Vàng của Việt Nam Cộng Hòa bay phất phới,

-- Tôi nghe các ông đe bắt tôi. Xin mời các ông cứ việc bắt tôi. Tôi rất hân hạnh nếu được bắt chung với giáo dân, và tôi nói cho các ông điều này nữa “Quân gian ác chết vì tội ác, kẻ giết người lành, án phạt vào thân”. Kinh Thánh nói như vậy và tôi tin như vậy.

-- “Bản chất của chế độ Cộng sản vô thần nó là cơ chế tội ác đa quốc gia, xuyên quốc gia, nó lnoà cơ chế tội ác toàn cầu, càng ngày nó càng ác, nó ác có hệ thống cho nên nó thấy ai làm điều thiện là nó lồng lộn lên nó chịu không nổi, nó chỉ muốn giết chết thôi!”  

-- “Tôi nói thật với các ông nhá, báo, đài của các ông toàn xuyên tạc, chụp mũ, nói láo, mà nói láo một cách trắng trợn, trơ trẽn, không biết liêm sỉ là gì! Chụp cho tôi đủ thứ mũ. Tôi không xứng đáng để đội những cái mũ bẩn thỉu ấy của các ông.

-- Mà các ông đe bắt tôi à, tất cả chúng tôi đều làm việc tốt hết, tốt cho dân tộc, tốt cho đất nước, tốt cho con người.
Mà vì cái tốt ấy mà chúng tôi phải chịu bắt bớ, tù đày, chết chóc, Không sao!

-- Tôi nói cho các ông biết là tôn giáo phát triển theo qui luật rất mầu nhiệm. Càng bị đánh đập, càng bị bách hại lại càng phát triển. Càng chết lại càng sống! Cho nên tôi có đi tù cũng không sao hết, tôi có chết cũng không sao!

-- bây giờ cứ việc đúng tôi làm thôi. Vì tôi là nạn nhân, tôi thấy bao nhiêu người khác là nạn nhân, cho nên “đồng thân, đồng phận”, chúng tôi giúp nhau, thế thôi! Chết cũng chơi! 

-- Thế hệ trước cha anh chúng tôi đã chết cho chúng tôi được sống, thì bây giờ tôi phải chết cho tương lai con em chúng tôi được sống

---  Linh Mục Phê Rô Nguyễn Văn Khải,
     nguyên là phát ngôn nhân Giáo Xứ Thái Hà)

 


Chết cũng chơi!

(Repost)

Bài nói chuyện
của Linh mục Phêrô Nguyễn văn Khải
Dòng Chúa Cứu Thế, tại Nam California 21.8.2011

Thanh Phong/Viễn Đông

SANTA ANA. Hơn 600 đồng hương, không phân biệt tôn giáo đã đến Trung Tâm Công Giáo Việt Nam tại Santa Ana vào chiều Chủ Nhật 21.8.2011 để nghe Linh Mục Phêro Nguyễn Văn Khải, Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà, Hà Nội nói chuyện về hiện tình tôn giáo tại Việt Nam, đặc biệt tại Thái Hà thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội. Buổi nói chuyện của LM. Khải do Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại tổ chức.

Theo chương trình, buổi nói chuyện của Linh mục Nguyễn Văn Khải bắt đầu lúc 2 giờ, nhưng từ lúc 1 giờ, rất đông đồng hương đã đến, và những người đến muộn không tìm được chỗ đậu xe. Lúc gần giờ khai mạc, hội trường phải mở thêm một gian nữa để đủ chỗ cho mọi người tham dự.

Đức Cha Đa Minh Mai Thanh Lương, linh mục Quý, giáo sư Nguyễn Thành Long, nguyên Hội Trưởng Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Trung Ương, ông Nguyễn Văn Liêm, Chủ tịch Cộng Đồng CGVN, GP. Orange, Tiến sĩ Phạm Kim Long, Ủy Viên Giáo Dục Quận Cam, Luật sư Đoàn Thanh Liêm, Ban Điều Hợp và các thành viên Phong Trào Giáo Dân, các cơ quan truyền thông Việt ngữ , Ban tù ca Xuân Điềm và đồng hương không phân biệt tôn giáo đã đồng loạt đứng lên chào đón linh mục Phêro Nguyễn Văn Khải khi ngài bước vào hội trường. Sau đó chăm chú nghe linh mục nói chuyện và biểu lộ sự thích thú bằng những tràng pháo tay liên tục.

Một trong những người tham dự , bà Nguyễn thị Hồng nói với chúng tôi: “ Tôi ở đây đã lâu, đi tham dự sinh hoạt cũng đã nhiều nhưng chưa bao giờ thấy có bài diễn văn, bài giảng, bài phát biểu nào hay hơn, lý thú hơn bài nói chuyện của ông cha này”.

Sau nghi thức chào quốc kỳ VNCH và Hoa Kỳ cũng như giây phút thinh lặng, mặc niệm các chiến sĩ Quân lực VNCH đã hy sinh vì tổ quốc, đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt thoát Cộng sản tìm tự do. Linh mục Nguyễn Văn Khải đã dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa. Sau đó, vị đại diện Phong Trào Giáo Dân lên giới thiệu linh mục Nguyễn Văn Khải với mọi người.

Trong bộ áo Dòng quen thuộc của các cha Dòng Chúa Cứu Thế, với vóc dáng nhỏ nhắn nhưng lanh lẹ, vầng trán rộng, cặp mắt sáng quắc và nụ cười thật tươi luôn nở trên môi, linh mục bước lên đứng trước mặt mọi người và nói bằng giọng khôi hài:

“Đúng như lời ông MC vừa nói, cho đến bây giờ con vẫn là nông dân, con làm nông nghiệp, con ở nông thôn. Phát âm sai như người Hà Nội thì con là “lông” dân, con làm “lông” nghiệp, con ở “lông” thôn”.

Con có ba cái “lông” đấy ạ, hay là ba cái “nông” ấy cho nên con vừa nông, vừa nhẹ. Cả nhà đây, thiên hạ nói con thế nào thì con không biết, nhưng con là nông dân nên con ăn nói như nông dân, thấy sao nói vậy. Và con cũng không phải là nhà tư tưởng hay nhà tranh đấu gì, không phải nhà tư tưởng sâu xa, cũng chẳng phải là nhà tranh đấu mạnh mẽ.

Con là bạn của người nghèo! Cũng như thể bao nhiêu anh em tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế khác, chúng con là bạn của người nghèo, và chúng con theo chân người cha đi trước thì bây giờ chúng con là những người trẻ, cũng lại theo gót cha như vậy. Và như thể cha Vũ Ngọc Bích, là em bà nội con, là linh mục duy nhất của Dòng Chúa Cứu Thế sống sót ở miền Bắc sau năm 1954, ngài nhận con vào tu và ngài thường bảo đại khái rằng:

Tôi đã nhận chiếc cày từ tay cha tôi,
tôi hân hoan đi vào mảnh vườn thế giới, |
nên dù sỏi đá cằn khô
thì anh em ta cũng cứ phải vui vẻ
nai lưng ra mà cày”.

Thế thì hôm nay con đến đây, con xin thưa với cả nhà là con nói trong tư cách là người con, người cháu, người em. Cả nhà đây toàn là những bậc đáng kính, con nhìn xuống thấy toàn các vị đáng tuổi ông, tuổi bố mẹ, cô dì, chú, bác hết cả. may lắm mới có một vài người cùng tuổi với thế hệ con, cho nên những điều con nói ở đây chỉ như những người con, người cháu trình bày trước các bậc tiền bối về suy nghĩ cũng như về công việc của đồng bào mình ở Việt Nam, cũng như những công việc của chúng con đây thôi, chứ không có gì là lớn lao, trọng đại.

Lúc nãy con đến cửa đây, con thấy hai bên có hai bảng kẻ vẽ các khẩu hiệu trông rất khí thế. Con thấy mấy xe Jeep cắm cờ, trông rất là “hoành tráng”, cứ như là đội quân “sắp hàng vào trận”. Và con thấy cái cảnh này bây giờ được đặt ở Hà Nội mới phải. Con thấy ở Hà Nội chống Tàu Cộng đấy nhưng lúc này không có khí thế, không có xe, có cờ, có khẩu hiệu hoành tráng như vậy. Bởi vì Hà Nội không có không khí tự do như ở đây và bởi nhiều lẽ khác không tiện nói.

Nhưng không phải vì như thế mà người dân Hà Nội, nhất là người nghèo, nhất là các tín hữu Công Giáo Hà Nội, lòng yêu nước lại kém đồng bào mình ở đây. Không! Con nói chuyện hôm kia ở báo Người Việt, con đến nơi thấy có bốn năm cụ già với 4 năm cây cờ Cộng Hòa rất đẹp, thấy các khẩu hiệu kẻ vẽ rằng: “Đả đảo những người xỉ nhục cờ Cộng Hòa” (cờ vàng). Rồi một khẩu hiệu khác là: “Linh mục Nguyễn Văn Khải nên ở Việt Nam. Ủng hộ LM. Nguyễn Văn Lý”.

Con thấy vui. Con nói với thính giả hôm ấy rằng, nếu con có thời gian, con sẽ ra nói chuyện với mấy người ấy, và nếu con có quyền, con sẽ ra mời mấy cụ ông, cụ bà vào trong này chúng ta cùng trò chuyện với nhau, vì con thấy rằng cái ý hướng tốt đẹp của các cụ ấy cũng “giống cháu”.

Giống cái thứ nhất là cháu cũng thấy lá cờ vàng này là đáng kính, đáng yêu. Chưa biết nó thế nào, nhưng cháu nghĩ là thời gian càng trôi đi thì lá cờ vàng này càng biểu tượng cho lòng yêu nước của người Việt. Bởi vì cháu thấy chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia, là thành viên của Liên Hiệp Quốc, được thế giới công nhận, đang khi ấy, lúc trước 1975, cháu là công dân của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, là quốc gia không được Liên Hiệp Quốc công nhận.

Xét về mặt pháp lý quốc tế thì chính phủ hay Việt Nam Cộng Hòa là có chính nghĩa hơn. Lá cờ đỏ sao vàng mà cháu là công dân, cháu thấy nhục, nhục lắm! Vì nó là cờ bán nước, vì bán Trường Sa, bán Hoàng Sa, bán Thác Bản Dốc, bán Hữu Nghị Quan, bán những vùng mà cháu đã đi đến tận nơi, cháu đã thấy đất bị lấn thế nào và người Việt mình lại nằm trong phần đất bị Trung quốc chiếm mất.

Cháu đến tận nơi, và cháu thấy rằng, bây giờ thời gian trôi đi, Trung quốc càng ngày càng thể hiện cái sự thống trị của mình trên đất nước Việt Nam một cách trắng trợn hơn. Đang khi ấy, cái lòng yêu nước là một tình cảm thiêng liêng tốt đẹp tự nhiên của con người cũng không được phép bày tỏ. Hễ ai bày tỏ lòng yêu nước thì bị chụp mũ là chống nhà cầm quyền và bị bắt bớ, thủ tiêu, tù đày.

Cho nên, thấy vậy, cháu mới thấy lá cờ Vàng này mới là biểu tượng cho lòng yêu nước, cháu thấy sao cháu nói vậy. Cháu thấy mình nên tự hào về điều đấy. Bởi vậy cho nên cách đây gần hai tháng, lần đầu tiên ở nhà thờ Kỳ Đồng và Thái Hà, cầu nguyện cho các nạn nhân của họa ngoại xâm, cho các nạn nhân của công lý hòa bình, cho các ngư dân bị Trung quốc bắt, giết thì ở các màn ảnh rộng trong ngoài nhà thờ Kỳ Đồng chiếu cảnh Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đánh trả quân Trung quốc, chiếu cảnh cờ Vàng của Việt Nam Cộng Hòa bay phất phới, và cháu tin rằng nhiều người trẻ bây giờ hay tới nhà thờ thì hiếm hoi được trông thấy cờ Cộng Hòa.

Và như cháu đã nói hôm trước, cháu trông vào đây (Cờ Vàng) một cái thấy là một dải non song gấm vóc màu vàng. Ba miền Bắc, Trung, Nam thống nhất trên một dải đất, rất ý nghĩa. Trông vào lá cờ đấy thấy cái gì đó sang trọng, màu vàng là màu sang trọng, biểu hiện cho vương quyền, là màu của nhà vua (không biết cháu có nhớ đúng không)?

Đại khái vậy. Nhưng cái đề tài chính hôm nay, TV có loan tin, báo có viết, đài có nói rồi nên cháu không thể nói khác được. Cháu nói chuyện đầu tiên hôm nay là vấn đề “Vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam”.

Rất buồn, ở trong nước cháu cũng nghe, ra ngoài nước cháu cũng nghe, có rất nhiều người nói: Việt Nam bây giờ có tự do tôn giáo rồi, người Việt Nam nói, người ngoại quốc nói. Bằng chứng là bây giờ đi nhà thờ tự do, bằng chứng là bây giờ xây dựng nhà thờ, thánh thất tự do, bằng chứng là người đến nhà thờ đầy tất cả, và bằng chứng là các linh mục, tu sĩ, các hòa thượng, thượng tọa đi ra vào nước tự nhiên như không vậy.

Họ lấy bằng cớ đó để khẳng định Việt Nam có tự do tôn giáo, nhưng theo cháu là người sống ở Việt Nam thì cháu thấy, đấy là dối trá. Việt Nam thực sự không có tự do tôn giáo, mà trên thực tế tự do tôn giáo đã và đang bị vi phạm nghiêm trọng.

Nói là tự do đi lễ, đi nhà thờ? Thưa, không! Trên giấy tờ thôi. Thực tế chỉ ở vùng Công giáo đông người và các thành thị, nhưng ngay cả ở thành thị như Thái Hà, thì giáo dân đến Thái Hà đi lễ, đi hành hương luôn luôn bị chặn. Cho đến bây giờ xe vẫn luôn bị chặn như thường. Không phải chỉ chặn xe giáo dân, xe linh mục cũng bị chặn, Giám mục cũng bị chặn.

Đức Cha Nguyễn Văn Sang về Thái Hà hành hương bị công an chặn ngay ở lối vào thành phố ngon lành vậy! Cho nên đâu có tự do. Còn năm ngoái, vụ Đồng Chiêm xẩy ra, bao nhiêu ngàn người vào hành hương đều bị nhà nước chặn tất, mà chặn một cách bẩn thỉu, làm khổ cả dân lành, tức là đem xe đất, đá đền đổ ngay giữa đường rồi chận đầu, chận đuôi khiến người trong làng, xe pháo không đi lại được, đổ cả hai đầu. Chưa kể chỗ đó có cây cầu, công an chận đấy. Không phải một chốt đó mà đứng đầy hai bên đường, hễ ai đi vào là tấn công. Đấy! đâu có tự do đâu!

Còn cháu đây, cháu đi tới các vùng ở Tây Nguyên cũng như ở Sơn La, Điện Biên, cháu biết, nhiều người đi lễ họ không cho ra khỏi làng. Nhiều người đi đến nhà dân tụ họp cầu nguyện là họ bắt phạt. Còn linh mục, mục sư đến đó là bắt ngay. Cho nên nhiều mục sư nói chuyện với cháu là toàn phải lợi dụng ngày lễ, Tết, cán bộ “mải mê ăn nhậu” thì mới vào được.

Thứ hai là vào lúc đêm tối. Tối vào, sáng ra, mà vào không báo trước. Cháu có bằng chứng chứ không phải cháu nói không. Như thế có tự do không? Còn nữa, là bảo tự do xây nhà thờ? Không! Nhà thờ chỗ cháu cách đây 10 năm, xin phép sửa lại, nâng cao lên một tí không cho nâng.

Ở Tổng Giáo phận Hà Nội có nhà thờ giáo xứ Bảo Long do cha Phạm Minh Triệu trông coi. Ngài về đó hai năm nay, ngài bảo: “Cha Khải ơi, con về đây còn có cái nhà thờ này xin phép 15 năm rồi mà không cho xây. Bây giờ không cần phép nữa, ta cứ xây thôi, chết thì chết, thế là xây. Họ đâu có cho đâu. Còn bây giờ bảo xây dựng một tu viện mới thì càng khó, không có tự do đâu.

Một Thánh Lễ do cha Khải cử hành ở miền quê,
nơi mà giáo đường là nhà của giáo dân

1.

Cái thứ nhất, cháu thấy nhà cầm quyền vi phạm tự do tôn giáo một cách nghiêm trọng. Đó là nhà cầm quyền thò cái bàn tay lông lá của mình can thiệp vào những sinh hoạt thuần túy tôn giáo.

Cha bạn cháu là cha coi giáo xứ Cẩm Sơn ở Phủ Lý, Hà Nam, lễ Giáng Sinh vừa rồi, ngài gọi điện thoại cho cháu bảo: “Bác Khải ơi, công an Huyện, công an Tỉnh cứ liên tục vào đây kêu em đưa chương trình thánh lễ và chương trình dịp lễ Giáng Sinh để cho họ duyệt! Em bảo: “Mấy cái bố này vớ vẩn, các bố không có đạo, tại sao đòi duyệt chương trình lễ của tôi?

Đấy. Họ thò cái bàn tay lông lá rồi can thiệp vào sinh hoạt thuần túy tôn giáo ở cái mức tinh vi nhất làm cho các tôn giáo bị tha hóa, đó là can thiệp vào việc đào tạo, việc phong chức, phong phẩm trong các tôn giáo. Không có phép nhà nước không được vào chủng viện. Không có phép nhà nước không được truyền chức. Không có phép nhà nước không được thuyên chuyển từ xứ nọ qua xứ kia.

Không có phép nhà nước không được nhận chức Giám Mục. Tòa Thánh muốn bổ nhiệm ai làm Giám Mục, thì trước đó phải được chính phủ đồng ý đã. Vậy là, thực tế ông nhà nước nắm cả quyền bổ nhiệm, phong chức Giám Mục của mình rồi. Đấy, Công Giáo đang bị như vậy. Cho nên Đức Cha Nguyễn Thái Hợp nói: “Đã đến lúc phải xem lại tiến trình bổ nhiệm giám mục ở Việt Nam”. Cháu kể sơ như thế, không có thời gian nói dài, cho thấy không có tự do tôn giáo tại Việt Nam.








2.
Điểm thứ hai cháu thấy không có tự do và bình đẳng về phương diện xã hội, đối với các tôn giáo và đối với tín đồ của các tôn giáo.

Không bình đẳng về xã hội. Ví dụ người Tin Lành, người Công giáo về mặt xã hội, là bị phân biệt đối xử rất rõ, bị coi là công dân hạng hai. Phật giáo Hòa Hảo cũng thế thôi!

Bắt đầu vào năm học, bao giờ cũng có thủ tục khai báo là thuộc tôn giáo nào để nhà trường cũng như các cơ quan, đoàn thể có chính sách dò xét và kềm chế người Công giáo, Tin Lành. Dù có giỏi thế nào đi chăng nữa, dù có đạo đức thế nào chăng nữa vẫn bị đối xử phân biệt.

Mặt khác, ở mỗi giáo xứ, Dòng Tu, tòa Tổng Giám mục đều có con dấu, nhưng các cơ quan, đoàn thể nhà nước không công nhận. Ví dụ cháu ở Hà Nội, cháu không thể đọc sách ở bất cứ Thư viện nào, không nhận được tiền gửi qua Bưu điện, vì sao vậy? Thủ tục nhận tiền của Bưu điện là có Chứng Minh Nhân Dân, có hộ khẩu lại có ông Chủ tịch Phường chứng nhận vào cái giấy của Bưu Điện gửi kèm là đương sự đang ở địa chỉ này rõ ràng. Thế mà ở Saigon trang mạng của hội đồng giám mục Việt Nam gửi cho cháu mấy trăm ngàn tiền nhuận bút .

Cháu cầm giấy báo ra phường xin chứng nhận, họ nói ông là tu chui, ở chui, không có hộ khẩu, chúng tôi đâu có biết ông đâu mà chứng nhận? cho nên không lấy được. Rồi khi đọc sách ở Thư viện, vào Thư viện xin làm thẻ đọc sách, thì phải có giấy giới thiệu của cơ quan chủ quản, mà cơ quan chủ quản của cháu là Dòng Chúa Cứu Thế mang giấy của Bề Trên ký cho cháu ra, thấy cái dấu của nhà đạo, có thánh giá. Không nhận! Xin thi bằng lái xe cũng thế. Thế là khỏi đọc sách, khỏi thi bằng lái xe, khỏi làm gì hết!

Họ đòi giấy tờ của cơ quan chủ quản, đến khi đưa ra họ không nhận thì biết làm gì bây giờ? Có người hỏi: Tại sao cha Khải lại “làm” như thế? Cháu nói thẳng với chính quyền: “Tôi nói thật với các ông, tôi không sợ! Tôi chẳng có gì để mất hết cả!

Cháu nói nhiều lần với công an Hà Nội: “Tôi đây, đi tu hai mươi mấy năm nay, xin hộ khẩu các ông không cho nhập, tôi muốn vào tu viện, nhà nước cũng không cho. Tôi muốn ra khỏi Dòng Tu cũng không được, vì bây giờ tôi đã khấn trọn đời bền đỗ trong Dòng rồi. Vào không được mà ra cũng không xong! Lên cũng không được, không lên làm Giám Mục được! Vì tôi tu chui, chịu chức chui mà lại là tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế. Tôi xuống cũng không được, vì tôi đã là giáo sĩ rồi và mãi mãi là giáo sĩ! Không xuống làm dân thường được nữa!

Đấy, lên không lên được, xuống không xuống được, ra không ra được, vào không vào được, cứ lơ lửng giữa Giời thì còn gì để mất? Cho nên bây giờ cứ việc đúng tôi làm thôi. Vì tôi là nạn nhân, tôi thấy bao nhiêu người khác là nạn nhân, cho nên “đồng thân, đồng phận”, chúng tôi giúp nhau, thế thôi! Chết cũng chơi!

Còn nhà cầm quyền cứ nhắn tin, nhắn vào điện thoại di động cháu là đe bắt, rồi nhắn tin qua các luật sư và cán bộ để nói lại cho cháu là sắp bắt ông đến nơi rồi. Cháu nói thẳng với công an thành phố Hà Nội, chính quyền Hà Nội:



“Tôi nói thật với các ông nhá, báo, đài của các ông toàn xuyên tạc, chụp mũ, nói láo, mà nói láo một cách trắng trợn, trơ trẽn, không biết liêm sỉ là gì! Chụp cho tôi đủ thứ mũ. Tôi không xứng đáng để đội những cái mũ bẩn thỉu ấy của các ông. Mà các ông đe bắt tôi à, Cháu nói, tất cả chúng tôi đều làm việc tốt hết, tốt cho dân tộc, tốt cho đất nước, tốt cho con người.
Mà vì cái tốt ấy mà chúng tôi phải chịu bắt bớ, tù đày, chết chóc, Không sao!

Các ông tưởng không có chúng tôi đây, nhà thờ Thái Hà chết? Không! Ngày xưa lúc các ông còn đang mạnh ở thập niên 1950-1980, các ông tìm cách bóp nát Thái Hà thế nào! Mấy Thầy ở Thái Hà chết, mấy cha ở Thái Hà bị tù, bao nhiêu dân Thái Hà bị tù, chỉ sống sót một linh mục già yếu, mắt mù, thế mà các ông thấy, bây giờ giáo xứ Thái Hà chúng tôi vẫn sống, và sống khỏe nhất thành phố này, nếu không muốn nói là khỏe nhất nước này.

Rồi các ông xem, tôi nói cho các ông biết là tôn giáo phát triển theo qui luật rất mầu nhiệm. Càng bị đánh đập, càng bị bách hại lại càng phát triển. Càng chết lại càng sống, cho nên tôi có đi tù cũng không sao hết, tôi có chết cũng không sao. Thế hệ trước cha anh chúng tôi đã chết cho chúng tôi được sống, thì bây giờ tôi phải chết cho tương lai con em chúng tôi được sống.

Cháu nói thẳng với họ thế này, tôi nghe các ông đe bắt tôi. Xin mời các ông cứ việc bắt tôi. Tôi rất hân hạnh nếu được bắt chung với giáo dân, và tôi nói cho các ông điều này nữa “Quân gian ác chết vì tội ác, kẻ giết người lành, án phạt vào thân”. Kinh Thánh nói như vậy và tôi tin như vậy. (hình như là ngày 14.9.2008, cháu nói một lần nữa như thế rồi là các Thầy đi cùng có ghi âm và có đưa lên mạng cái phần này).


Cha Khải trong một buổi
đi cứu bà con bị lụt tại Hà Nội.


Các cha nhà cháu không sợ chết đâu! Các cha trẻ hơn cháu nhiều, mới chịu chức linh mục, có người trẻ hơn cháu cả chục tuổi ở Thái Hà, thiên hạ đe bắt các cha Thái Hà và trừng trị trong đó có cháu, thế là các anh em trẻ bảo: “Anh Khải ơi, xin anh đừng có xuống sân gặp giáo dân, xin anh đừng ra nhà thờ làm lễ, xin anh ở trên phòng làm lễ nơi nhà nguyện để dân không thấy họ mới thương, họ mới bức xúc, còn chuyện còn lại để chúng em!

Thế là mấy cha trẻ đó ra ghi một tờ giấy để trên bàn thờ, cha nào ra làm lễ cũng đọc: “Thưa cộng đoàn, mấy hôm nay đài, báo, TV nhà nước lại bắt đầu tấn công Thái Hà, đài, báo, TV đang dọn đường để bắt các cha, và họ đang nhắm vào cha Khải. Thế thì thưa cộng đoàn, chúng ta cầu nguyện để làm sao cho nhà nước sớm đến bắt cha Khải để chúng ta xuống đường ra tòa án cùng cha Khải;


Chúng ta cầu nguyện để cha Khải sớm vào tù, để chúng ta có dịp hành hương vào nhà tù thăm cha Khải. Xin cộng đoàn cầu nguyện cho cha Khải bị chết trong tù để thành tử đạo, để Đền Thánh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Thái Hà trở thành Đền Thánh Tử Đạo nữa cho thêm đông vui”.


Cha nào ra cũng kêu gọi đại khái như thế, thế là giáo dân bừng bừng khí thế, bức xúc như cháy nhà đến nơi. Thế là thôi, đài, báo, TV tự nhiên mấy hôm sau là tắt cả! Cái phép ấy người miền Bắc chúng cháu gọi là “Gậy ông đập lưng ông” hay còn gọi là “Lấy mỡ nó rán nó”.

3.

Đấy, cháu nói người Công giáo bị phân biệt đối xử
về mặt xã hội. ( Thứ ba) Người Công giáo còn bị
phân biệt đối xử về lãnh vực chính trị.

Con người có quyền chính trị, có quyền tham gia các hội đoàn, nắm các chức vụ trong guồng máy hành chính của chính quyền, trong guồng máy hành pháp, tư pháp và lập pháp. Nhưng không bao giờ người Công giáo được tham gia vào guồng máy hành pháp hay tư pháp của chính quyền cả. Còn lập pháp ở Quốc hội thì có mấy linh mục, nhưng đấy chỉ là “bù nhìn”, chỉ “làm cảnh” cho nó đẹp thôi.

Người Công giáo, người Tin Lành bây giờ tổng cộng hơn chục triệu ở VN, vậy mà cháu theo dõi, không thấy một người Công giáo, Tin Lành nào được làm Thứ Trưởng, Tổng Cục Trưởng, được làm Tướng, làm Tá. Không một người Công giáo nào được làm đến chức Quận Trưởng, Huyện Trưởng, Không! Chức cao nhất mà người Công giáo, người Tin Lành có thể nắm đấy là chức Chủ Tịch Xã, hay gọi nôm na là Trưởng Làng.

Cháu giảng ở nhà thờ Thái Hà, cháu bảo: Đấy, xem nhà nước kia kìa, loa chõ vào nhà thờ suốt ngày nói tự do tôn giáo nhưng chúng ta xem, ở cái đất nước này, dân tộc thiểu số vùng cao học được bao nhiêu, như Nông Đức Mạnh kia mà còn làm Tổng Bí Thư. Dân tộc thiểu số mà làm Tổng Bí Thư, đang khi ấy người Công giáo hàng triệu người bao nhiêu đời có văn hóa thế mà không bao giờ được nắm một chức vụ quan trọng nào, làm sao mà bảo có tự do tôn giáo được?

4.

Điều thứ tư là nhà cầm quyền đã vi phạm tự do tôn giáo ở chỗ là tín đồ các tôn giáo bị phân biệt đối xử trong lãnh vực kinh tế.

Cụ thể là người Mỹ vào VN mua đất làm nhà máy, xí nghiệp, lập công ty được nhưng các giáo hội, nhà thờ, nhà chùa thì không được nhân danh tập thể mà mua đất lập công ty. Thấy chưa, bị phân biệt về kinh tế mà còn tìm cách nắm kinh tế của các tôn giáo. Pháp lệnh tôn giáo 2004, Nghị Định tôn giáo 2005 qui định: Mọi giao dịch kinh tế của các tôn giáo liên quan đến tiền bạc đều phải qua nhà nước kiểm soát hết. Nhưng trên thực tế, lãnh tụ của các tôn giáo khôn, sức mấy để cho nhà nước kiểm soát được túi tiền của mình.


Lại còn thế này nữa, các nhà thờ tổ chức quyên góp phải có phép nhà nước, cái gì họ cũng tìm cách thò bàn tay lông lá vào, mà sức yếu không thò được mà cứ cố thò vào. Cháu thấy nhà cầm quyền sao họ mê muội như vậy. Đấy là về phương diện kinh tế. Thậm chí lập một tài khoản họ cũng không cho lập, thí dụ lập tài khoản cho giáo xứ Thái Hà, Tổng Giáo Phận Hà Nội, Việt Nam hay là chùa Thiên Mụ. Không! Đố cơ sở tôn giáo nào, giáo hội nào ở VN mà được đứng tên một tài khoản ở ngân hàng cho nên mới xẩy ra chuyện cách đây mấy bữa là có một nhà sư ở Saigon mất, để lại mấy trăm nghìn đô la.

Thế là người nhà đòi cái phần ấy của mình, ở VN cái phần ấy là của mình thật nhưng luật giáo hội, người đó đi tu, tài sản ấy là của giáo hội, thế nhưng vì không cho đứng tên nhà chùa, mà chỉ cho đứng tên nhà sư đó thôi. Như thế tài sản của tôn giáo rất là nguy hiểm, rất là cheo leo. Ngay cả những người có lòng thiện, không có lòng tham đi chăng nữa thì tài sản cũng rất cheo leo, vì nó liên quan đến vấn đề luật pháp. Không khéo cả giáo hội mất nghiệp, bán nhà thờ, tòa Giám mục để mà đền.

Thật sự là như thế, chưa kể là có giao dịch ở bên này phải gửi vào tài khoản chung chính quyền ở đây mới cho gửi và mới được miễn thuế nhưng bên kia, nhà cầm quyền lại không cho lập tài khoản mang danh tập thể, thế là giao dịch bế tắc! Khổ chưa?

Đấy, về kinh tế, cháu nói cái này mới đểu cáng và thâm độc mà nhiều người không thấy. Ngay cả những người ở VN nhiều khi cũng không thấy. Đó họ tìm cách đập tan các khu vực kinh tế quan trọng của các tôn giáo. Ví dụ ở Saigon, ai cũng thấy mảnh đất đối diện Bến Bạch Đằng là Thủ Thiêm, là một làng Công giáo mấy trăm năm thế bây giờ họ giải tỏa trắng dân, còn nhà thờ với nhà Dòng trật ra đấy.

Giải tỏa trắng dân đi chỗ khác để cướp chỗ đất ấy làm Trung Tâm Thương Mại Đa Chức Năng. Cộng đoàn có thể lên mạng thấy ngay bản đồ vẽ Khu Thương Mại Đa Chức Năng, cả khu vực nhà Dòng Mến Thánh Giá cũng bị như vậy, trên bản đồ thành như thế rồi. Thế là họ phá cơ sở quan trọng kinh tế của Công giáo chứ gì, vì dân có giầu, nước mới mạnh, giáo dân có mạnh thì giáo hội mới tồn tại được.

Rồi ai cũng biết miền Đông Nam bộ, cái Trung Tâm Thương Mại Chợ Sặt của người Kẻ Sặt từ Hải Dương vào lập nên từ năm 1954 là khu thương mại quan trọng từ xưa đến nay ở miền Đông nam bộ, thế bây giờ các bố muốn đập tan cái Trung tâm kinh tế của Công giáo và cũng là của cả nước.

Thế là các bố xây một cái Trung tâm thương mại ở gần và các bố tìm mọi cách ăn cướp cái Trung tâm kinh tế Chợ Sặt của người Công giáo để buộc tất cả các mối hàng, thay vì mua ở chợ Sặt phải mua ở Trung tâm thương mại kia, mà cái đất đó các bố bày đặt ra là để sẽ biến thành nhà trường thế này thế nọ, mà giáo dân Sặt có sự giúp đỡ của truyền thông công lý nhưng suốt mấy năm nay đấu tranh , bây giờ vẫn đang giằng co.

Cháu nói ở bên Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo cũng thế thôi! Rồi Cồn Dầu, cả một vùng đất kinh tế, vùng đất đô thị đầy tiềm năng đang phát triển, bây giờ tìm cách giải tỏa trắng để mà cướp đất, những chỗ khác cũng đại khái như vậy.

5.

Cái thứ năm là cái vi phạm tôn giáo về phương diện kêu
là “Thông tin văn hóa, giáo dục, y tế từ thiện”.

Tôn giáo và tín đồ các tôn giáo bị phân biệt đối xử, không có tự do trong lãnh vực thông tin, văn hóa, giáo dục, y tế , từ thiện. Về thông tin: Không một đạo nào có được một đài phát thanh, một tờ báo, một tạp chí, một nhà xuất bản. Không! Nếu có báo nào gọi là giác ngộ hoặc như Công giáo Dân Tộc thì đấy toàn là “Báo Đảng”. Báo Đảng viết về đạo.Thế thôi!

Bên Công giáo có một tờ gọi là Hiệp Thông, là thông tin chính thức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Bộ Văn Hóa Thông Tin cấp một giấy phép xuất bản cho cái tờ này nội dung ấn định rõ ràng: Mỗi tháng không qúa 100 bản, mỗi bản không qúa 100 trang, mỗi trang khổ A5.

Thế cháu ngồi cháu nhân, cháu tính, cháu chia cho số 8 triệu người Công giáo thì mỗi năm về mặt thông tin chính thức, mỗi giáo dân Việt Nam được khoảng 2 chữ! Về Văn hóa: Tín đồ các tôn giáo Công giáo, Tin Lành hay Hòa Hảo, đố mà thấy các tín đồ các tôn giáo đấy được học về đại học Ngoại giao, đại học Quốc Phòng, đại học An Ninh, đại học Quân Sự. Không! Mỗi khi thấy một đơn xin thấy hai chữ Công giáo là gạch chéo, “out” ngay! Không cho người của các tín đồ được bình đẳng trong việc học hành.

Rồi nữa, sang lãnh vực giáo dục, nhà nước cho các công ty ma, cho các trường đại học ma vào Việt Nam lập nên các Trung tâm dạy ngoại ngữ ma, các Trung tâm giáo dục ma rồi cuối cùng vô tư cấp bằng giả cho các cán bộ vô tư! Không sao. Thậm chí có các Cán Bộ Trung Ương học lấy bằng Tiến sĩ chỉ trong 6 tháng mà không cần biết tiếng Anh. Kinh!

Nhà nước cho phép mở các Trung tâm ma, đại học ma vân vân và v..v… nhưng các tôn giáo không được lập Trung học, Đại học, Tiểu học. Các tôn giáo chỉ được phép mở Trường Mầm Non! Đang khi ngay tại Hà Nội, hôm nay báo nói thế này, trường Mầm Non ngay tại Hà Nội không có nhà vệ sinh, mỗi khi đi vệ sinh phải đi vào túi ny lông bỏ đấy, rồi các cô giáo chở đi hàng cây số để đổ!

Thế nhưng Dòng Tu nào, giáo xứ nào làm đơn xin mở trường Mầm Non là cán bộ xã, cán bộ Huyện, Phòng Giáo Dục Huyện,rồi trường tiểu học ở xã, rồi công an, Mặt Trận Tổ Quốc, Hội Phụ Nữ rồi bên Y Tế , Tổ Dân Phố họ hạch sách đủ mọi thứ luật lệ, đủ mọi thứ lệ làng được bày ra để họ tìm cách họ không cho các giáo xứ, các nữ tu lập trường Mầm Non. Chỗ nào lập được rồi thì họ cứ nay kiểm tra, mai kiểm tra, sách nhiễu khốn khổ.

Cho nên muốn làm việc từ thiện ở VN không dễ đâu, vì bản chất cái chế độ Cộng sản vô thần, cháu không biết những người khác nhận xét thế nào, nhưng theo cháu nhận thức Bản chất của chế độ Cộng sản vô thần nó là cơ chế tội ác đa quốc gia, xuyên quốc gia, nó là cơ chế tội ác toàn cầu, càng ngày nó càng ác, nó ác có hệ thống cho nên nó thấy ai làm điều thiện là nó lồng lộn lên nó chịu không nổi, nó chỉ muốn giết chết thôi!”

Cho nên cháu thấy bao nhiêu người có thiện chí mà nếu không kiên trì nhờ ơn Chúa thì không làm việc thiện được, trước sự sách nhiễu của nhà cầm quyền khốn nạn! Đồng bào ở đây không thấy trước mắt nên có thể không bức xúc, chứ con thấy trước mắt bao nhiêu năm rồi, chịu không nổi! Đấy là về mặt giáo dục.

Trung tâm từ thiện cũng vậy, không được mở. Trại mồ côi khuyết tật, trại HIV-AIDS thì nhà nước nắm tất, còn các cha, các thầy, các sơ, những ai muốn làm trong ấy thì phải làm dưới bóng của họ quản lý. Ví dụ như ở Saigon, chính quyền lập một cái trại HIV-AIDS cho những người gần chết, người công giáo gọi là Trọng Điểm, ở giữa khu vực Biên giới Bù Gia Mập và Thủy điện thác Mơ của tỉnh Tây Ninh. Thế mà các tu sĩ lên đó làm việc chỉ như nhân viên của nhà nước với lương tháng chỉ một, hai triệu gì đấy.

Nhưng nhờ có các sơ làm việc trên đó mà bao nhiêu cơ quan từ thiện Công giáo mới giúp đỡ các nạn nhân. Còn đám cán bộ nhà nước họ vẫn nắm quyền lãnh đạo, vẫn ăn tiền từ trên rót xuống và tiền từ nước ngoài đổ vào, còn nạn nhân chết thì thôi, họ không cần! Đấy, cháu nói về lãnh vực từ thiện nó là như vậy.

Và mấy năm trước còn có một cái lệnh ác thế này là mọi công tác từ thiện ở Việt Nam từ nay chỉ có Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương mới có quyền, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức của nhà nước nhưng không phải Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương cũng không có quyền. Con xin nói tiếp thế là về vấn đề thông tin văn hóa, giáo dục, y tế, từ thiện đại khái nó là như thế chứ còn nhiều chuyện đau lòng, cháu không muốn đi nhiều vào cụ thể.

6.

Còn chuyện thứ sáu về vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam, đó là nhà nước xiết chặt và kiềm chế, vi phạm đến quyền tự do cư trú,tự do di chuyển của các tu sĩ cũng như của các tín đồ tại những khu vực mà nhà nước gọi là “nhạy cảm”.

Ví dụ năm ngoái, cháu hẹn với giáo dân một bản ở Mộc Châu giáp Lào và Thanh Hóa, kêu họ ra thị trấn Mộc Châu cho chúng cháu gặp. Họ đi ra khỏi làng, cán bộ không cho. Khi họ trốn được khỏi làng ra bến xe, thì những người chủ xe được lệnh không cho những người đó lên xe. Thế là họ là họ đi bộ từ chiều hôm trước.

Hôm sau chúng cháu lên Mộc Châu không thấy đâu, gọi điện về bản thì bảo đi rổi, thế cháu mới nói tắc xi chạy ngược lại thì giữa đường đang thấy hai phụ nữ dắt ba đứa con giữa trời nắng cứ vui vẻ vô tư đi bộ, mặt mày rất phấn khởi. Đối với họ không có ý niệm thời gian, và nếu mình không vào đón, họ cứ đi như vậy đến tối, đến mai tới cũng được, và lúc đó họ đi được hơn 30 cây rồi. Cháu có hình ảnh chụp họ đang đi giữa đường đàng hoàng nhưng cháu không mang theo đây.

Còn các tu sĩ chúng cháu muốn đi từ xứ này đến xứ kia làm việc phải được chính quyền nơi đến chấp nhận, còn chính quyền nơi đến không chấp nhận thì mình không được đến. Cha Trịnh Duy Công ở giáo xứ Sở Kiện, Hà Nam ngài giảng dậy ngài hay mạnh dạn tố cáo chính quyền phản động bán nước, thế là công an tỉnh đánh tiếng đe dọa sẽ trục xuất ngài khỏi địa phương. Thế là ngài giảng:

Các ông công an theo dõi tôi ngồi ở bên dưới, các ông cứ vào trực tiếp gặp tôi đây này để nói gì thì nói. Đừng đi bỏ nhỏ với giáo dân. Cái đó không quân tử. Nhưng mà tôi nói các ông nghe, hoặc là tôi nói các ông các bà về nói lại với công an. Rằng công an tỉnh Hà Nam này muốn tôi đi khỏi Sở Kiện đến nơi khác thì công an cứ phải ghi vào giấy lý lịch của tôi thật là tốt đẹp, thì tôi đi địa phương khác họ mới nhận. Còn nếu cứ nói xấu tôi, địa phương khác họ thấy họ không dám nhận thì tôi cứ ở đây mãi đừng có trách!

Đấy vui vậy! Cho nên là vi phạm đến quyền tự do cư trú và tự do di chuyển là những quyền tự do căn bản của con người, con người còn sống thì còn phải chuyển động, sống mà bắt người ta đứng yên như chết. Như cha Nguyễn Văn Phượng nhà cháu, chẳng có tội tình gì cả, chỉ là linh mục ở Thái Hà thôi, ra đến sân bay đi hành hương cùng một đoàn linh mục, các linh mục khác cho qua, đến linh mục Nguyễn Văn Phượng thì chặn lại, hỏi tại sao, họ trả lời lên hỏi trên, trên, trên, không biết trên nào!

Chính quyền mà hành xử tiểu nhân như vậy! Rồi đến cha Phạm Trung Thành, Bề Trên Giám Tỉnh của nhà cháu ở Saigon cũng vậy. Hôm tháng 12 vừa rồi, ra ngoài sân bay Tân Sơn Nhất xuất cảnh, không cho đi, tính đi sang Mỹ này chặn lại không lý do.

Rồi đến tháng Bảy vừa rồi đi Singapore, ra đến sân bay cũng lại chặn, không lý do. Mấy hôm sau cha chánh văn phòng nhà Dòng chúng cháu đi đường bộ qua cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh cũng bị chận lại. Hỏi lý do công an bảo: “Trên bảo không cho phép xuất cảnh cho đến năm 2015. Chấm hết. Còn đúng sai thế nào lên trên mà hỏi, chúng tôi không biết”.

Làm mà không dám nhận, không dám nói lý do. Còn như cháu đây này, 12 năm trước, năm 1999 cháu vừa học xong Thần học, chẳng có tội tình gì cả, mình đang ở Kỳ Đồng về tỉnh Ninh Bình là quê cháu, cháu đi xin hộ chiếu, công an xã không cho, cháu ghi vào đơn xin hộ chiếu là nông dân, công an bảo: “Ông đi tu từ lâu rồi sao ghi là nông dân, đến lúc mình ghi là tu sĩ, nó bảo, ai công nhận ông là tu sĩ mà ông ghi tu sĩ? Khốn nạn!

Đến lúc cháu vào tạm trú dài hạn Saigon ở phường 14 quận 3, cháu xin hộ chiếu tại Saigon thì theo luật ai tạm trú dài hạn ở đâu thì làm hộ chiếu ở đấy được. Thế cháu làm xong, họ phát cho cháu rồi họ báo về Ninh Bình. Công an Ninh Bình làm một cái báo cáo rõ xấu gửi vào Saigon, bảo rằng Nguyễn Văn Khải sinh ra trong vùng đất Phúc Nhạc phản động, Nguyễn Văn Khải là con đỡ đầu của một ông cha phản động là linh mục Vũ Quang Điện đi tù 2 lần 17 năm, Nguyễn Văn Khải là tu sĩ chui, linh mục chui, tắt một lời là “phản động”. Cấm xuất cảnh!

Thế là hộ chiếu của mình công an Saigon thừa lệnh công an Ninh Bình tịch thu nốt. Nhưng mà cháu nói rồi. Cháu tin Chúa, Chúa là mạnh nhất, Chúa muốn không ai có thể cản được. Sự gì tốt đẹp Chúa đã muốn thì trước sau cũng thành. Cháu nói với nhà cầm quyền Hà Nội, bảo họ:

“Đó, các ông còn sống, tôi còn sống đây. Các ông cấm tôi tu mà Chúa muốn, tôi vẫn tu được, tu chui. Các ông cấm tôi học, nhưng Chúa muốn tôi học, tôi vẫn học được, học chui. Các ông cấm tôi chịu chức nhưng mà Chúa muốn, tôi vẫn được thụ phong linh mục, thụ phong chui"

Mà bây giờ cháu có gặp họ, cháu sẽ nói “Các ông cấm tôi xuất cảnh, nhưng mà Chúa muốn, tôi vẫn xuất cảnh được, xuất cảnh chui”. Chui hợp pháp đàng hoàng! Nói về cái quan niệm về cách quản lý hành chính của người Mỹ, công dân Mỹ như các ông các bà đây khó hiểu nhưng mà Việt Nam thì không khó hiểu.

Trung Tâm Công Giáo miền Nam California 

Thế thì đấy, nhà cầm quyền vi phạm tự do tôn giáo một cách nghiêm trọng như vậy, chẳng có lý do gì, cứ cấm cửa các tu sĩ với các linh mục thôi.

Cho nên, tắt một lời, cháu nói Việt Nam không có tự do tôn giáo mà ai bảo Việt Nam có tự do tôn giáo thì người đó thứ nhất là người nói dối. Nếu không phải là người nói dối thì là người quá sợ hãi, sợ đến nỗi tê liệt con người không dám nói thật. Nếu không phải là người qúa sợ sệt thì là người cái đầu có vấn đề tức nhận thức có vấn đề!

Nếu không phải là cái đầu có vấn đề thì cuộc sống có vấn đề, nghĩa là cuộc sống có vấn đề gì đó mà công an nó nắm được nó khống chế. Nếu cuộc sống không có vấn đề, thì người ấy là công an!

Đấy là cháu xin thưa với cả nhà vắn tắt về cái chuyện vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam, từ cái chuyện vi phạm tự do tôn giáo như vậy nó mới nẩy ra những vụ như là Thái Hà, Tòa Khâm Sứ.

Thì con xin thưa về chuyện Thái Hà và Tòa Khâm Sứ vắn tắt thế này, là thứ nhất con đi đây đó, nghe nhiều người trong, ngoài giáo hội lớn, bé nhỏ, to, nam phụ lão ấu, nói thế này: “Thái Hà của Dòng Chúa Cứu Thế, Tòa Khâm Sứ của Tổng Giáo phận Hà Nội làm như thế (tức là vùng lên đòi công lý, cụ thể là đòi đất) làm như thế là dại!

Thấy sức mình không đủ lực để đối đầu với đối phương thì phải cho sứ giả đi cầu hòa trước. Việc gì phải làm như vậy? Mình đây Công giáo một dúm, sức lực thì có đâu mà đòi vùng lên như thế, vùng lên như thế chỉ có thiệt thôi. Thứ nhất là vì đất vẫn bị mất; thứ hai là vì dân bị đánh; thứ ba vì dân bị bắt, vì thứ tư là vì dân bị kết án và bỏ tù.

Thứ năm là theo những người đó, nó gây sự chia rẽ giữa giáo hội và xã hội, giữa Phật giáo và Công giáo, chưa kể nguy cơ xung đột tôn giáo. Tắt một lời, làm như Thái Hà của Dòng Chúa Cứu Thế hay Tòa Khâm Sứ của TGP. Hà Nội là dại, là không khôn ngoan, cho nên cần phải dẹp bỏ. Ngay cả một số người có đạo lớn bé cũng quan niệm như vậy.


Nhưng mà cháu nói, cái nhìn như vậy là cái nhìn sai lầm! Nếu không muốn nói một cái nhìn như vậy là một cái nhìn hẹp hòi ích kỷ, là một cái nhìn vị lợi. Tại sao cháu nói thế? Nó như thế này: Thái Hà chúng cháu, cái mảnh đất ấy nhà cầm quyền cộng sản chiếm dụng bất hợp pháp từ nửa thế kỷ rồi chứ đâu phải bây giờ mới lấy đâu. Đất của Tòa TGP. Hà Nội nơi có Tòa Khâm Sứ họ lấy từ gần nửa thế kỷ, từ năm 1961 chứ đâu phải bây giờ mới lấy đâu!

Bây giờ họ làm hồ bơi, bây giờ họ làm nhà máy, họ tư nhân hóa để làm biệt thự cho các quan chức lớn bé. Thế, nhân cái cơ hội đó mình mới đứng lên mình đòi. Trước đây các vị chiếm bất hợp pháp để làm việc chung, bây giờ các vị tư nhân hóa, tôi phản đối và tôi đòi lại cái phần đất đó để phục vụ vào mục đích tôn giáo, phục vụ cộng đồng. Chúng cháu tính rồi, được ăn cả, ngã vẫn không về không.

"Được ăn cả" là thế nào? Nếu được thì được mảnh đất Thái Hà 14,000m2, chúng cháu tính giá có ít cũng 200 triệu đô la. Nếu được mảnh đất Tòa Khâm Sứ ở trung tâm Quận Hoàn Kiếm có rẻ cũng 400 triệu đô la. Các ông bà tính xem, đất ở đấy ( quận Hoàn Kiếm) 50 cây vàng một mét vuông xem là giá bao nhiêu. Thế nếu được là được hai mảnh đất ấy. Khi được hai mảnh đất ấy sẽ tạo thành tiền lệ để đòi được hàng trăm cơ sở khác, mảnh đất khác trong, ngoài thành phố Hà Nội của Công giáo.

Nếu được của Công giáo Hà Nội thì từ thủ đô mà đi, Giáo hội Công giáo sẽ đòi hầu hết các nhà đất của mình trên toàn cõi Việt Nam. Nếu Công giáo làm được thì toàn thể các tôn giáo khác cũng lấy lại được nhà đất của mình. Nếu các tôn giáo lấy lại nhà đất của mình thì toàn thể các tư nhân từ xưa đến nay có nhà, đất bị cộng sản chiếm dụng bất hợp pháp cũng phải theo tiền lệ ấy mà trả lại cho người ta đúng lẽ công bằng. Đấy! Ăn cả là ăn như vậy.

Còn nếu nhà nước cố tình dùng bạo lực để tiếp tục cưỡng chiếm thì cái việc Thái Hà, Tòa Khâm Sứ làm cũng đặt nhà nước, dồn nhà nước vào chân tường, bắt nhà nước phải nhìn thấy sự thật bất công trong đất nước xã hội, để nhà nước phải sửa lại luật đất đai. Thấy chưa? Buộc nhà nước phải xem lại luật đất đai, buộc nhà nước phải xem lại luật tư hữu, luật về tự do tôn giáo.Từ chuyện hai mảnh đất đó nhưng mà để tính chuyện lớn kia.

Chuyện lớn là chuyện cho các tôn giáo, cho cả giáo hội và xã hội chứ mình không tính cho riêng mình. Nếu Dòng Chúa Cứu Thế chúng cháu tính cho riêng mình, thì đang lúc đấu tranh họ đề nghị một mảnh đất ở Mỹ Đình, nếu chúng cháu nhận là xong! Nếu Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội mà tính lợi cho riêng GP. Hà Nội thì lúc đang cầu nguyện, họ đề nghị các cha ra ký giấy nhận một trong 2 mảnh đất khác nhau với hai tòa nhà khác nhau trong thành phố hay một mảnh đất khác ở ngoại thành.

Nếu TGP Hà Nội tính lợi cho riêng mình thì Hà Nội cũng được rồi. Những nơi khác được nhà nước cho mảnh đất này, mảnh đất kia và bao nhiêu thứ khác thì bảo nhà nước dễ chịu, và vì mình “khôn ngoan” ứng xử nên được như vậy. Cái đó theo chúng cháu, nếu có lợi chỉ lợi cho riêng mình. Tất cả chúng cháu nhận thức, nếu có “được” như vậy để được yên thì cái đó chỉ là thỏa hiệp, chỉ là cái khôn vặt thôi cho riêng mình! Mà không thấy được việc giáo dân miền Bắc làm vì lợi ích chung của các tôn giáo, của cả giáo hội, cả dân tộc. Đấy là điều thứ nhất.

Điều thứ hai cháu xin thưa liên quan đến vụ Thái Hà- Tòa Khâm Sứ, đấy là cháu nói “được ăn cả, ngã không về không” là thế này: Bây giờ nhà nước trả hay không trả nhưng nhà nước về phương diện vật chất phải làm công viên, không tư nhân hóa được! Không làm nhà ở cho người dân ở cái khu vực đất Đức Bà ở cạnh nhà thờ Thái Hà được.

Thế là chúng cháu ở nhà thờ Thái Hà cũng có lợi rồi. Vì sao? Vì nếu khối dân cư ngoại đạo họ ở đấy trên một khu rộng như vậy, họ áp lực lên nhà thờ thì chúng cháu chết. Không gian sống của mình bị thu hẹp. Chết. Vì sao nữa? Bên Tòa Khâm Sứ, Đức cha Đôminicô Mai Thanh Lương đây về thì biết, bên Tòa Khâm Sứ, ngay trước mặt Tòa Giám Mục với Chủng viện là cái hồ bơi, đằng trước nó là cái tiệm nhảy. Tiệm nhảy nó phá rồi nó còn trật cái hồ bơi lại.

Thế bây giờ nó chẳng những nó không làm cái Trung tâm thương mại mà nó còn phá luôn hồ bơi đi, thế là đỡ cho mình rồi! Mình là chủng sinh, là linh mục, là giám mục mình không phải suốt ngày ngứa con mắt bên phải, đỏ con mắt bên trái vì hồ bơi nữa! Cũng không bị ồn ào náo loạn nữa! Nó phá hồ bơi đi và nó làm thành vườn hoa rất đẹp, thế là cảnh quan Tòa Giám Mục thông thoáng hơn, nó đẹp hơn, nó lành mạnh hơn, thế là lợi chứ!

Khoảng không đấy thực tế là vườn hoa chung quanh nhà, thế là ngày lễ Cả, giáo dân khắp nơi về nhà thờ chính tòa đi lễ, có thể vào đi dạo trong đó hay ngồi trong đó sửa soạn cho người nó tươm tất, tốt đẹp hơn vào dự lễ cho nó sốt sắng. Chưa kể rằng Tòa Khâm Sứ ở đây vẫn còn với vườn hoa rất đẹp chung quanh. Ai bảo rằng mình nắm tay đến tối, gối đầu đến sáng đâu! Ai bảo rằng chế độ này còn mãi! Cái gì nó có khởi đầu tất nó phải có kết thúc. Chẳng có cái gì là mãi mãi cả!

Cho nên đến lúc chế độ này sập xuống thì tòa nhà Khâm Sứ của mình vẫn còn đấy với vườn hoa chung quanh rất đẹp, chỉ làm tấm biển của mình để lên là xong. Cho nên ngay cả về mặt vật chất cũng có lợi đấy chứ. Ai bảo là không được gì? Được nhiều!

Được rất nhiều về mặt vật chất. Như nhà thờ Thái Hà chúng cháu có cái công viên rộng đó, bây giờ ngày lễ Cả, chúng cháu đậu 300 xe hơi lớn bé được, còn con phố Đức Bà phía sau lưng đó, bây giờ không làm nhà, mình để hàng chục nghìn xe máy được. Thế là trong nhà thờ, mình có chỗ yên tâm ngồi đế ngắm nguyện, để lễ lạy cho nó sốt sắng, trọng thể. Được nhiều! Đấy, nhưng mà cháu nói cái đó chỉ là cái lợi bé. Chỉ là cái lợi vật chất trước mắt mình thấy được.

(1) Cái lợi lớn nhất mà người ngoài Công giáo cũng như trong Công giáo thấy được đó là nhờ phong trào đòi công lý- sự thật ở Thái Hà- Tòa Khâm Sứ mà người dân Công giáo ở miền Bắc, hết cả miền Bắc chứ không riêng gì Thái Hà và Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội- Người Công giáo ở hầu khắp các giáo xứ miền Bắc “bước qua nỗi sợ hãi để can đảm, hiên ngang đòi công lý và sự thật”. Cái lợi ích tinh thần to nhất là như thế, là vượt qua nỗi sợ!.

Sau năm 1954, Cộng sản ở miền Bắc bạo lực thế nào khiến có nhà thơ phải nói: “Tôi đi trên phố mà không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”. Còn đây này, làng quê cháu sống đúng là một trại tập trung. Câu thơ Tố Hữu làm bắt chúng cháu học từ bé, đúng là một trại tập trung: Dập dìu cờ đỏ ven đê, Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”. Người ta nói là xã hội văn minh, làm việc giờ giấc nhưng thực tế nó là trại tập trung! Đầu làng điếm canh, cuối làng điếm canh. Đúng giờ kẻng đánh, cả làng ra đồng làm việc. Đúng giờ, kẻng đánh, mọi người vào. Đúng là một trại tập trung.

Đang khi đó, không khí Cộng sản bạo lực là suốt ngày trống kèn để lo đấu tố. “Dập dìu cờ đỏ ven đê, sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”. Ai mà ra làm việc muộn ở ngoài đồng một cái là qui ngay cho tội “Cố tình chống lại đường hướng tập thể hóa, chống lại lối làm ăn lớn của xã hội chủ nghĩa”. Bắt, bắt! Ai kẻng một cái mà ở ngoài đồng không chạy nhanh về làng, còn dây dưa ở lại, thì có thể bị qui ngay cho tội “Cố tình ở ngoài đồng để dấu giếm hoa màu và vật tư nguyên liệu sản xuất”. Bắt, tù. Đúng là trại tập trung!

Cháu biết. Thế mà tự hào là công nghiệp. Đấy, vậy trong một xã hội bị khống chế và bạo lực như vậy mà lần đầu tiên năm 2008, giáo dân Hà Nội và những làng ngoại giáo mà cũng là dân oan, dám hiên ngang xuống đường đòi công lý.

Nhân đây cháu xin nói thế này, xin miễn thứ cho cháu là có nhiều người cứ bảo “Sao các cha Thái Hà miền Bắc không đòi tự do, không đòi dân chủ?” Cháu xin thưa, khái niệm tự do, dân chủ với đa số người dân miền Bắc và nông dân ít học họ chưa hiểu mấy, nhưng quyền lợi trước mắt thì họ biết. Những sự bất công trước mắt thì họ biết, họ thấy ngay, và khi họ là nạn nhân của bất công, nói hai tiếng công lý ai cũng hưởng ứng. Có thế thôi!

Mà cứ đòi công lý thì sự thực cũng đang đòi tự do, dân chủ chứ còn gì nữa, nên cháu nói vậy, xin các bác đừng thắc mắc nhá. Cái lợi thứ nhất cháu thấy là bước qua nỗi sợ.

(2) Cái lợi thứ hai là cháu thấy người giáo dân ở miền Bắc bày tỏ được cái niềm tin của mình. Con thưa Đức Cha ở đây biết, từ hồi có biến cố Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, giáo dân ở miền Bắc hầu hết các giáo xứ, không riêng gì giáo dân Hà Nội, giáo dân đạo đức hơn rất nhiều, giáo dân có bản lãnh hơn rất nhiều và giáo dân cầu nguyện, xưng tội đông hơn trước rất nhiều.

Giáo dân ở Hà Nội thấy đức tin mạnh hơn khiến một giáo dân làm nghề xe ôm ở Hàm Long chở con và nói: “Từ hồi cha Lý về đây làm chính xứ Hàm Long, ở Hà Nội chúng con mới thấy rằng đi đạo không đơn thuần chỉ là chuyện đi lễ, đi nhà thờ , đọc kinh và sống cho riêng mình. Đi đạo còn là cái gì thiêng liêng cao trọng và lớn mạnh, tuyệt vời hơn rất nhiều mà chúng con không biết nói làm sao!”.

Và cái đấy thì những người làm nghề chân tay quê Bùi Chu hiểu hết, những người làm nghề tắc xi với nhau quê ở Bùi Chu họ hiểu nhất, vì họ là những người nghèo và ra Hà Nội đông nhất. Cho nên lòng tin của họ vào Chúa mạnh hơn.

(3) Cái thứ ba là cái lòng mến của họ đối với anh em họan nạn nhiều hơn. Con chứng kiến cái cảnh người ta giúp nhau sau những sự kiện Thái Hà, Tòa Khâm Sứ và Đồng Chiêm và các sự kiện khác con thấy “tuyệt vời”, và con xúc động vô cùng vì cái lòng mến của họ chăm lo cho nhau, nhà này chăm lo cho nhà kia, cộng đoàn này chăm lo cho cộng đòan kia, và chăm sóc người thân của nhau thực sự coi nhau như anh em và sẵn sàng hy sinh mạng sống cho nhau chứ không phải chỉ là hy sinh một phần vật chất nhỏ nhoi.

Cháu nói cái vật chất đối với người nghèo thì vô kể, cháu không thể kể được nhưng cháu nói họ sẵn sàng hy sinh mạng sống cho nhau. Ở đâu mà thấy nguy hiểm bỏ chạy chứ riêng với giáo dân Hà Nội từ đấy đến giờ chỗ nào thấy nguy hiểm là họ chạy lại. Chỗ nào nóng bỏng là họ lao đến ngay. Riêng giáo dân Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, cứ thấy chỗ nào có nguy hiểm là chạy lại, là vì họ hy sinh cho nhau.

Chúng cháu đây ở trong tu viện bị công an mặc thường phục, mặc quân phục bao quanh chúng cháu, đòi giết, giết, thế nhưng mà chỉ nửa tiếng sau cả mấy ngàn dân cùng với các tu sĩ, linh mục làm thành một vòng vây khác bên ngoài. Mà trong đêm tối, 1, 2 giờ đêm mà những cha bên ngoài là những cha ở Hà Nội có mặt tất: cha Nguyễn Văn Lý, cha Ruẫn, cha Bình, cha Dũng, cha Hinh, các cha chạy đến mà không cần chúng cháu phải báo. Điều ấy cho thấy họ sẵn sàng hy sinh mạng sống vì nhau.








Mà cái này chúng cháu rất phục Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt ở chỗ đấy, không phải là cháu nghe ai nói, mà mắt cháu thấy Ngài làm.

Chỗ này, trên đoạn phố này vừa bị công an đến sách nhiễu phải không? Ngài đến tận nơi xem xem nó sách nhiễu thế nào. Chỗ kia giáo dân vừa mới bị xịt hơi cay, Ngài đến tận nơi xem giáo dân bị xịt hơi cay thế nào. Nhà kia có người bị bắt phải không? Ngài đến tận nơi có người bị bắt để thăm viếng, úy lạo và nâng đỡ tinh thần, ban phép lành cho họ.

Ngài không nghĩ đến tính mạng , đến chức vụ của Ngài, Ngài hy sinh vì đoàn chiên. Người dân Hà Nội thấy Ngài đúng là vị mục tử hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên. Là mục tử thì cần nhất là cái sự sẵn sàng hy sinh vì đoàn chiên. Con thấy người dân Hà Nội chẳng biết Đức Cha Kiệt tài cán đến đâu, nhưng họ thấy cử chỉ yêu thương ấy và họ tin rằng “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng biết Ta”.

Rồi cái ngày xử án giáo dân Thái Hà- Tòa Khâm Sứ, con là người đại diện giáo hội vào trong đó ngồi tham dự phiên tòa, để chứng kiến xem họ xử con dân của mình như thế nào, để biết lối trình bày cho mọi người biết, phản đối hay đồng thuận. Thế thì đang lúc họ tuyên án là không có giam giữ ai hết cả, chỉ có án treo thôi, tù treo thôi, trả tự do hết. Con nhắn tin cho Đức Cha Kiệt đang đi làm phép Thêm Sức, có cha Dũng bên cạnh Ngài.

Con báo cho cha Dũng để cha trình lại cho Đức Tổng Kiệt, cha Phạm Văn Dũng báo lại cho con là họ không dám giam giữ ai là họ khôn đấy! Họ mà giam giữ ai thì đơn Đức TGM. Ngô Quang Kiệt đã viết sẵn đây rồi, Ngài sẽ ký ngay là Ngài sẽ đi tù thay cho những người ấy!

Vậy cái được thứ ba cháu muốn nói, là sau khi
vụ Thái Hà nổ ra, cái lòng mến của người ta mạnh hơn.

(4) Cái thứ bốn cháu muốn nói là đối với giới Công giáo miền Bắc đoàn kết với nhau hơn, liên kết, hợp nhất với nhau hơn. Cháu sống ở Sàigon 17 năm, sống ở Thái Bình 3 năm, ở nhà quê 17 năm, còn ở Hà Nội thì năm nào cũng sống một vài tháng cho đến cả năm thì cháu thấy thế này: Không đâu mà linh mục đoàn lại đòan kết, thống nhất như thể là linh mục đoàn ở Hà Nội,và cả nước VN thời Đức Cha Kiệt, Linh mục đoàn và giáo dân rất đoàn kết thống nhất thành một khối.

Đức TGM. Ngô Quang Kiệt cho đến lúc đi, mỗi khi lễ lạy Ngài luôn công bố trước toàn thể dân chúng là giáo phận chúng ta được cái ơn lớn lao nhất mà chúng ta cùng cầu nguyện trong thánh lễ hàng ngày, đấy là ơn được hiệp nhất. Hiệp nhất vô cùng! Cháu là linh mục Dòng, cháu sống trong cái cộng đoàn ấy cháu biết và cháu thấy là như vậy và cháu xin làm chứng.

Nhân nói đến hiệp nhất, cháu xin thưa, mọi người cứ tưởng là chỉ có giáo xứ Thái Hà chúng cháu. Cháu xin thưa rằng nếu chỉ có Thái Hà chúng cháu, một giáo xứ ở rải rác trên mấy quận, huyện mà có chưa đến hai ngàn dân thôi thì nhà cầm quyền bóp mũi chết lâu rồi! Thế mà ở Thái Hà ngày thường cũng cả nghìn người đến, ngày thứ bảy, Chúa nhật có 15, 20 nghìn người đến, còn những lúc mà đang nóng bỏng là ở Thái Hà, ngày thường cũng cỡ 20,000 nghìn đến. Là tại làm sao?

Mà đến đông quá chúng cháu cũng sợ, sợ dân các nơi về, làm thành một đội quân ô hợp mà có thể mình không làm chủ được tình hình, cho nên cái chức quan trọng nhất của nhà thờ Thái Hà là cái chức “Trật tự, Vệ sinh”. Trật tự, vệ sinh sạch sẽ để cho cái số đông người khỏi lây nhiễm dịch bệnh . Đấy là vệ sinh. Còn trật tự làm sao cho số đông người như vậy mà không có biểu hiện hỗn loạn, hay là không có những kẻ ma quỷ nó rình mò nó vào nó quấy phá, nó gây rối loạn hay nó gây cháy nổ xong nó đổ tội cho mình!.

Bây giờ hàng trăm xe hơi, hàng nghìn xe máy mà nó gây cháy nổ một cái, thì thôi, nó vu cho mình là chết. Nếu có vụ cháy nổ trên mảnh đất chật hẹp như thế là chết rồi. Nhưng mà giáo dân họ hiệp nhất với nhau, họ đoàn kết với nhau. Họ biết làm thế nào để đảm bảo an toàn, an ninh cho người đến cầu nguyện, lễ lạy. Giáo dân miền Bắc, không phải Thái Hà, mà nói đúng ra toàn dân trong thành phố Hà Nội, rộng hơn là toàn dân của các giáo xứ thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội thuộc các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Tây và Hà Nội.

Rộng rộng hơn nữa là hầu hết các giáo xứ tham gia, biết bao các cha xứ, biết bao nhiêu cha Quản hạt, biết bao nhiêu Chánh trương, Trùm trưởng dẫn các đoàn của xứ mình từ Vinh, từ Bùi Chu, từ Thái Bình, từ Hải Phòng, từ Bắc Giang, Bắc Ninh, từ Sơn La, Hưng Hóa dẫn xuống Thái Hà.

Mặc dù là có khi xe bị công an bắn thủng lốp; có khi lái xe bị thu bằng, có khi người trên xe bị chặn lại, ngay cả Đức Cha Sang hay là Đức Cha Ngân hay là Đức Cha Đạt, nhiều khi dẫn các đoàn xe đến Thái Hà cũng bị công an chặn đường. Đoàn đông đảo nhất là đoàn Thái Bình, họ đang đi đến Hà nội liền bị chặn đường.  Đức Cha Sang vào nhà thờ Thái Hà chửi chính quyền một bữa rất là mạnh mẽ. Ngài là Giám mục vào nhà thờ dự lễ mà bị chặn đường thì ai mà không bị!

Nhưng mà chặn cũng có cái hay. Thí dụ xứ Thái Nguyên cha Nguyễn Đức Đạt dẫn một đoàn 11 xe xuống Thái Hà hiệp thông. Cái chữ mà nhà cầm quyền sợ nhất bây giờ là cái chữ “hiệp thông”. Ngài dẫn một đoàn 11 xe đến đến Ô Cầu Giấy công an chận lại không cho vào Thái Hà, lập tức cả 11 xe, mấy trăm người xuống đi bộ thành hàng dài tuần hành từ ngoại ô vào nội thành, trông rất đẹp đội hình!

Đấy là cháu nói về tinh thần liên đới hiệp thông trong toàn miền Bắc .Chính vì nó tạo cái phong trào toàn miền Bắc cho nên nhà cầm quyển mới không bóp mũi được chúng cháu chết, chứ chỉ sức chúng cháu không thì họ bóp mũi chúng cháu chết ngay!.

Đấy, cháu nói về Thái Hà đại khái như vậy, nhưng mà cái hay hơn nữa là người dân Thái Hà, người dân của giáo phận Hà Nội và người giáo dân ở miền Bắc họ trưởng thành trên nhiều phương diện không thể kể hết được. Trưởng thành về nhận thức về khả năng luật pháp, pháp luật. Trưởng thành về mặt tổ chức, trưởng thành về mặt truyền thông, truyền thông nhân dân, trưởng thành gọi là cái khả năng ứng phó trong những “tình huống khẩn cấp”.

Cháu đảm bảo khả năng ứng phó khẩn cấp, dân Hà Nội là tuyệt vời! Và cái khả năng đối phó với bạo lực của bạo quyền Cộng sản. Bạo lực Cộng sản rất mạnh thế mà người giáo dân Hà Nội họ tổ chức làm sao khiến cho cái bạo lực của bọn Cộng sản vô hiệu, cùng lắm đánh chảy máu mặt một tí và bạo quyền Cộng sản không có cơ hội, không có lý do để xử dụng bạo lực. Đang khi cộng đồng thấy Cộng sản VN hiện nay bạo lực thế nào.

Chẳng hạn ông Trịnh Thanh Tùng chỉ bênh vực một anh xe ôm lỡ nhấc cái mũ bảo hiểm ra sớm, chỉ bênh vực người kia thôi mà bị công an đánh chết! Xem đấy thì cộng đồng biết, cái bạo lực ở Việt Nam bây giờ phổ biến thế nào. Các làng ngoại giáo quanh Hà Nội đều bị họ quy hoạch, chiếm đất, đánh chết người như ngóe, bắt người bỏ tù là chuyện thường, còn đánh đập tàn ác dân thì vô cùng.

Nhưng mà không có ai lên tiếng thay cho họ, bởi thế mình không biết.

Còn đối với dân Thái Hà và Tòa Khâm Sứ, các cha, các thầy mới ăn vài cái dùi cui thôi! Mới ăn vài bãi nước miếng thôi! Mới bị xịt hơi cay thôi. Rồi mấy anh công an mặc thường phục giả dạng làm thanh niên xung phong mới đấm trộm được vài cái thôi. Còn chỉ có hô giết, giết, giết nhưng chỉ hô miệng thôi! Chứ còn đối với khối dân ngoài đạo kia, họ là nạn nhân của bạo lực kinh khủng hơn nhiều!

Xem vậy mới biết người giáo dân miền Bắc khéo léo thế nào để vô hiệu hóa bạo lực của Cộng sản. Và chúng ta xem hình của giáo dân miền Bắc, đố khi nào đối diện với bạo lực của Cộng sản mà họ sợ, thấy Cảnh sát cơ động họ coi như không, thấy cảnh sát giao thông cũng không, thấy nhân viên an ninh mặc thường phục họ cũng không sợ. Họ thấy là họ sẵn sàng lao tới.

Họ sẵn sàng đối diện, mắt đối mắt, mặt đối mặt! Tay không đối với súng đạn, họ không sợ đòn roi, không sợ súng đạn. Họ có sợ gì đâu, nhưng mà họ chỉ không xử dụng bạo lực thôi. Thấy chế độ nó đã sẵn có bạo lực rồi nên mình phải chủ trương hòa bình. Thấy cái xã hội nó bất công nên mình đòi công lý. Thấy cái xã hội nó giả dối nên mình đòi sự thật. Đòi công lý, hòa bình, sự thật thế thôi! Làm sao mình có cơ may sống trong bình an, hạnh phúc hơn, thế thôi. Họ không sợ bạo lực đâu, cộng đoàn cứ xem hình thì thấy.

Giới trí thức Hà Nội đến nói với chúng con điều này: “Chúng tôi cám ơn giáo dân của các ông vô cùng, giáo dân bên Công giáo các ông trình bày cho chúng tôi thấy một hình ảnh vô cùng đẹp. Từ trước đến giờ chúng tôi chỉ thấy một khả năng thay đổi chế độ đấy là khả năng bạo lực cách mạng, nhưng bây giờ với cái phong trào Thái Hà mà lan toàn miền Bắc thế này, mà luôn luôn xuống đường với đội ngũ chỉnh tề, trật tự, ăn mặc đẹp mắt, mặt mày vui vẻ, tươi tỉnh, thì chúng tôi thấy một cái khả năng thay đổi xã hội một cách rất là hiền hòa, rất là hòa bình, rất là đẹp, và rất là nhân bản, phù hợp với qui luật phát triển của thời đại”.

Đấy, các nhà trí thức nhận định như vậy, cái đó là cái lợi (HẾT)








Thánh Bernadette trong quan tài pha lê

Xác Thánh Bernadette Không Hư Thối

Có những thi thể không bị rữa nát qua thời gian dù không trải qua bất cứ sự can thiệp kỹ thuật nào. Hiện tượng có vẻ đi ngược với quy luật tự nhiên này được gọi là nhục thân bất hoại (incorruptible body).

Thánh Bernadette (Lourde, Pháp) là một ví dụ điển hình. Bà qua đời ở tuổi 35. Và 30 năm sau đó (1909), vì một nghi lễ tôn giáo, nhà thờ đã khai quật mộ. Đại diện nhà thờ, bác sĩ phẫu thuật và những người chứng kiến đã vô cùng kinh ngạc khi thấy thi thể của bà vẫn nguyên vẹn, dường như đang trong một giấc ngủ dài.

Bác sĩ phẫu thuật Tourdan đã ghi lại những gì ông quan sát được: “Cỗ quan tài của bà được mở ra dưới sự chứng kiến của mọi người trong đó có tôi. Di hài của Thánh Bernadette trong trang phục yêu thích của bà không hề có mùi xú uế. Khuôn mặt, bàn tay và cẳng tay lộ ra bên ngoài. Đầu của bà nghiêng sang một bên, miệng hé mở có thể nhìn thấy hàm răng trắng. Hai tay đặt trên ngực, vẫn giữ được lớp da hoàn hảo”. Gia đình của Thánh Bernadette đã làm lễ tắm rửa, thay quần áo và quan tài cho bà. Di hài của bà được đặt vào một vị trí mới sâu trong nhà mồ.

Vào năm 1913, Đức Giáo Hoàng Pius X phong Chân Phước cho Bernadette. Điều này đồng nghĩa với việc mộ của bà được mở ra một lần nữa. Việc này bị gián đoạn đến năm 1919 vì cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều kinh ngạc là ở lần khai quật này, di hài của bà vẫn nguyên vẹn.

Năm 1925, Thánh nữ Bernadette được Đức Giáo hoàng Pius XI phong Thánh. Lần thứ ba, mộ bà được mở ra. Di hài được đưa vào một quan tài bằng pha lê cho mọi người chiêm ngưỡng và quàn tại nhà nguyện ở Nhà thờ Lourder cho đến tận ngày nay vẫn còn, nếu có dịp xin mời các bạn đến thăm để được tận mắt chứng kiến.

Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (Đấng triệu tập Thánh Công Đồng Chung Vatican II năm 1962). Ngài qua đời ngày 03/06/1963 khi Công Đồng vẫn đang diễn ra, và sau đó Đức Hồng Y Montini lên ngôi với hiệu triều Đức Thánh Cha Phaolô VI tiếp tục Thánh Công Đồng.

Thi hài của ĐTC John XXIII được đặt ngay bên dưới chân bàn thờ chính của Đền thờ thánh Phêrô để dân chúng chiêm ngắm

38 Năm sau ngày ngài băng hà, Tòa Thánh tiến hành các thủ tục tôn phong Chân Phước cho ngài, khi mở quan tài để kiểm tra thì phát hiện xác chết của ngài không hề mảy may hư nát và thối rữa. Thời gian sau, ngài được tôn phong Chân Phước (Beautification) .

Hiện nay, thi hài của ĐTC Gioan XXIII đã được đưa lên đặt trong 1 quan tài bằng pha lê bên dưới bàn thờ chính của Đền thờ Thánh Phêrô để dân chúng có thể kính viếng và chiêm ngắm. Nét mặt ngài vẫn giữ nguyên sức sống và cơ thể không hề bị tẩm ướp bằng bất cứ loại hóa chất nào. Hầm mộ cũ trước đây nơi đặt quan tài của ngài bây giờ đã được thế chỗ bằng quan tài của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.







Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.


Thư hiệp thông

với Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy

 của Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền

26-03-2011

            Kính thưa

- Cụ Lê Quang Liêm, Hội trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy,

- Quý Chức sắc, Tu sĩ và toàn thể tín đồ thuộc Giáo hội PGHHTT


            Thời gian gần đây, đặc biệt trong tháng 3-2011, Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền chúng tôi (thuộc Giáo hội Công giáo Việt Nam) hết sức lo âu khi đọc được nhiều bản văn và tin tức về và của Cụ cũng như về và của nhiều chức sắc tu sĩ thuộc Quý Giáo hội, nhất là những bản văn và tin tức liên quan đến Đại lễ Đức Huỳnh Giáo chủ thọ nạn sẽ cử hành ngày 25/2 âl Tân Mão, tức 29-03-2011 tới đây.


            Trong tình nghĩa đồng bào ruột thịt, mối liên đới giữa các tôn giáo và sự hiệp thông cùng cảnh ngộ khổ nạn do nhà cầm quyền Cộng sản gây ra, chúng tôi xin có đôi lời gửi đến Cụ cùng toàn thể Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy:


            1- Chúng tôi cực lực phản đối sự đàn áp của nhà cầm quyền CS đối với Quý Giáo hội trong thời gian qua, đặc biệt là việc tiếp tục giam cầm và ngược đãi nhiều chức sắc, tu sĩ Hòa Hảo; việc tàn phá nhiều thánh thất thờ phụng và đạo tràng tu tập; việc sách nhiễu ngăn chận tín đồ trong các ngày đại lễ của Giáo hội; và gần nhất là việc cấm cản thành lập Đoàn Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo Yêu Nước. Đây là sự vi phạm trắng trợn quyền tự do tôn giáo.                                  



















Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ
(bị Việt Cộng thủ tiêu)


2- Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ việc Giáo hội -bất chấp mọi khó khăn- vẫn quyết tâm tổ chức Đại lễ kỷ niệm 64 năm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ thọ nạn tại Đốc Vàng năm Đinh Hợi (1947). Đây là biến cố đáng nhớ của Quý Giáo hội và đáng được nhà cầm quyền để yên cho tổ chức lễ kỷ niệm, nếu họ biết khôn ngoan và phục thiện, biết tôn trọng lịch sử và dân tình. Việc tung toàn bộ lực lượng công an cảnh sát ra hăm dọa sách nhiễu, cấm cản ngăn chận -thay vì bảo vệ an ninh cho dân và trật tự cho lễ- chỉ dồn tín đồ vào bước đường cùng, đổ thêm dầu vào ngọn lửa công phẫn vốn đã âm ỷ trong lòng mọi công dân và giáo dân từ lâu sống dưới ách cai trị độc đoán và tàn bạo của CS.


            3- Chúng tôi hết sức xúc động khi đọc được các Tuyệt mạng thư của ba nữ tín đồ Nguyễn Ngọc Hà, Lê Thị Mỹ Hạnh và Trần Thị Xinh mà hai trong số đó đang có thân nhân bị giam tù vì tranh đấu cho tự do của Giáo hội (Ông Lê Văn Sóc và Ông Nguyễn Thanh Phong).


Cả ba đã quyết tự thiêu nếu nhà cầm quyền CS đàn áp Đại lễ Đức Huỳnh Giáo chủ thọ nạn (theo gương cụ bà Nguyễn Thị Thu, cũng đã tự thiêu trong cùng Đại lễ ngày 19-3-2001, 25-2 âl năm Tân Tỵ). Ý muốn “đem xác thân phàm tục của mình làm một ngọn đuốc phá tan màn âm u tàn bạo quyết tâm tiêu diệt PGHH của đảng CSVN hầu lưu lại muôn đời một tấm gương chói rạng về khí phách của người phụ nữ PGHH” (thư của cô Lê Thị Mỹ Hạnh) làm cho chúng tôi -dù không hề muốn xảy ra- vẫn vô cùng khâm phục và do đó tha thiết ước mong nhà cầm quyền CS hãy suy nghĩ lại về chính sách đàn áp tiêu diệt Giáo hội PGHH Thuần túy.


Nếu chẳng may ba ngọn đuốc này bất đắc dĩ phải bùng cháy (không một ai thành tâm thiện chí và nặng đức hiếu sinh ưng muốn) thì mong rằng đó sẽ như ngọn đuốc của anh Mohammed Bouazizi bên Tunisia, đem lại mùa xuân tự do cho Đất nước VN và cho các Giáo hội.


            4- Chúng tôi kêu gọi lãnh đạo của mọi Giáo hội còn lại tại Việt Nam, trong tình liên đới tôn giáo và hiệp thông cảnh ngộ (vì tất cả chúng ta đều là nạn nhân của CS), hãy lên tiếng bênh vực Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy là Giáo hội bị đàn áp khốc liệt nhất, hầu góp phần ngăn chặn bàn tay bách hại tôn giáo cố hữu của Nhà cầm quyền vô thần Cộng sản từ hơn 60 năm rồi.


            5- Chúng tôi cũng kêu gọi lực lượng công an ba tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp hãy biết hành xử theo lương tâm và luật pháp chính đáng, chứ đừng trở thành công cụ đàn áp mù quáng của các lãnh đạo Cộng sản vốn ngày càng biến mình thành kẻ thù không những của đồng hương anh em mà còn của đồng bào dân tộc. Xin nhớ lấy lời của cụ Lê Quang Liêm trong Lời Cảnh báo tối hậu ngày 22-03-2011: “Nếu gây thù chuốc oán với nhau rồi một ngày nào đó chế độ sụp đổ -chắc chắn phải bị sụp đổ trong một ngày không xa- chừng ấy các đầu sỏ, chóp bu CS có nhiều tiền lắm của dự trữ sẵn ở ngoại quốc, họ sẽ lên máy bay vọt ra ngoại quốc để tiếp tục sống giàu sang phú quí, chỉ có các bạn phải ở lại VN để trả cái “nợ chung” đã vay thì thê thảm vô cùng...."  


            Cuối cùng, chúng tôi nguyện cầu Thiên Chúa ban bình an hạnh phúc cho cụ Hội trưởng và toàn thể Quý Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy, cũng như ban thành tâm thiện chí cho nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.

            Làm tại Việt Nam ngày 26-03-2011, cận lễ Đức Huỳnh Giáo Chủ thọ nạn.

Đại diện nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền:
- Linh mục Têphanô Chân Tín,

  Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn
- Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế
- Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế
- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh
--------------
----



"GIÓ SẼ MỪNG VÌ TÓC EM BAY..."


 Một lần nữa tôi có dịp theo chân một đoàn từ thiện đến Tây Nguyên. Tìm được địa điểm để có thể tiếp cận được đồng bào nghèo không phải dễ, những phẩm vật mang theo muốn trao đến trọn vẹn cho đồng bào nghèo càng không dễ chút nào. Chẳng biết cái cơ chế nào, cái luật lệ nào, cái thủ tục nào cứ phải phần trăm cho “các cấp, các ban ngành đoàn thể”, chẳng hiểu cái truyền thống hào hùng nào, cái đạo đức cách mạng nào biến những kẻ mang của cải chia sẻ cho người nghèo phải biết ơn “các cấp, các ban ngành đoàn thể” vì họ bố thí cho chúng ta cái quyền... làm từ thiện !


Nhưng thôi, tất cả cái gian lao đó, tôi đã thấy, nó không làm chùn chân những anh chị em Giáo Dân quảng đại, từ bi và nhân ái. 


Tôi học được nơi họ – những người thiện nguyện – rất nhiều, sự hy sinh, can đảm, kiên nhẫn và khôn khéo. Họ không nề hà gian khổ, không kìm nén cảm xúc và không thu vén cho họ, không tìm danh lợi. Chẳng ai, chẳng nơi nào lưu dấu tên họ, chẳng ai biết họ là ai. Sau những chuyến xe gập ghềnh gian lao, những công việc nặng học vất vả, những buổi thăm viếng bị vắt kiệt sức, trở lại phố thị, vệ sinh gột rửa bụi bặm, họ trở nên thoải mái khi trút sạch những gì không có nơi đô thị trừ một cái, họ vẫn còn mang theo vào bữa ăn tối những giọt nước mắt hào sảng dành cho những thân phận nghèo hèn, kém may mắn, mà họ đã gặp nơi các buôn làng, họ đã khóc thật nhẹ nhàng, thật thoải mái khi cùng nhau nhắc lại những cuộc gặp gỡ vừa qua.


Những buôn làng tôi đã đi qua, thật nghèo, cái nghèo cùng kiệt không tả hết, những mái nhà hiu quạnh, rách nát, những con heo tộc bụng gần sát đất rong chơi tìm kiếm thức ăn cùng với những đứa trẻ mặt mày lem luốc ngơ ngác, những cái váy khô cứng xếp lớp như những miềng nhựa quấn quanh người, những cái đầu tóc không thể nào bay cho dù gió đại ngàn có cuồn cuộn kéo ngang, nó bện vào nhau, vàng cháy, khẳng khiu như những nhánh rễ cây đan quyện trên mặt đất. Những mái đầu ấy nếu được tắm gội, được chải chuốt, được đặt lên đó một nhánh hoa rừng, nếu những vòng tay đen cáu được sạch sẽ, được mang sách vở đến trường, được những miếng bánh mì lót lòng buỗi sáng, nếu những bàn chân trần có được đôi dép, tung tăng những bước chân chim với bạn bè, xếp hàng ngay ngắn trước thầy cô, hẳn số phận họ được thay đổi...


Những căn nhà bằng gỗ tồi tàn không còn nguyên vẹn, dáng kiểu nghiêng nghiêng như những triền dốc của núi đồi, hợp thành một bức tranh lạ kỳ, màu đen mốc thếch như những vạt đồi xa xa còn trơ lại đất cát sau những đám cháy nhuộm đen những gốc cây trơ trọi. Cái nghèo không thể xiết !Chúng tôi mang đến một số phần quà như đã được nhóm tiền trạm báo trước, không ngờ số người đến nhận lại vượt quá con số dự trù.


Tìm hiểu mới biết số người tăng thêm đến từ các buôn làng khác. Dân thành phố mình quen tính toán, thi nhau đưa ra giải pháp, bớt mỗi phần bao nhiêu ký để có thêm số phần cho đủ, nhưng người dân tộc tính khác, họ bảo: “Đổ chung đi, rồi cứ chia đều, thế là tốt, cùng là đồng bọn mà !” Chân chất và thật thà đến ngạc nhiên. Chúng tôi học được nhiều bài học từ núi rừng, hồn nhiên và trong sáng như thế đó...


Về lại thành phố, lòng tôi vẫn còn vương vấn, chuyến đi chớp nhoáng, thật nhanh và rút gọn, không biết lần sau có đến được vùng này nữa không, tai tôi vẫn còn ray rứt lời dặn của người môi giới: “Phát quà thôi, không được nói gì về tôn giáo”. Và một lời khác nữa của già làng: “Cán bộ dặn là không theo đạo để được là xã anh hùng !” Chúng tôi có nói gì về đạo đâu nhỉ, chỉ xin chia sẻ trong tình nghĩa làm người với nhau mà cũng khó dễ sao !?!


Bao giờ thì... "gió sẽ mừng vì tóc em bay ?"
Lm. VĨNH SANG,

Dòng Chúa Cứu Thế, 23.2.2014
 

 Công bố thống kê mới nhất của Giáo Hội Công Giáo
Lm. Trần Đức Anh OP3/25/2015 
VATICAN. Số tín hữu Công Giáo, LM và Phó tế vĩnh viễn gia tăng trong Giáo Hội, nhưng số tu sĩ nam nữ tiếp tục giảm sút.
Trên đây là nội dung Niên Giám Thống kê của Giáo Hội hoàn cầu được hoàn tất trong tháng 2 và được Tòa Thánh công bố trong tháng 3 này, trình bày tình trạng Giáo Hội Công Giáo tính đến ngày 31-12-2013.
Theo đó, trên toàn thế giới có 1 tỷ 253 triệu người Công Giáo tức là tăng thêm 25 triệu, nghĩa là tăng 2% so với năm trước đó. Sự tăng trưởng của các tín hữu Công Giáo có phần nhiều hơn so với tỷ lệ gia tăng dân số thế giới và hiện chiếm 1,7% dân số hoàn cầu.
Cũng như những năm trước đây, Niên Giám Mới của Giáo Hội Công Giáo ước lượng có khoảng 4 triệu 800 ngàn tín hữu Công Giáo không được ghi trong thống kê vì họ ở những quốc gia không thể cung cấp các con số chính xác cho Tòa Thánh, ví dụ Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.
Theo thống kê mới, người Công Giáo đông nhất vẫn là ở Mỹ châu, chiếm 63,3% dân số đại lục này, tiếp đến là Âu Châu chiếm 39,9% và dân Công Giáo tại Á châu có tỷ lệ thấp nhất, chỉ chiếm 3,2%.
Posted on 08 Feb 2016
TOP
back to Audio FreeViet INDEX
RSS  FreeVietNews-Audio
  • Hữu Loan: cố thi sĩ bất khuất của Nhân Văn Giai Phẩm
  • Diễn Hành Cờ Vàng ở Spokane 5/20/2017
  • Nội Dung (2) Đại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2017/Spokane
  • Slideshow: Đất Nước Tôi- My Nation (bilingual)
  • Nội dung Đại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2017, Spokane
  • Tuyên ngôn + Đại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương / Spokane 2017
  • GS Vũ Quý Kỳ: Cuộc Bầu cử Hoa Kỳ 2016
  • Trung cộng làm cá chết, biển độc
  • Cố Gs Lưu Trung Khảo: Lạc Quan, Tin Tưởng và Hy Vọng
  • Muôn nghìn đời dạt dào chính khí Việt
  • TUYÊN NGÔN Ngày Truyền Thống + Cờ Truyền Thống và Tự Do + Vinh danh Cựu Chiến Binh Việt Nam --SPOKANE
  • Trần Phong Vũ: Một chế độ bạo tàn, không tim óc
  • 25 AUDIO NHẬN ĐỊNH VÀ CHÚC TẾT 2016
  • Gs Nguyễn Ngọc Bích: Chế độ đã đến ngày tàn!
  • Gs Nguyễn Lý Tưởng: Cùng tắc biến, biến tắc thông
  • Đức Giám Mục Nguyễn Văn Long: Hãy cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi!
  • Mặc Giao: Can trường cứu Nước cứu nhà!
  • Nguyễn Tầm Thường: suy niệm & cầu nguyện
  • AUDIO Hồi Ký, Bút Ký, Bình Luận
  • Chữ và Nghĩa (Đoàn Thế Ngữ)
  • 40 Năm: Lm Phan văn Lợi nghĩ gì?
  • Gs Vũ Quý Kỳ: 30/4/75 Lesson
  • GS Nguyễn Lý Tưởng: TS Roland Jacques & Quốc Ngữ
  • THƯƠNG TIẾC VIỆT DZŨNG!
  • Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện
  • Collection 2_ Sinh Hoat Ca (32)
  • Collection 1_ Sinh Hoat Ca (40)
  • 28 AUDIO Quý Tỵ 2013 từ Hoa Kỳ
  • 70 NĂM TÂN NHẠC MIỀN NAM (1930-2000)
  • Công Giáo Miền Bắc chống nhà nước VC!
  • Mãi mãi dòng thơ HOA ĐỊA NGỤC
  • Tôi Phải Sống -- Hồi ký đời tù của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
  • Tiến sĩ Nguyễn văn Lương: HẠN CHẾ DU LỊCH & GỞI TIỀN
  • TỘI ÁC KINH KHỦNG của Đảng Cộng Sản Trung Quốc!
  • Buồm cao ghi dấu can trường
  • 4 cuốn Sách Pháp viết về 30-4-1975: Pierre Darcourt, Jean Lartéguy, Olivier Todd, Vanuxem
  • VIỆT KHANG: Lòng nào làm ngơ trước NGOẠI XÂM?
  • 33 BÀI NHẬN ĐỊNH & CHÚC TẾT ĐỒNG BÀO VIỆT NAM
  • THÁI HÀ đấu tranh quyết liệt!
  • LM Nguyễn văn Khải: giáo dân xông vào nơi hiểm nguy!
  • TS Nguyễn Xuân Nghĩa: Giờ Giải Ảo + Bên Kia Màn Khói
  • Ts Phan Văn Song: Tinh thần Đại Việt giữ nước và cứu nước
  • Ts Nguyễn Đình Thắng: Muốn thay đổi, phải hành động!


    Các Đài Phát Thanh Việt Ngữ
    hướng về Việt Nam:

    » VOA: 5:30 giờ sáng ||  8 giờ tối  ||  10 giờ khuya  (chương trình trong ngày) hay các chương trình lưu trữ.
    » BBC phát thanh từ Luân Đôn: 9:30 tối
    » RFI (Radio France Internationale) LIVE 9:00 tối hay các chương trình lưu trữ
    » RFA: 6:30-7:30 sáng || 9-10 giờ tối LIVE
    hay các chương trình lưu trữ trong 7 ngày qua
    » VERITAS - Chân Lý Á Châu
    » Đài Phật Giáo Việt Nam

    Các đài phát thanh từ Hoa Kỳ:

    » Radio Bolsa
    (6-12pm-- 6-10pm / Mon-Fri)
    - Nam Calif. LIVE
    - Bắc Calif. LIVE
    » Little Saigon Radio
    - Nam Calif. LIVE 
    - Houston LIVE
    » Việt Nam Hải Ngoại LIVE
    » Saigon Radio Hải Ngoại LIVE


    « FreeVietNews.com


  •  



     


    Radio Việt Ngữ

    Các Đài Phát Thanh Việt Ngữ hướng về Việt Nam:

    .

     Các đài phát thanh trong lãnh thổ Hoa Kỳ:

    • Radio Bolsa - LIVE
      (6-12pm-- 6-10pm / Mon-Fri)
    • Little Saigon Radio
      - Nam Calif. LIVE -- Houston LIVE
    • Việt Nam Hải Ngoại LIVE
    • Saigon Radio Hải Ngoại (4-10pm / Mon-Fri) LIVE
      Services | © 2008 - 2017