40 Năm: Lm Phan văn Lợi nghĩ gì?

 

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi: Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cướp

Lời giới thiệu: Từ tháng 8/1945 khi cướp được chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện cai trị đất nước bằng nền chuyên chính vô sản - một chế độ độc tài toàn trị khắc nghiệt - các quyền làm người, các nguồn tài nguyên của đất nước, tài sản của nhân dân bị cướp đoạt. Việt Nam ngày càng lún sâu vào con đường tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đời sống người dân lao động ngày càng khó khan, cơ cực.
 
Từ thành phố Huế, Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi đã tố cáo những thủ đoạn cướp đoạt thô bạo của đảng cộng sản và khẳng định đảng CSVN là một đảng cướp.
 
Cuộc phỏng vấn do nhà báo Trần Quang Thành thực hiện.
 
Nhà báo Trần Quang Thành: Thưa linh mục Phan Văn Lợi. Việt Nam ta suốt 70 năm qua đã chịu sự thống trị của đảng CSVN. Ở miền Bắc là 70 năm, ở miền Nam là 40 năm. Người CSVN khi lên cầm quyền ở VN, họ rất tự hào về chuyện họ đã cướp được chính quyền. Chữ “cướp” của họ, họ rất tự hào. Linh mục nghĩ sao về việc “cướp” của đảng CS? Khác thế nào với những việc cướp khác?
 
Linh mục Phan Văn Lợi: Kính thưa Quý vị, về việc đảng CS tự hào đã “cướp”, chúng ta có nhiều điều để nói. Tôi xin được trình bày qua hai điểm chính. Thứ nhất là nhận xét chung về việc cướp của đảng CS, và thứ hai là đối tượng cướp, tức là đảng CS đã cướp những gì của Dân tộc VN.
 
I- Nhận xét chung
 
- Phạm vi cướp: Thông thường, một đảng cướp có phạm vi hoạt động trong một khu vực nhỏ: một ngôi nhà, một cơ sở, hoặc cùng lắm là một vùng nào đó. Và tức khắc bị nhà cầm quyền trấn áp tiêu diệt. Đảng CS thì khác, nó cướp bóc cả một quốc gia, nó khống chế cả một dân tộc. Tiếng nước ngoài gọi là banditisme international: Hệ thống cướp bóc quốc tế.
 
- Mức độ cướp: Vì đã cướp được chính quyền và chủ trương toàn trị trong tư cách một nhà cầm quyền, nên đảng CS cướp toàn diện từ vật chất đến tinh thần, từ cá nhân đến tập thể, như ta sẽ thấy dưới đây

- Phương cách cướp: Có 2 phương cách: bạo lực và dối trá, đúng như bản chất của đảng CS.

- Bạo lực hành chánh và bạo lực vũ khí. Bạo lực hành chánh này gồm có những bộ luật tước đoạt các nhân quyền và dân quyền, bộ máy hành chánh địa phương gây khó dễ hay đòi hối lộ, từ khước hay chấp thuận cách tùy tiện. Bạo lực vũ khí có thể là lực lượng trấn áp đông đảo gồm công an, quân đội, dân phòng, côn đồ, với dùi cui, hơi cay, còng sắt, vũ khí, nhà tù.
 
- Nhồi nhét dối trá và cưỡng bức dối trá. Nhồi nhét dối trá là bịa ra những điều không có thật về lãnh tụ (ví dụ cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Bác Hồ, của tác giả Trần Dân Tiên vốn là chính ông Hồ), về thành tích của đảng, về đối phương, bịa ra các anh hùng cách mạng (như Lê Văn Tám) để buộc người dân (nhất là giới trẻ) tin theo. Khẩu hiệu “Nghe theo đảng, nói theo đài” là cái mà chúng ta thường nghe nhắc tới. Cưỡng bức dối trá là buộc người dân phải sống trong dối trá, không được nói lên điều mình cảm thấy, điều mình suy nghĩ, sống hai lòng, kẻo phải thiệt hại vào bản thân, vào gia đình.
 
- Tác giả thiết kế việc cướp: Nhìn cho sâu, sẽ thấy đó là người đã thiết lập chế độ và đảng CS ở Liên Xô, tức Vladimir Illich Lenine, tiếp đó Staline đã khai triển phương cách, thủ đoạn cướp chính quyền, rồi các lãnh tụ Cộng sản tại mỗi quốc gia mà họ nắm quyền.
 
Đó là những nhận xét chung về việc cướp của đảng CS.
 
II- Các đối tượng cướp
 
TQT: Đảng CS đã bộc lộ sự cướp đó từ năm 1945. Linh mục có thể nói rõ hơn về việc đi cướp của đảng CS với chính quyền mà họ nắm ở Việt Nam được không?
 
PVL: Trong hơn 70 năm ở miền Bắc và 40 năm khắp cả nước, chúng ta thấy đảng CS đã cướp được 7 thứ. Chúng tôi gọi là 7 đối tượng cướp của nhà cầm quyền CS. Số 7 thường chỉ sự trọn vẹn.
 
1- Cướp quyền lực chính trị bằng quân đội và bằng quốc hội
 
- Trước tiên là cướp chính quyền từ chính phủ hợp pháp Trần Trọng Kim năm 1945. Điều này, ngày nay ai cũng rõ. Việt Minh cướp chính quyền, buộc chính phủ Trần Trọng Kim phải từ chức và vua Bảo Đại phải thoái vị, để nhường chỗ cho Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và đảng CS. Sau đó, đảng CS còn thanh toán các đảng phải quốc gia như Việt Nam Quốc dân đảng, đảng Đại Việt (vụ án phố Ôn Như Hầu năm 1946),
 
- Tiếp đó, cướp chính quyền từ chính phủ hợp pháp VNCH mà cuối cùng là chính phủ Nguyễn Văn Thiệu. Bịa ra danh nghĩa “Chống Mỹ cứu nước” để dốc toàn lực miền Bắc xâm lăng chế độ Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam. Trong công cuộc ăn cướp này, có sự trợ giúp của Nga, Tàu và nhiều nước Cộng sản Đông Âu.
 
- Sau khi cướp toàn bộ đất nước, CS quay sang cướp chủ quyền từ tay nhân dân bằng thể chế tam quyền phân công thay vì tam quyền phân lập. Hành pháp, lập pháp, tư pháp đều là công cụ trong tay đảng. Đảng phân công cho mỗi ngành. Mới đây, đảng họp đại hội lần thứ 12, lại tự tiện chọn trước thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội là những con người mà nhân dân nhìn vào đã thất vọng ngay, thậm chí lo sợ.
 
- Thiết lập một Quốc hội mà tuyệt đại đa số là đảng viên, qua một cuộc bầu cử độc diễn, giả tạo và cưỡng bức. Quốc hội trở thành đảng hội. Dân biểu trở thành đảng biểu.
 
2- Cướp sự thật bằng độc quyền thông tin.
 
- Con người sống, xã hội vận hành nhờ tôn trọng sự thật, nhưng đảng CS lại đoạt hết sự thật. Ngay khi vừa cướp chính quyền ở Hà Nội, thì Việt Minh đã nắm ngay tất cả những phương tiện truyền thông, đài phát thanh, các nhà máy in, các cơ sở sản xuất giấy và buôn bán giấy. Báo Cứu Quốc của mặt trận VM trước đây phát hành bí mật, nay ra công khai từ ngày 24-8-1945. Báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận của nhà nước VM, xuất bản số đầu tiên ngày 5-12-1945.

Việt Minh thành lập ban chỉ đạo báo chí và văn sĩ, huấn luyện cán bộ tuyên truyền cho chế độ để hướng dẫn quần chúng. Đảng cũng hoàn toàn cấm mọi báo chí khác không phải của đảng (dù của tư nhân hay của tôn giáo). Sau khi xâm chiếm VNCH, đảng cũng làm y như vậy.

Ngoài ra đảng còn mở chiến dịch tịch thu thiêu hủy những sách báo của chế độ cũ mà đảng gọi là “văn hóa phản động Mỹ ngụy”, mở chiến dịch tấn công, bắt bớ, bỏ tù những nhà báo, nhà văn mà đảng gọi là “lực lượng biệt kích văn hóa chống chế độ”
 
- Hiện giờ thì đảng nắm trong tay mọi tờ báo đủ loại (báo in, báo tiếng, báo hình, báo điện tử), quản lý hết mọi tổng biên tập, biên tập viên, phóng viên dưới quyền Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương. Mỗi tuần đều họp các tổng biên tập để ra chỉ thị nói gì, viết gì, không ai được chệch ra ngoài.
 
- Đảng cướp sự thật bằng cách trấn áp mọi ai dám tìm hiểu, công bố hay bênh vực sự thật. Bằng nhiều bộ luật và khoản luật về thông tin, về báo chí, về internet, bằng lực lượng công an mạng, bằng dư luận viên cấp cao và cấp thấp vốn nằm trong Hội đồng Lý luận trung ương, Học viện chính trị Hồ Chí Minh hoặc là đám dư luận viên mà mỗi ngày dùng lời lẽ vu khống, tục tằn để tấn công các nhà dân báo trên mạng. Rồi với biện pháp tịch thu sách báo, dựng tường lửa, đánh sập trang mạng, vu không thóa mạ, bắt bỏ tù. Ông Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm), ông Nguyễn Ngọc Già là vài ví dụ tiêu biểu.
 
- Đảng cũng cướp sự thật bằng cách tước đoạt máy ảnh, máy quay, máy vi tính của công dân, để phi tang mọi dấu vết. Thông tư của Bộ Công an do đích thân Bộ trưởng Trần Đại Quang, người mới được đề cử làm Chủ tịch, ký tháng trước, quy định các nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông.

Theo thông tư đó thì cảnh sát giao thông từ ngày 15/2 “có quyền kiểm tra giấy tờ của người ngồi trên phương tiện đang bị kiểm soát”, và “được trưng dụng các loại phương tiện”. Một điểm gây tranh cãi nhất trong thông tư là đoạn nói cảnh sát giao thông “được trưng dụng các loại phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc; các phương tiện, thiết bị kỹ thuật khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người điều khiển; sử dụng các phương tiện, thiết bị đó theo quy định của pháp luật”. Công luận cho rằng các cảnh sát từ đây sẽ “thủ tiêu” một cách hợp pháp các bằng chứng về hành vi ăn hối lộ mà người dân quay lén bằng cách “trưng dụng” điện thoại của họ. Từ “trưng dụng” này chất chứa rất nhiều ý nghĩa.
 
Trên đây là nói về những thông tin thời sự, sự thật thường ngày. Nhưng đảng CS cũng cướp sự thật lịch sử bằng cách bóp méo, xuyên tạc những sự kiện lịch sử mà đảng thấy không có lợi cho mình hoặc bịa đặt những điều mà đảng thấy hữu ích cho quyền cai trị của đảng. Việc này được thực hiện trong các sách nghiên cứu sử hay giáo khoa sử. Thế nhưng nó đã gây phản tác dụng là chẳng nhà nghiên cứu nghiêm túc nào sử dụng tài liệu của đảng và hầu hết học sinh, sinh viên, thầy giáo đều khinh môn học sử, chê giáo khoa sử.
 
3- Cướp tinh thần (tâm hồn) giới trẻ bằng độc quyền giáo dục.
 
Đảng chủ trương giáo dục giới trẻ không thành những công dân ý thức, tự do, độc lập và trưởng thành nhưng thành những thần dân ngoan ngoãn, mù quáng và nô lệ. Ngoan ngoãn nghe lời đảng và mù quáng đi theo đảng, Đảng chủ trương hồng hơn chuyên, nặng về chính trị hơn văn hóa. Ngay từ nhỏ, trẻ đã được dạy thói quen gian dối và lừa đảo, kỹ năng theo dõi và báo cáo, khuynh hướng báo thù và bạo lực. Điều này ai cũng thấy rõ.
 
Việc cướp tinh thần giới trẻ còn thể hiện qua việc đoàn thể hóa giới trẻ bằng đội thiếu nhi Tiền phong, đoàn thanh niên Cộng sản, để vừa nhồi sọ, vừa cưỡng tâm những tâm hồn trẻ trung đó.
 
Rồi qua việc đảng viên hóa những nhà quản lý giáo dục và những lãnh đạo giáo dục (tức các hiệu trưởng) để họ luôn chấp hành đường lối giáo dục của đảng. Ngoài ra đảng còn làm băng hoại lương tâm và đức hạnh của các cô thầy. Bệnh thành tích, nạn đổi tình hay đổi tiền lấy điểm, não trạng cấm cản học sinh sinh viên biểu tình yêu ước, phê phán chế độ, đòi hỏi dân chủ… là những ví dụ.
 
Cướp tinh thần giới trẻ bằng cách chính trị hóa sách giáo khoa, nhất là các môn sử, văn và công dân, để giới trẻ chỉ thấy đảng là đạo đức văn minh, là thiên tài kiệt xuất, đỉnh cao trí tuệ, “bác Hồ” là nhân vật xuất chúng, tâm gương thập toàn, vĩ nhân số một của lịch sử Việt Nam.
 
Đảng còn xuyên tạc Việt sử là một lịch sử chống Tàu, và có âm mưu xóa dần môn sử để làm cho giới trẻ không còn lòng yêu nước thương nòi, lòng tự hào dân tộc, lòng quý chuộng các tổ tiên anh hùng, nhất là để dễ dàng chấp nhận việc Việt Nam lệ thuộc Tàu, sát nhập vào Tàu.
 
4- Cướp lương tâm con người và đạo đức xã hội bằng cách tạo ra một văn hóa mới và một bầu khí vô thần.
 
- Đảng đẻ ra một thứ văn hóa riêng của chế độ gọi là văn hóa xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Khoa Điềm, từng đứng đầu ban Văn hóa Tư tưởng trung ương, có đưa ra khái niệm “văn hóa đảng” (từ đó đẻ ra thêm “làng văn hóa”, “khu phố văn hóa”, “gia đình văn hóa”. Từ nhiều năm nay, đảng phát động chủ trương tôn thờ lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh, đặt tượng ông ta trong nhiều đình chùa, bên cạnh các thành hoàng, các anh hùng dân tộc. Thậm chí còn gọi vong linh của ông, chiêm bái thờ lạy ông như một vị Phật (đạo bác Hồ!).
 
- Đảng tạo ra một thứ đạo đức riêng của chế độ, gọi là đạo đức cách mạng (từ ngữ này phát xuất từ chính ông Hồ). Thứ đạo đức có có hai nguyên tắc chủ yếu: (1) mọi cái gì có lợi cho cách mạng, cho đảng đều là chân, thiện, mỹ, dù trong thực chất có thể là dối trá, ác tà, xấu xa, đê tiện; (2) cứu cánh biện minh cho phương tiện, nên có thể dùng những cách thức vô đạo đức nhất để tiến đến mục tiêu.
 
- Đảng tìm cách tiêu diệt các tôn giáo bằng bạo lực hành chánh hay bạo lực vũ khí, làm cho tôn giáo biến mất sự hiện hữu hay biến mất bản chất của mình, biến các lãnh đạo tinh thần hoặc thành những công cụ tuyên truyền, hoặc thành những tác nhân thỏa hiệp, hoặc thành những chậu kiểng trang trí, hoặc thành những con chó câm (nói theo kiểu Công giáo, tức là có nhiệm vụ sủa lên để báo động, nhưng lại không sủa).

Đảng tìm cách tạo ra những khu vực hoàn toàn vắng bóng tôn giáo, đặc biệt tại những vùng sâu vùng xa, nơi các bản làng dân tộc thiểu số, hoặc tại khu đô thị mới Thủ Thiêm chẳng hạn. Xóa hết, không cho có chùa nào, nhà thờ nào, dòng tu nào hiện diện. Để những nơi đó chỉ còn ý của đảng, luật của đảng điều khiển lương tâm và xã hội.
 
5- Cướp tài nguyên quốc gia bằng độc quyền sở hữu đất đai và ưu đãi kinh tế nhà nước.
 
- Đảng đặt ra nguyên tắc hết sức bất công và man rợ: “Tài nguyên đất đai thuộc sở hữu của nhà nước”, nhân dân chỉ có quyền sử dụng. Cán bộ địa phương, đảng viên sở tại dùng chiêu bài quy hoạch để tước đoạt đất đai mà nông dân giữ từ bao đời, để chia chác cho nhau hoặc bán đứt hay cho người ngoại quốc thuê mướn. Cưỡng chế bằng bạo lực, bồi thường kiểu giết dần mòn, tức là dùng công an, côn đồ để cướp lấy, đánh đập, áp chế người đang giữ đất đai; sau đó thí cho một số tiền bồi thường không đủ để họ tiếp tục sống, thậm chí không đủ để mua một mảnh đất mới, một ngôi nhà mới.
 
Cướp tài sản còn bằng cách bóc lột công nhân với mức lương rẻ mạt (lương công nhân VN vào hạng rẻ nhất thế giới), rồi với những điều kiện sinh hoạt tồi tệ, với việc cấm đoán thành lập công đoàn riêng của mình.
 
Bằng việc xuất khẩu công nhân ra nước ngoài để trước hết lấy tiền đăng ký/ký quỹ của họ (cả trăm triệu) từ những con người rất nghèo khổ, rồi bỏ mặc họ cho sự bóc lột của các ông chủ ngoại quốc mà không mấy khi can thiệp.
 
- Đảng còn cướp tài nguyên quốc gia bằng cách đem lãnh hải (đảo, vùng biển), lãnh thổ (rừng, đất, cảng) nhượng, bán cho nước ngoài hoặc cho người ngoại quốc (đặc biệt Trung Quốc) thuê mướn 50 năm, thậm chí 70 năm, như tại Vũng Áng. Nhất là những vị trí mang tính cách chiến lược, có tầm quan trọng quốc phòng. Quý vị thấy phi trường quân sự Nước Mặn ở Đà Nẵng, bây giờ bị vây chung quanh bởi những ngôi nhà, những khu đất của người Tàu. Tại sao lại để như vậy?
 
- Rồi với chủ trương kinh tế quốc doanh chủ đạo, ưu đãi các công ty và tập đoàn nhà nước, đó là cướp cơ hội kinh doanh bình đẳng của các doanh nghiệp tư nhân. Cho nên từ mấy năm nay đã có hàng trăm ngàn doanh nghiệp tư nhân phải phá sản vì không có đủ điều kiện để tồn tại trong nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa này.
 
- Cần phải nói thêm việc ăn cắp tài sản của công dân tại phi trường, bưu điện; ăn cướp tài sản của công dân bởi lực lượng công an. Công an bây giờ không phải chỉ chận đánh những nhà đấu tranh, dân oan, mà kèm theo đó là cướp máy móc, thậm chí cướp tiền, đôi khi còn lột sạch quần áo của họ.
 
6- Cướp công lý bằng cách công cụ hóa bộ máy tư pháp
 
Chúng ta thấy từ cảnh sát điều tra, kiểm sát công tố đến quan tòa xét xử hầu như luôn toa rập với nhau. Bản kết luận điều tra của cảnh sát cũng được công tố duyệt xét ngay tắp lự rồi quan tòa cứ theo đó mà tuyên án, nhất là trong các vụ án chính trị. Trong nhiều vụ án kinh tế, nhiều khi cũng có sự toa rập như vậy. Xin lấy ví dụ vụ án “Con ruồi Tân Hiệp Phát”.
 
Trong giai đoạn điều tra, không cho bị can có sự trợ giúp của luật sư, trái lại còn dùng nhiều biện pháp để bức cung bị can, ngõ hầu sớm có kết luận điều tra mà trong đó thế nào bị can cũng có tội, không nhiều thì ít.
 
Công an điều tra, kiểm sát công tố, quan tòa xét xử còn thản nhiên nhận hối lộ của bên nguyên hay bên bị để làm lệch cán cân công lý
 
Ngoài ra, không mời thân nhân, không triệu tập nhân chứng, không cho luật sư trình bày đầy đủ. Ví dụ mới nhất là vụ sơ thẩm và phúc thẩm của em Nguyễn Mai Trung Tuấn.
 
Ngăn chặn công dân tham dự các phiên tòa để công dân chứng kiến được đâu là công lý. Ngăn chặn để có thể cướp công lý mà không sợ người ta dò xét.
 
Một hình cướp công lý khác là mới đây còn đánh cả luật sư. Trong vụ “bụi đường Chương Mỹ”, hai luật sư đã bị đánh khi muốn đi tìm công lý cho em Đỗ Đăng Dư. Nhiều luật sư khác còn bị đe dọa, như luật sư Võ An Đôn chẳng hạn.
 
7- Cướp ý chí của công dân bằng một bộ máy trấn áp
 
Trấn áp qua một hệ thống theo dõi, kiểm soát, trấn áp rộng rãi: công an, quân đội và Mặt trận Tổ quốc (trong đó có các xã hội dân sự quốc doanh; các tổ chức này đều khống chế các thành viên để cướp ý chí của họ).
 
Cướp ý chí đó vì mục đích gì?
 
- để làm cho người dân dửng dưng trước những tệ trạng và thảm nạn trong xã hội,
 
- để làm cho người dân bất quan tâm trước an nguy của đất nước, trước việc đảng và nhà cầm quyền quỵ lụy kẻ thù phương Bắc. Bằng chứng là đảng đã trấn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc
 
- để làm cho người dân không dám bàn chuyện chính trị và tham gia hoạt động chính trị (bằng khẩu hiệu “Để đảng và nhà nước lo!”)
 
- để làm cho người dân sợ hãi không dám phản kháng đòi lại các quyền con người, quyền công dân và quyền đất nước.
 
Ngoài ra và cụ thể hơn, đó là cướp ý chí của các đảng viên đến nỗi họ không dám rời bỏ đảng dù cuối cùng biết đảng chỉ là một tổ chức tội ác; rồi cướp ý chí các nhà tu hành là những người có phận sự trước hết và trên hết là công bố và bênh vực sự thật, đòi hỏi và bảo vệ công lý. Nhưng có rất nhiều nhà tu hành hoàn toàn im lặng trong khi bổn phận của họ là phải lên tiếng vì công lý và sự thật. Điều ấy chứng tỏ đảng đã cướp ý chí của họ rồi. Và đây là mối nguy cho đạo.
 
Trên đây là 7 đối tượng cướp mà chúng tôi thiết nghĩ có thể cho thấy phạm vi, tầm mức ăn cướp của đảng CSVN.
 
Kết luận:
 
TQT: Thưa Lm PVL, 70 năm dưới nền chuyên chính vô sản của cả nước, đặc biệt 40 năm qua sau khi miền Nam rơi vào tay CS, chế độ công an trị ngày càng xuất hiện. Họ dùng hai gọng kìm, một là bạo lực trên thể xác, hai là bạo lực trên tinh thần để khép cổ nhân dân ta. Nhưng phải chăng nhân dân ta đã chịu khuất phục họ hay đang dần dần phá tan hai gọng kìm đó?
 
PVL: Phải nói thật rằng 70 năm ăn cướp của đảng CS đã làm cho đất nước tan hoang, văn hóa suy đồi, đạo đức tiêu biến, kéo theo nhiều hậu quả khác là nền giáo dục xuống cấp, kinh tế lụn bại, môi trường ô nhiễm, nhất là quốc phòng ngày càng bấp bênh. Nhưng chính thái độ, hành vi ăn cướp bằng bạo lực và dối trá đó đã gây một dị ứng nơi con người. Con người tự nhiên dị ứng với bạo lực và dối trá, chỉ chấp nhận công lý, sự thật và tình thương. Nên chúng ta thấy chính sách ăn cướp mọi mặt của nhà cầm quyền làm cho người dân ngày càng công phẫn.

Những việc lên tiếng của cá nhân, của tập thể, của các tổ chức xã hội, của các tổ chức tôn giáo ngày càng mạnh để đòi lại sự thật: sự thật về các vụ việc, sự thật về lịch sử, sự thật về bộ mặt xã hội, sự thật về đảng CS. Người ta còn lên tiếng đòi lại công lý: công lý cho mình, công lý cho toàn dân, công lý cho đất nước.

Người dân cũng lên tiếng để đòi lại tất cả những gì nằm trong quyền con người, quyền công dân như tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do lập đảng mà đã bị đảng CS tước đoạt. Đó là những dấu hiệu cho thấy người dân ngày càng muốn thoát khỏi ách của cái tổ chức ăn cướp “hợp pháp” này, để giành lại mọi quyền cho mình, cho toàn dân, để toàn dân có thể sống trong tự do, no ấm, phát triển.
 
TQT: Thưa linh mục, thời buổi nào đất nước ta cũng rất coi trọng vai trò của trí thức. Trí thức góp phần rất tích cực để khai sáng dân trí. Thời phong kiến cũng vậy, thời thực dân xâm lược cũng vậy. Ngày nay, trong thời buổi đất nước đang bị đe dọa bởi họa phương Bắc và họa cộng sản cũng vậy. Nhưng khi so sánh thì nhiều người thấy rằng việc khai sáng dân trí trong thời có nguy cơ tái Bắc thuộc và nguy cơ CS này có lẽ yếu hơn trong thời gian trước. Linh mục nghĩ sao về vấn đề này?
 
PVL: Như chúng tôi trình bày ở trên, CS triệt tiêu ý chí, triệt tiêu ý thức của người dân, nhất là giới sĩ phu, giới trí thức, giới lãnh đạo tinh thần (dân sự và tôn giáo) để làm cho người dân không còn được sự hướng dẫn của những trí tuệ. Ngay từ đầu, chúng ta đã thấy CS bách hại, đàn áp giới trí thức qua vụ Nhân văn Giai phẩm, sau đó qua các cuộc trấn áp các nhà trí thức sau khi chiếm được miền Nam, như tịch thu sách vở, bắt bớ các nhà văn nhà báo, các nhà tu hành. Việc đó vẫn còn tiếp tục, để làm cho việc khai dân trí không thể nào đạt được mức độ cần thiết. Mà khi đã không khai dân trí được, thì không thể chấn dân khí và càng không thể hậu dân sinh theo kiểu nói của cụ Phan Chu Trinh.

Thời bây giờ, đảng đã làm cho nhiều trí thức (đại đa số) im lặng, trùm chăn. Xin lấy ví dụ rất cụ thể: mới đây Hội Giáo chức Chu Văn An được thành lập, nhưng cho tới bây giờ, số các thành viên có lẽ vỏn vẹn đếm trên đầu ngón tay. Đáng lẽ các nhà trí thức phải vào hội này ồ ạt để chấn hưng văn hóa, chấn hưng giáo dục rồi từ đó chấn hưng tinh thần dân tộc VN
 
TQT: Linh mục vừa đặt vấn đề trí thức phải ngày càng tỉnh ngộ, đừng trùm chăn nữa, góp phần với nhân dân để đấu tranh thoát khỏi họa CS. Vậy để toàn dân chặn đứng được đảng cướp này để họ không tiếp tục hoành hành cướp tinh thần, cướp của cải của đất nước ta, thì chúng ta phải làm gì thưa linh mục?
 
PVL: Thưa Quý vị, chỉ có một điều quan trọng duy nhất là phải tống cổ đảng cướp này, không cho nó nắm quyền lực toàn trị, không cho nó tiếp tục cướp của người dân về vật chất lẫn tinh thần. Phải làm sao để cho đất nước chỉ còn có những con người hoạt động dưới sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và vì ích lợi của nhân dân mà thôi, chứ không vì ích lợi của nhóm, của đảng mình. Mong rằng tất cả mọi người VN trong lẫn ngoài nước đứng dậy để trước hết tiêu diệt chủ nghĩa CS tàn hại tâm trí, giải thể chế độ CS tàn hại xã hội, và đuổi đảng CS ra khỏi ghế quyền lực, vì họ đã chỉ làm những điều tai hại cho đất nước từ 70 năm qua mà thôi.
 
TQT: Xin chân thành cảm ơn Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi.











Phát biểu trên đài OMV4TV
ngày 30-04-2015

Email : ovm4tv@gmail.com; Ovm4tv.chicago@gmail.com

               1- Cha nghĩ gì về ngày 30 tháng 4?

             Về ngày 30 tháng 4 năm nay, có rất nhiều điều để nói. Tôi chỉ xin bày tỏ vài cảm nghĩ.

             a- Trước hết là ba nhận định: Nhận định thứ nhất, đây là một cuộc xâm lăng do đảng CSVN, theo lệnh CS Quốc tế, cụ thể là Nga và Tàu cộng, tiến hành đối với VNCH, một quốc gia chính danh, được quốc tế công nhận, nhằm mở rộng đế quốc đỏ xuống Đông Nam Á, chứ chẳng hề là một cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Cuộc xâm lăng này vừa vi phạm công pháp hoàn vũ, vừa vi phạm các hiệp định quốc tế về VN năm 1954 và 1973.

Nhận định thứ hai, đây là sự chôn vùi một chính thể dù còn bất toàn, nhưng vẫn là một chính thể dân chủ, có tam quyền phân lập, biết tôn trọng mọi nhân quyền và dân quyền, biết lo cho dân chúng được áo ấm cơm no.

VNCH lúc ấy chỉ có thua Nhật Bản, còn thì ngang bằng hoặc hơn các nước Đông Nam Á. Nhận định thứ ba, đây là bước khởi đầu cho việc áp đặt lên toàn thể Dân tộc và Đất nước một chế độ độc tài không những chuyên chế mà còn toàn trị: toàn trị chính trị, toàn trị kinh tế, toàn trị văn hóa, toàn trị xã hội, tiếp tục gây bao tang thương đổ vỡ cho người dân Việt Nam mãi tới hôm nay.

            b- Tiếp đến là ba nỗi đau. Nỗi đau thứ nhất là CS Hà Nội đã tàn phá cả miền Bắc lẫn miền Nam qua cuộc chiến tranh xâm lược, đẩy hàng triệu người dân hai miền vào chỗ chết để đảng CS chiến thắng, cướp đoạt tất cả giang sơn vào tay mình, khiến cho cả triệu nhân dân miền Nam phải bỏ nước ra đi và hàng chục triệu dân miền Bắc thấy mình bị lừa bịp trắng trợn.

Nỗi đau thứ hai là trong 40 năm qua, đảng CS lần lượt cướp hết mọi tài sản tinh thần và vật chất của toàn dân. Tài sản tinh thần là các quyền tự do của con người và các quyền tư do của công dân. Mọi người VN đều biến thành nô lệ của đảng. Tài sản vật chất là mọi tài nguyên của đất nước, từ trên đất xuống dưới biển. Toàn thể đất đai đều thuộc quyền sở hữu của đảng. Mọi người VN đều biến thành kẻ ở thuê và làm thuê cho đảng.

Nỗi đau thứ ba là vì chỉ cai trị đất nước bằng gian trá, bạo lực và duy ý chí, quản lý xã hội cách ích kỷ, tham lam và ngu dốt, đảng CS nay thất bại trên mọi mặt. Đang khi đó lại bị Tàu cộng khống chế, xâm nhập, trói buộc về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoài ra còn bị nhân dân vạch mặt, căm thù và muốn lật đổ, nên đảng CSVN sẵn sàng bán đứng đất nước cho Tàu cộng, chấp nhận để VN thành một tỉnh nhỏ của Tàu qua kế hoạch đã dự trù từ Hội nghị Thành Đô 1990.

            c- Tiếp nữa là ba quyết tâm: Thiển nghĩ quyết tâm thứ nhất là cộng đồng hải ngoại cần đoàn kết nên một để chống Cộng, bỏ qua những tranh cãi nhỏ nhen và tỵ hiềm nhỏ nhặt, biết hiệp nhất trong đa diện, xem cái chúng ta quan trọng hơn cái tôi, tôn trọng sự khác biệt trong phương cách đấu tranh miễn là có sự đồng nhất trong mục tiêu tranh đấu, trân quý những nỗ lực và thành tựu của nhau dù nhỏ đến đâu chăng nữa.

Quyết tâm thứ hai là cộng đồng quốc nội cũng cần đoàn kết nên một để chống Cộng: đoàn kết bên trong các giới nông dân, công nhân, trí thức, tín đồ, các nhóm đối kháng dân chủ và các tổ chức xã hội dân sự. Các giới này cũng cần đoàn kết với nhau: thành phần quần chúng đông đảo thì thành lực lượng, thành phần ít ỏi nhưng có tri thức và tổ chức thì thành người hướng dẫn, hai bên giúp nhau thực thi quyền lực của nhân dân.

Quyết tâm thứ ba là trong ngoài liên kết với nhau thành một, làm thành một Liên minh Dân tộc rộng rãi, để đương đầu với hai kẻ thù chung là đảng Việt cộng và đảng Tàu cộng vốn đang dựa lưng vào nhau để bảo vệ nhau. Đừng bao giờ nghe những giọng điệu hòa hợp hòa giải của Hà Nội. Hãy nhìn những sai lầm, tội ác và thất bại mà cả Việt cộng lẫn Tàu cộng đã gây ra cho đất nước 40 năm qua.

            2- Cha có nhận xét gì về sự kiện đang
xảy ra tại Dòng Chúa Cứu Thế Saigon?

             Những gì đang xảy ra tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn sau ngày có Tân Giám tỉnh và ban lãnh đạo mới làm cho mọi người ngỡ ngàng và lo lắng, buồn bã và thất vọng. Phát súng nổ giữa trời quang là việc hủy bỏ cuộc quy tụ để khám bệnh tặng quà lần thứ 7 cho Thương binh VNCH hôm 17 tháng 4, rồi việc hủy bỏ Thánh lễ cầu cho Công lý Hòa bình vào cuối tháng mà đáng lẽ phải được cử hành tại nhà thờ của Dòng hôm Chúa nhật 26-04.

   Chúng ta biết rằng từ hơn hai năm nay, dưới quyền lãnh đạo của Linh mục cựu Giám tỉnh Phạm Trung Thành với dàn cộng tác viên ăn ý như Lm Hồ Đắc Tâm, bề trên cộng đoàn SG, linh mục Lê Ngọc Thanh, trưởng ban truyền thông, linh mục Đinh Hữu Thoại, trưởng phòng Công lý Hòa bình và một số cộng tác viên giáo dân, DCCT Sài Gòn thể hiện linh đạo của dòng là phục vụ người nghèo, đặc biệt người nghèo về nhân phẩm nhân quyền, tức là những người bị áp bức trong xã hội cộng sản hôm nay.

Dòng đã có ít nhất 7 hoạt động. Trước hết là lâp trang mạng Truyền thông Chúa Cứu Thế luôn đăng tải những bài viết về phong trào đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ.

Thứ hai là tổ chức Thánh lễ cầu cho công lý hòa bình vào cuối tháng, với ý chỉ cầu nguyện cho một hoặc hai trường hợp vi phạm nhân quyền và với những bài giảng sấm sét mà ai nghe cũng hả dạ.

Thứ ba là cứu trợ các thương binh VNCH, hạng bị đọa đày 40 năm nay. Cứu trợ họ bằng cách khám bệnh, cho thuốc, tặng xe lăn, giúp đỡ hoàn cảnh túng thiếu. Đã tổ chức 6 lần rồi và rất có tiếng vang từ quốc nội ra tới hải ngoại.

Thứ tư là mở phòng Công lý Hòa bình, nơi tiếp nhận các dân oan mất đất mất nhà đến kêu cứu, nộp hồ sơ để nhờ các cha giúp khiếu kiện.

Thứ năm là hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự độc lập còn non trẻ tại VN mà hoạt động chủ yếu lúc này là tranh đấu cho nhân quyền, hỗ trợ bằng cách cho mượn nhà mục vụ làm nơi tụ họp, gặp gỡ.

Thứ sáu là thực hiện chương trình Cà-phê tối, gồm các video clip phỏng vấn những nhân vật đấu tranh cho dân chủ, dân oan đấu tranh vì nhân quyền, tín đồ đấu tranh cho tự do tôn giáo.

Thứ bảy là làm tấm bảng thông tin cực lớn để cạnh nhà thờ DCCT, mang tên “Đến Mà Xem”. Bảng thông tin này hết sức thu hút vì có những tin tức, hình ảnh, bình luận gây nhức nhối cho chế độ mà gây thích thú cho người dân.

        Nay với Tân Giám tỉnh và ban lãnh đạo mới, 7 hoạt động trên xem ra từ từ bị xẹp xuống. Ngoài 2 sự kiện chấn động nêu trên, nay người ta thấy kể từ hôm 17-04, khi ban truyền thông mới bắt đầu làm việc, trang Truyền thông Chúa Cứu Thế chủ yếu đăng toàn chuyện đạo đức, chỉ duy nhất một mẩu tin về một nữ tu người Áo chăm sóc kẻ nghèo bị giết bên trời Nam Phi xa xôi vạn dặm.

Người ta không biết rồi đây, đồng bào thành tâm ở hải ngoại có tiếp tục gởi tiền về giúp dân oan, thương binh qua DCCT nữa chăng, và không biết rồi đây còn có lễ rửa tội cho những người cộng sản phản tỉnh hoặc cho những nhà đấu tranh lương dân xin trở lại làm con Chúa chỉ vì thấy DCCT thực sự là nơi công bố sự thực, thể hiện tình thương và bênh vực công lý nữa chăng?

             3- Theo cha, vai trò ngôn sứ đích thực của một Kitô hữu, tu sĩ và linh mục là gì trong môi trường trần thế?

Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, trong tông huấn Niềm Vui Tin Mừng ban hành cuối năm 2013, có thúc đẩy mọi Ki-tô hữu hãy “bước ra khỏi sự tiện nghi của mình và can đảm đi đến những vùng ngoại vi cần đến ánh sáng Tin mừng” (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng số 20), hãy hiện diện bằng vô vàn cách thế trong các “vùng ngoại vi” ấy, qua việc chiến đấu vì công lý, hoạt động vì hòa bình và phẩm giá cho mỗi con người.

Lý do là vì, như Đức Thánh Cha nói ở số 183 của Tông huấn: “Chẳng ai có thể đòi hỏi chúng ta phải đẩy tôn giáo vào nội tâm sâu kín của con người, không gây ảnh hưởng gì lên đời sống xã hội và quốc gia, không chú tâm đến sự lành mạnh của các định chế thuộc xã hội dân sự, không bày tỏ ý kiến về những biến cố liên quan đến các công dân…

Dẫu “trật tự chính đáng của xã hội và quốc gia là một trách nhiệm thiết yếu của chính trị”, Giáo hội vẫn “không thể và không được đứng ngoài cuộc đấu tranh cho công lý”. Mọi Ki-tô hữu cũng như các mục tử đều được kêu gọi quan tâm đến việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn".

        Điều đó có nghĩa là mọi Ki-tô hữu phải dấn thân vào môi trường trần thế để làm ngôn sứ, chứng nhân và tác nhân, nhất là trong cái xã hội VN đang đảo điên, ngập tràn dối trá và bạo hành, dửng dưng và ích kỷ, bất công và đàn áp, tham nhũng và bóc lột này.

Giáo dân thì dấn thân bằng cách hoạt động chính trị, nhảy vào chính trường, thành lập hoặc tham gia chính đảng, dĩ nhiên chính đảng phi cộng sản, vì chính Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói trong số 205 của Tông huấn: “Chính trị, dù thường bị chê bai, vẫn là một ơn gọi cao cả và một trong những hình thức cao quí nhất của bác ái, khi nó tìm kiếm lợi ích chung”.

Phần những người tu hành, tức các hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ thì không làm chính trị đảng phái hay nghị trường, nắm quyền lực trong bộ máy quốc gia như giáo dân, nhưng phải làm chính trị công dân, có thái độ chính trị đúng đắn.

Nghĩa là lên tiếng công bố sự thật, bảo vệ lẽ phải, bênh vực những người bị áp bức, vạch trần những sai trái và tố cáo những tội ác của nhà cầm quyền, làm cố vấn cho những giáo dân nhảy vào lãnh vực chính trị.

            Lm P. Phan Văn Lợi
           
   30-4-2015


TA SINH RA LÀM NGƯỜI ĐỨNG THẲNG

Ta sinh ra vốn làm người đứng thẳng
Giữa đất bằng bao la,
Dưới trời cao lồng lộng.
Với một khối óc để trông xa nhìn rộng,
Một quả tim để yêu ghét nhiệt tình!

Ta có miệng để nói không phải để lặng thinh,
Đôi tai để nghe chẳng phải để bưng bít,
Đôi mắt để nhìn đâu phải để nhắm tịt,
Hầu hoa công lý sự thật qua ta nở rạng ngời!

Và ta chỉ muốn sống như một con người,
Tìm ý nghĩa trong cuộc xoay vần sinh tử,
Nỗ lực yêu thương, tránh nẻo đường hưởng thụ,
Bênh đỡ công lý, chẳng gây chuyện bất bằng.

Khốn khổ thay, vẫn có những thế lực thất nhân
Ngồi choán hết cả bàn tiệc nhân thế,
Biến đổi anh em ta thành bầy đàn nô lệ,
Cho chúng ngất ngưởng bên chén rượu đỏ hồng.

Chúng hứa xây nên một thế giới đại đồng,
Nhưng khép mình hưởng thụ trong pháo đài ích kỷ.
Chúng tuyên bố những ngày mai hát ca hoan hỉ,
Nhưng hiện tại gây cảnh oán thán khổ sầu!

Chúng, mặt ngựa đầu trâu,
Chà dân như cỏ rác.
Chúng, dối gian khoác lác,
Lừa đảo khắp nhân quần!

Lòng sôi sục, ta không thể như vại bình chân,
Dạ xốn xang, ta không thể tựa bình thủ khẩu.
Bỏ cuộc đời yên ả, lao mình vào chiến đấu,
Tạm gác chuyện sách đèn, ta nhất định đứng lên!

Thế là chúng tống giam ta vào ngục,
Nhốt tấm thân ta giữa bốn bức tường,
Cách ly ta khỏi thế giới những thân thương,
Còn muốn ta phải nhục nhằn xấu hổ!

Nhưng bầu trời tự do trong trái tim ta đó!
Ta đã đứng hiên ngang dưới gầm trời
Đã ung dung mở miệng giữa trần đời,
Không một chút hoảng kinh trước quyền lực!

Mang gông xiềng, ta vẫn cứ bất khuất,
Tâm hồn luôn thẳng đứng, dẫu thân xác bị đè quỳ,
Giữa tăm tối, lòng vẫn sáng tựa sao Khuê,
Đời tù ta giữa lặng im là tiếng thét!

Bịt mồm ta ư? Cảnh ấy càng vang khốc liệt,
Bẻ bút ta ư? Chữ nghĩa ta bay khắp cùng trời,
Tách bạn ta ư? Càng thêm bằng hữu ở mọi nơi,
Tước mạng ta ư? Ta lại trở thành bất diệt!

Bởi lẽ tình yêu muôn đời không thể chết,
Sự thật trường tồn mãi thiên thu,
Công lý sao có thể bị nhốt tù?
Mà đời ta đã gắng theo đòi ba thực thể đó!!!

-- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi
  (Nhân kỷ niệm hai năm thành lập
   Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và
   Tôn giáo Việt Nam 27/10/2006-27/10/2008)

     (1 audio Lm Phan văn Lợi phát biểu)
Lm Phan văn Lợi: Tôn giáo trong dòng sinh mệnh Dân Tộc















Bài viết của nhà văn Trần Phong Vũ:
VÀI NÉT VỀ

CUỘC ĐỜI
Linh Mục PHAN VĂN LỢI


MỘT

Một Chọn Lựa Tự Do
Nhưng Quyết Liệt

Không gian: Giang xá, một giáo xứ nghèo nàn
heo hút
thuộc tỉnh Sơn tây, bắc phần Việt nam.
Thời gian: một buổi sáng âm u,
trời mưa tầm tã tháng 5 năm 1981.

Bối cảnh đất nước: gần chẵn 6 năm sau ngày miền nam Việt nam bị cộng sản thôn tính, để như lời thơ uất nghẹn của Nguyễn Chí Thiện: đất nước đã "thu về một mối", nhưng không phải là một mối thanh bình, yên vui, tự do, hạnh phúc, mà là "Một mối hận thù, một mối đau thương!" (Hoa Địa Ngục I)

Sau những tháng ngày hoang mang, thảng thốt, mấy chục triệu người dân từ bắc chí nam bị xô đẩy vào tình trạng nghèo đói, khổ đau cùng cực. Tuyệt đại đa số dân chúng phải ăn bo bo, khoai sắn để cầm hơi vì cơm gạo mỗi ngày một khan hiếm!

Lần lượt kẻ trước người sau, ngót một triệu quân dân cán chính thuộc chế độ cũ ở miền nam, trong đó bao gồm những nhà tu hành thuộc mọi tôn giáo và biết bao lương dân vô tội, bị lùa vào các nhà tù trá hình mệnh danh trại cải tạo. Một số đông đảo bị chế độ mới coi như kẻ thù nguy hiểm được đưa ra miền cực bắc kéo dài kiếp sống như đã chết trong các trại giam nằm sâu trong các tỉnh tiếp giáp biên thùy Hoa–Việt.











Trong số những tù nhân khốn khổ ấy nổi bật lên một khuôn mặt được coi là sáng giá trong hàng lãnh đạo Giáo hội Công giáo Việt nam trước tháng tư năm 1975. Đó là đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người từng được tòa thánh Vatican nâng lên hàng tổng giám mục phó với quyền thế vị tại một giáo phận lớn và quan trọng nhất nước là giáo phận Sàigòn, nhưng bị đảng và nhà cầm quyền cộng sản chống đối, sau đó bắt giam và quản thúc ngài tổng cộng trong 13 năm.

Và giáo xứ Giang Xá, Sơn tây thuộc bắc phần Việt nam là một trong mấy chặng quản thúc ngắn trong hơn một thập niên đức cha Nguyễn Văn Thuận bị tù đày.

Chính tại nơi ấy, vào một buổi sáng trời mưa tầm tã -sáng 21 tháng 5 năm 1981- (không một giám mục, linh mục phụ tá, không cả giáo dân kể cả những người thân và bằng hữu của tiến chức tham dự), nhân danh Chúa Giêsu Kitô, đức tổng giám mục Phanxicô Xaviê đã âm thầm đặt tay truyền chức linh mục cho người thanh niên 30 tuổi vừa trải qua những ngày dài lặn lội từ cố đô Huế ra bắc chỉ vì lòng thiết tha khao khát được chia sẻ thiên chức tư tế của vị linh mục thượng phẩm đời đời.

Người thanh niên trung thành, gan dạ và kiên trì vừa nói chính là thày Phêrô Phan Văn Lợi. Cũng từ phút giây ấy, cuộc đời người mục tử họ Phan đã gắn liền với những trôi nổi, thăng trầm của thân mệnh Giáo hội Công giáo và quê hương Việt nam.

Trong một bài thơ cảm tác mang tựa đề "Linh Mục Là Hy Lễ" của linh mục chui Phan Văn Lợi,  người ta đọc được những dòng hồi tưởng đầy cảm động sau đây:














Con vẫn nhớ sáng mưa tầm tã ấy,
Trong chái giáo đường Giang xá tối tăm.
Vị chủ phong, kẻ tiến chức âm thầm,
Cầu Thần khí xuống hồng ân nhiệm lạ.

Trong im lặng, không ca đoàn rộn rã,
Vắng họ hàng, không bạn hữu vầy quanh,
Chẳng một ai được hưởng nhận phép lành,
Từ bàn tay đượm nồng dầu thánh hiến.

Lễ mở tay không một người chứng kiến,
Chẳng chén vàng, chẳng lễ phục tinh khôi.
Đâu tiếng ca khen, đâu yến tiệc mừng?
Đâu giọt lệ đầy hân hoan của mẹ?


....."
Bài thơ gói trọn tâm tình của người môn đệ Chúa Giêsu trong cảnh ngộ thương đau, ngang trái của giáo hội và quê hương Việt nam khốn khổ vào đầu thập niên 80. Tuy tác giả bài thơ không nói tới, nhưng hẳn rằng trong giây phút cực kỳ cảm động ấy, cả vị chủ phong và người tiến chức sẽ khó cầm lòng để cho những giọt lệ trào dâng. Những giọt lệ hân hoan cảm tạ hồng ân Thiên Chúa, nhưng cũng là những giọt lệ chất nặng ưu tư khi nghĩ tới con đường gian khổ trước mặt.
                                        
HAI
Thời Thơ Ấu
            Huế của những năm đầu thập niên 50 tuy chưa hết bàng hoàng giao động vì những thay bậc đổi ngôi liên tiếp từ sau đệ nhị thế chiến, nhưng vẫn còn vương vất cái dáng dấp kiêu sa, đài các cố hữu của một kinh thành thơ mộng và cổ kính. Hình ảnh trang nghiêm, vương giả của những thành quách rêu phong bao quanh thành nội, những lăng tẩm các vua triều Nguyễn, giòng Hương giang lặng lờ trôi xuôi dưới chân núi Ngự với cầu Trường tiền, tháp Linh mụ, đồi Thiên an, đàn Nam giao, Cồn hến, Vĩ dạ thôn vẫn còn là những mời gọi đầy quyến rũ đối với những người yêu mê xứ Huế.



Giữa những thắng cảnh, những địa danh lừng lẫy ấy là một xóm đạo hiền hòa mang tên Ngọc hồ, xã Hương hồ, huyện Hương trà, tỉnh Thừa thiên, một vùng quê khuất lấp, nghèo nàn, cách kinh thành Huế khoảng dăm bảy cây số, cửa ngõ dẫn lên rặng Trường sơn trùng điệp. Chính tại nơi quê nghèo ấy, cách đây vừa tròn năm chục năm, vào một ngày mùa xuân, nói cách chính xác là ngày 09 tháng 3 năm 1951, một cậu bé kháu khỉnh đã chào đời và được đặt tên là Phan Văn Lợi.

Thân phụ mẫu của cậu Lợi là ông Phan Văn Danh và bà Nguyễn Thị Duyên. Cả hai bên nội ngoại đều xuất thân từ những giòng tộc đã may mắn được đón nhận ánh sáng tin mừng rất sớm. Mấy tháng sau cậu bé được cha mẹ chọn thánh cả Phêrô làm quan thày khi đưa tới thánh đường nhận phép rửa để trở thành con cái Giáo hội CG.

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh sinh hoạt đạo hạnh của gia đình, ngay trong thời măng sữa cậu bé họ Phan đã may mắn được thừa hưởng từ cha mẹ, anh chị em và thân bằng quyến thuộc một nền giáo dục vững chắc phối hợp giữa văn hóa dân tộc cùng với niềm tin và văn minh Kitô giáo.

Đến tuổi đi học, ngoài những giờ cắp sách đến trường, cậu Lợi thường theo thân mẫu tới giáo đường tham dự thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện hoặc những giờ học giáo lý. Đặc biệt trong những tháng 5 hàng năm, tháng Đức Mẹ, dù đang ở lứa tuổi ham chơi, cậu Lợi luôn có mặt trong các buổi dâng hoa mừng kính đức Trinh nữ Maria.

Dưới ánh nến lung linh huyền ảo, hình ảnh những bé gái trong đoàn Thiếu nhi Thánh thể y phục trắng tinh, đầu đội tràng hoa nhiều màu sặc sỡ với tấm voan dài chấm gót, hai tay uốn éo đưa lên đưa xuống những lẵng hoa nhỏ, chân bước nhịp nhàng theo tiếng nhạc du dương trầm bổngï, miệng cất cao những bài ca tung hô Đức Mẹ đã tạo một ấn tượng sâu đậm trong khối óc và trong trái tim cậu Lợi.

Và những thanh âm, hình ảnh thân thương, tràn đầy không khí đạo đức ấy đã trở thành những hạt giống quý giá ươm sâu trong tâm hồn cậu bé làm trổ sinh lòng sùng kính đặc biệt đức Trinh-Nữ-Maria-La-Vang nơi cậu nhiều năm sau này.
                       BA

Ơn Gọi Tu Trì

Ươm trồng từ giòng máu của những tiền nhân anh hùng tử đạo đã dùng chính máu mình để làm chứng cho niềm tin Kitô, nhờ những sinh hoạt đạo hạnh trong gia đình cũng như trong giáo xứ, ơn gọi đi tu đã đến với cậu Phan Văn Lợi ngay từ thuở ấu thơ.

Năm 1961 chẵn mười tuổi, lúc vừa học hết chương trình tiểu học, cậu Lợi được gửi vào học Tiểu chủng viện Hoan Thiện tọa lạc số 11 đường Đống đa thuộc thành phố Huế. Liên tiếp trong tám năm trời tu học toàn thời gian tại đây, với trí thông tuệ bẩm sinh và lòng hiếu học, đạo đức sẵn có, chủng sinh Phêrô Phan Văn Lợi luôn đạt được điểm cao trong hầu hết các môn, từ toán học, sinh ngữ, lịch sử cho tới các môn giáo lý, thánh kinh.


Năm 1969, thày Phêrô được chuyển từ Tiểu chủng viện Hoan Thiện qua theo học Triết và sau đó là Thần học tại Đại chủng viện Xuân Bích cũng tại cố đô Huế. Đây là thời gian thày Lợi được chọn gia nhập nhóm Hy vọng do đức cha Thuận sáng lập, và đương nhiên trở thành nghĩa tử của ngài.

Mọi người tin rằng nhờ ơn Chúa, qua trung gian bầu cử của đức Mẹ La Vang,  nhờ lòng thiết tha yêu mến ơn gọi tu trì, thêm vào trí thông minh trác tuyệt, mai đây thày Phêrô sẽ là một mục tử xuất sắc về mọi phương diện và sẽ đóng góp nhiều công ích cho giáo hội cũng như xã hội.

            Sau 14 năm trời miệt mài tu học, vào lúc thày Lợi sắp sửa chấm dứt niên khóa cuối cùng để chuẩn bị bước lên bàn thánh đón nhận thiên chức linh mục thì biến cố 30 tháng tư năm 1975 bất thần chụp xuống miền nam Việt nam. Thay vì tìm đường theo giòng người tị nạn trốn ra ngoại quốc để được yên thân, thoát khỏi cảnh đời huyết hãn, tối tăm trong chế độ phi nhân tàn độc cộng sản, thày Lợi chọn ở lại với khát vọng thiết tha, nồng cháy là sớm được trở thành mục tử để có cơ hội phục vụ dân Chúa trên chính quê hương của mình.

Nhưng cũng như nhiều bạn đồng tu khác, ý nguyện của thày Phêrô Phan Văn Lợi đã bị bóp chết ngay từ trong trứng nước vì chính sách hà khắc và chủ trương truy diệt niềm tin tôn giáo của đảng và nhà nước cộng sản chuyên chính, vô thần!

Mặc dầu thày Phêrô kiên trì nấn ná ở lại trường, nhưng qua năm 76, 77 chế độ vẫn không chấp nhận cho thày chịu chức mặc dầu đã có sự can thiệp tích cực của đức cha Philiphê Nguyễn Kim Điền tổng giám mục giáo phận Huế lúc bấy giờ. Đến năm 1978, nhà nước cộng sản bắt đầu áp đặt những biện pháp kiểm soát gắt gao trên mọi sinh hoạt của Giáo hội, nhất là trong lãnh vực chiêu sinh, tuyển sinh cũng như vấn đề truyền chức và cắt cử linh mục, đặt để giám mục.

Cùng với 17 đại chủng sinh thuộc các lớp thần học khác, thày Phêrô Phan Văn Lợi bị chính quyền toàn trị thẳng tay loại khỏi danh sách những thành phần có triển vọng được chịu chức, với lý do dễ hiểu là vì có hạnh kiểm xấu (!) trong lý lịch –dĩ nhiên là xấu theo lối nhìn của những người Mác-xít Lê-nin-nít, luôn coi tôn giáo, đặc biệt Công giáo là kẻ thù của chế độ, cần truy diệt!

Vì bị trục xuất khỏi Đại chủng viện Xuân bích, kể từ năm 1978 thày Lợi phải về sống với song thân lúc này đã dời cư về địa chỉ 90/13 Phan Chu Trinh thuộc giáo xứ Phủ cam, Huế.

Trong suốt ba năm, từ 1978 đến 1981, mặc dầu miễn cưỡng phải sống đời thường, ý nguyện được chia sẻ thiên chức linh mục của chúa Giêsu vẫn nung nấu mãnh liệt trong tâm tư người con cưng của giáo xứ Ngọc hồ, xã Hương hồ, huyện Hương trà, tỉnh Thừa thiên thuở nào.

Vì thế trong khi phải đi làm hàng ngày để giúp đỡ cha mẹ và đại gia đình trong việc mưu sinh giữa giai đoạn cực kỳ khó khăn vì tình trạng kinh tế đất nước bị tuột dốc thê thảm lúc bấy giờ, thày Lợi vẫn kiên trì tự giác giữ vững kỷ luật của người tu sĩ tại gia.

Ngày đêm, thày tận dụng mọi cơ hội hiếm quý có được trong tầm tay, nỗ lực học hỏi thêm qua sách vở, qua những tiếp xúc thầm lén nhưng thường xuyên với những bạn bè cựu chủng sinh, với những linh mục giáo sư cũ để tự thăng tiến cho mình về mọi mặt, nhất là về tâm linh, tu đức.
 
            Đầu tháng 5 năm 1981, được tin đức tổng giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận bị nhà nước cộng sản đưa về quản thúc tại giáo xứ Giang xá thuộc tỉnh Sơn tây, bắc phần Việt nam, một ý định táo bạo bất chợt nảy sinh trong đầu thày Phêrô Phan Văn Lợi.

Sau khi ngỏ ý cùng song thân, tâm sự với một số linh mục và bạn bè đáng tin cậy, vào một ngày thượng tuần tháng 5 năm ấy, người tu sinh họ Phan từ giã Phủ cam tìm đường ra bắc trong tâm tình thiết tha cầu nguyện xin ơn soi dẫn của Chúa Thánh thần, đồng thời phó thác trọn vẹn mọi an nguy cho Đức Mẹ Maria-La Vang.

            Ra bắc, lặn lội tới giáo xứ Giang xá, Sơn tây, bắc phần, thày Phan Văn Lợi phải vất vả móc nối với giáo dân địa phương, tìm mọi phương thế để che mắt bọn cán bộ có nhiệm vụ giám sát đức cha Nguyễn Văn Thuận hầu có thể liên lạc được với ngài. Cha con nhận ra nhau sau bao năm cách biệt. Thày kể hết tâm tư, ước nguyện muốn được làm linh mục đồng thời cũng trình bày với ngài mọi chi tiết về đời sống và những năm dài tu học ở Huế, đặc biệt từ sau tháng tư năm 75.

Sau ít ngày rà soát lại trình độ thần học, tu đức và bổ túc cho ứng viên những gì còn thiếu sót, vào một buổi sáng trời mưa tầm tã nhằm ngày 21 tháng 5 năm 1981, đức tổng giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, một tù nhân lương tâm của chế độ độc tài toàn trị cộng sản Việt nam, đã long trọng đặt tay truyền chức linh mục cho thày Phêrô Phan Văn Lợi.

Quả là một lễ truyền chức khác thường!

 Không phải tại Vương cung Thánh đường Sàigòn. Cũng không phải ở nhà thờ chính tòa Phủ cam Huế. Nghi thức trọng đại có một không hai trong đời người mục tử của Chúa Giêsu mang tên Phêrô Phan Văn Lợi đã diễn ra một cách âm thầm, kín đáo, khuất lấp trong một xó tối tăm, xập xệ của nhà thờ Giang xá vào một thời điểm tàn mạt, bi đát nhất của quê hương đầu thập niên 80!

Không có giám mục, linh mục phụ tá bên cạnh vị chủ phong! Cũng vắng bóng những giáo hữu, bạn bè, người thân của tiến chức tham dự, chứng kiến! Vỏn vẹn chỉ có hai nhân vật chính: giám mục chủ phong và linh mục dự phong!

Một hình ảnh để đời chỉ có thể tìm thấy trong những xã hội mà mọi quyền tự do của con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo, bị trù giập, khống chế do những người tôn thờ chủ nghĩa cộng sản vô thần cai trị mà thôi!



                                              BỐN

Bước Đường Gian Nan
Của Người Mục Tử Chui!


Nhận phép lành của vị tổng giám mục khả kính và cũng là cha linh hồn với tấm lòng hân hoan và biết ơn khôn tả, linh mục chui Phêrô Phan Văn Lợi bịn rịn giã từ Giang xá, Sơn tây, kín đáo tìm đường trở lại quê nhà. Giữa niềm hoan lạc vì vừa được chia sẻ chức tư tế của Chúa Giêsu -vị linh mục thượng phẩm đời đời-, từ đáy thẳm linh hồn, cha Lợi không khỏi băn khoăn xao xuyến nghĩ tới những năm tháng phiêu lưu, vô định trải dài phía trước. Hàng trăm câu hỏi không có câu trả lời dựng lên trong tâm trí cha.

Khi trở về Huế, nên công khai hay giấu diếm tông tích linh mục của mình? Công khai thì chắc chắn không thể yên thân. Mà giấu diếm thì làm sao và bằng phương thế nào có thể thực thi chức vụ thiêng liêng của người linh mục trong hoàn cảnh trên đe dưới búa hiện nay? Liệu đảng và nhà nước cộng sản vô thần sẽ có thái độ và hành động nào đối với một người có hành vi công khai chống lại những quy luật bất công, vô đạo của họ?

Liệu giáo quyền có đủ can đảm đi ngược lại quyền lực của guồng máy cai trị của chế độ để chấp nhận cha vào hàng ngũ linh mục đoàn trong giáo phận hay không? Chuyện gì sẽ xảy ra cho cá nhân cha, cho song thân, bạn bè, bà con lối xóm và cho giáo phận trong những tháng ngày trước mặt?

Trong tâm trạng rối bời như thế, linh mục chui Phêrô Phan Văn Lợi chỉ còn biết âm thầm phó thác và đặt hết niềm tin tưởng vào Đức Mẹ La Vang. Và ông đã liên lỉ cầu nguyện cùng Thiên Chúa qua lời bầu cử của Đức Trinh nữ Maria và các thánh tử đạo Việt nam, đặc biệt thánh Tôma Thiện, quan thày các chủng sinh Huế, trong suốt đoạn đường dài từ Giang xá, Sơn tây trở lại cố đô.

Trong vòng bốn tháng trời sau đó, cha Phan Văn Lợi tiếp tục sống trong nhà song thân và tiếp tục làm mục vụ chui! Chính nhờ cảnh ngộ trái ngang, o ép như thế mà cha bắt đầu sống và cảm nhận cách đặc biệt tính cách từ bỏ (kênôsis) và nghịch thường (paradox) của màu nhiệm thập giá trong đời linh mục. Những vần thơ trích trong bài "Linh Mục Là Hy Lễ" sau đây đã nói lên điều ấy.

"Dâng Thánh lễ trong then cài cửa kín,
Chưa một lần ban nhiệm tích thứ tha!
Tai chẳng hề nghe hai tiếng "thưa cha",
Cũng chẳng được bước lên tòa rao giảng?

Nhưng lạy Chúa, con không hề buồn chán,
Bởi hiểu rằng mọi cái bất thường trên,
Chúa tạo ra là để sáng tỏ thêm,
Ý nghĩa đời linh mục tư tế:

Là tận hiến thân mình làm hy lễ,
Như Chúa xưa, để cứu độ trần gian.
Giáo xứ con là thế giới trần hoàn,
Dự lễ con là cả triều thần thánh."


Ngoài những Thánh lễ không giáo dân hoặc đôi khi chỉ với song thân và một số rất giới hạn người quen biết tham dự, cha Lợi phụ giúp các dì phước và các cha trong việc giảng dạy giáo lý cho những người tân tòng trong giáo xứ và các vùng phụ cận. Để tránh sự nghi kỵ của các công nhân viên tai mắt nhà nước, tiếng thày thay thế cho tiếng cha được dùng trong cách xưng hô với linh mục Lợi hàng ngày giữa cha mẹ, anh em và những người thân thiết hiểu rõ trường hợp riêng của cha.

Nhưng rồi tai họa đầu tiên đã đến với người mục tử chui Phêrô Phan Văn Lợi! Cũng từ đấy đã biến ông thành đối tượng săn đuổi triền miên của đảng và nhà nước độc tài toàn trị cộng sản Việt nam trong suốt hai chục năm trường. Và chính điều này, như một an bài của Thiên mệnh, cùng với thời gian, năm tháng, càng làm sáng lên khuôn mặt rực rỡ của vị linh mục trẻ đã cương quyết thề hứa hiến trọn thân xác và tâm hồn mình cho sứ mạng phục vụ giáo hội và quê hương, dân tộc.






NĂM

Những Năm Tháng Tù Đày

Vào đêm 21 tháng 9 năm 1981, nhân lễ kính Thánh Tử Đạo Tôma Thiện, bổn mạng các chủng sinh Huế, cùng với một số chủng sinh tu tại gia thuộc giáo xứ Phủ cam, thày Lợi đã có sáng kiến dàn dựng một vở kịch ngắn giúp vui cho gia đình và bà con lối xóm trong xứ.

Vở kịch mang tên "Dâng Con Cho Mẹ"[1][72], nội dung diễn lại một chi tiết có thật liên quan tới việc linh mục Tađêô Nguyễn văn Lý hướng dẫn đoàn giáo dân và thanh thiếu niên Công giáo thuộc tổng giáo phận Huế tham dự cuộc hành hương kính viếng Đức Mẹ La vang Quảng trị một tháng trước đó. (Vì cha Lý lúc ấy đang bị nhà nước theo dõi gắt gao bởi họ biết ông là cánh tay mặt của đức tổng giám mục Nguyễn kim Điền và cũng là người thường công khai lên tiếng chỉ trích chính sách khủng bố, chèn ép tôn giáo của đảng và nhà nước cộng sản.

Trong cuộc hành hương Thánh địa La vang năm ấy, mặc dầu bị công an nhà nước ngăn cản, linh mục Nguyễn Văn Lý vẫn kiên trì chống lại một cách thụ động bằng cách khi vắng mặt công an thì đoàn hành hương tiếp tục đi tới, nhưng khi bị ngăn chặn, hạch xách làm khó dễ thì tụ tập lại ngay trên tuyến đường Huế-Quảng trị, tất cả cùng quỳ gối hướng về La vang cầu nguyện và ca hát lớn tiếng).

Chính việc đưa vào kịch bản chi tiết này đã dẫn tới hậu quả tệ hại là khoảng một tháng sau, công an nhà nước đã bắt 5 chủng sinh đi làm việc, trong số có thày Phan Văn Lợi. Sau đó tất cả đều bị truy tố ra tòa vì tội danh chống phá, xuyên tạc, làm hoen ố khuôn mặt chế độ. Vì mang lý lịch xấu đồng thời lại là người chủ động trong việc dàn dựng kịch bản "Dâng Con Cho Mẹ" nên thày Lợi bị kết án bốn năm tù ở. Riêng bốn thày còn lại bị mang án từ 2 năm đến 3 năm rưỡi.

             Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí!

Vào thời gian cha Phêrô Phan Văn Lợi sắp mãn hạn 4 năm tù của bản án thứ nhất thì do một chuyện tình cờ, đảng và nhà nước cộng sản phát giác thày Lợi đã chịu chức linh mục chui không thông qua biện pháp duyệt xét lý lịch để được sự chấp thuận của chế độ toàn trị. Do sự việc này, một lần nữa cha Lợi lại bị truy tố ra tòa và kết quả ông phải nhận bản án thứ hai thêm ba năm, tổng cộng là bảy năm, cho đến tháng 10 năm 1988 mới được phóng thích.

Những năm tháng dài tù tội đó lại càng đóng ấn sâu đậm thêm bản chất từ bỏ và hiến dâng cách nghịch thường trong cuộc đời linh mục của cha. Một mẩu nhỏ của kiếp linh mục tù đày đã được phản ánh qua những vần thơ bi hùng trong bài "Linh Mục Là Hy Lễ" sau đây:

"Bốn tháng sau đẩy đưa con vào ngục!
Thế là hết: mọi chức năng linh mục!
Thánh lễ giờ: chấp nhận kiếp tù nhân.
Lễ phục con: là chiếc áo lam xanh,
Bàn thờ con: là nhà lao mang danh cải tạo!

Bánh con dâng: là đôi thùng trĩu nặng,
Là gánh đất đầy, là lửa nắng chan chan!
Là gió mùa đông xuyên thủng áo ngự hàn,
Là cảnh sống nhiều nhỏ nhen phức tạp.

Rượu con dâng: là mồ hôi nhỏ giọt,
Là sự hao mòn, mệt mỏi xác thân,
Là cùn mằn trí tuệ lẫn tâm can,
Nỗi nhung nhớ, bao tháng ngày no đói!"

Sau khi được phóng thích vào tháng 10 năm 1988, linh mục Phan Văn Lợi mặc nhiên bị nhà cầm quyền cộng sản chỉ định nơi cư trú là nhà song thân của cha ở Phủ cam cho đến nay. Trong thời khoảng hơn mười năm, người mục tử chui mang giòng máu kiên cường, miệt mài đấu tranh không mệt mỏi cho tự do của con cái Chúa và cho lẽ phải của Tin Mứng ấy, đã không ngừng bị tai mắt chế độ dòm chừng và tìm hết cách làm khó dễ.

            Tháng 4 năm 1998, Sở công an thành phố Huế bắt cha Lợi đi "làm việc" liên tiếp trong mấy tuần lễ và buộc cho ông đủ thứ tội danh như chủ trương tờ Bạn Đường, in và phổ biến tài liệu giáo lý Công giáo không xin phép và nhất là tiếp tay phổ biến tờ TIN NHÀ (một tờ báo ấn hành định kỳ 3 tháng do các ông Đỗ Mạnh Tri, Nguyễn Hữu Tấn Đức, Nguyễn Văn tánh và một nhóm trí thức Công giáo xuất bản ở Paris, Pháp, trong đó đăng tải nhiều tài liệu bài vở của những nhân vật từng có thành tích chống chế độ như linh mục Chân Tín, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, nhà sinh học Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ, cựu tướng Trần Độ, nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, nhà địa chất Nguyễn Thanh Giang, các ông Lữ Phương, Hoàng Minh Chính v.v.

Đầu thập niên 90, nhóm anh em Tin Nhà đã lần lượt xuất bản ba tập Nhật ký Nguyễn Ngọc Lan, tố cáo bộ mặt thật nhơ bẩn của chế độ Hànội). Sau đó công an nhà nước đã tới tư gia ông bà cố, tịch thu toàn bộ máy điện toán, máy in, những dĩa mềm cùng sách vở tài liệu của linh mục Phan Văn Lợi. Chi tiết về những buổi làm việc này đã được cha Lợi tường trình đầy đủ và đã được đăng tải trên tờ Tin Nhà số 34 phát hành tháng 7 năm 1998 [2][73]

            Xuyên qua những buổi gọi là "làm việc" mà thực chất chỉ là những cuộc thẩm cung nhằm khủng bố, khống chế tinh thần do công an cộng sản chủ động được chính tội nhân bị thẩm cung là linh mục Phêrô Phan Văn Lợi ghi lại chi tiết và được công bố trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại sau đó, người ta nhận ra mấy điểm đặc biệt đáng chú ý sau đây. Trước hết nó phơi bày cho dư luận thấy rõ những trò gian dối, lọc lừa bỉ ối mà đảng và nhà nước độc tài toàn trị cộng sản Việt nam nhắm vào những thành phần bị chế độ coi là kẻ thù.

Khi mở cuộc thẩm cung một người mà họ muốn kết tội, những cán bộ công an cộng sản thường đưa ra những bằng chứng ngụy tạo gán vào miệng những nhân vật không có thực, nhưng với xảo thuật nửa úp nửa mở họ khiến cho người bị thẩm cung liên tưởng tới người này người nọ trong số những bằng hữu thân nhân của mình.

Làm như vậy, những người cộng sản hy vọng với một mũi tên phóng ra, họ có thể hạ hai con chim cùng một lúc. Nói rõ hơn, nếu nạn nhân thiếu lập trường hoặc yếu bóng vía tin theo lời bịa đặt hù dọa của những công an phụ trách việc thẩm cung, họ sẽ nắm được bằng chứng để một mặt kết tội người bị thẩm cung, mặt khác tạo được sự nghi kỵ dẫn tới bất hòa, chia rẽ giữa những người họ muốn truy diệt.

Trong trường hợp linh mục Phan Văn Lợi bị công an bắt đi "làm việc" mấy tuần lễ liền trong năm 98, với hy vọng nắm bắt được bằng chứng để tống giam ông, bọn ưng khuyển tay sai của chế độ đã trắng trợn bịa đặt là có những linh mục bạn của cha Lợi khai báo là chính ông đã phổ biến cho các đương sự phó bản của tờ Tin Nhà cùng nhiều tài liệu thuộc loại quốc cấm khác.

Nhưng, mọi toan tính của bọn công an chấp cung cha Lợi đã bị thất bại hoàn toàn trước tấm lòng đạo đức, ngay thẳng, cương trực và sự khôn ngoan, lanh lợi Chúa cho của người mục tử này. Thay vì tin lời công an để vô tình nhận tội và nghi ngờ oán hận các bạn linh mục của mình, cha Phan Văn Lợi đã cương quyết giữ vừng lập trường không dời đổi. Ông xác định là mình hoàn toàn vô tội, không làm gì sai trái hoặc vi phạm luật pháp.

Cha Lợi còn ngang nhiên tố ngược lại phía công an chấp cung bằng cách lên tiếng thách thức họ là nếu có linh mục nào đã tố cáo với nhà nước là ông phát tán tài liệu xấu thì xin cứ đưa nhân chứng đó ra để cùng ông đối chất. Bị dồn vào thế bí, bọn công an ưng khuyển của nhà nước đã phải thay đổi kế hoạch bằng những luận điệu giả đạo đức không ai có thể tin được. Chúng uốn lưỡi giải thích rằng sở dĩ không muốn đưa người đã tố cáo linh mục Lợi ra đối chất vì không nỡ nhìn thấy cảnh huynh đệ tương tàn trong hàng ngũ linh mục Công giáo (sic).

Cũng xuyên qua vụ này, người ta nhận ra sự thông minh, bén nhạy và tư cách khác thường của người mục tử họ Phan. Rõ ràng là nhờ niềm tin vững chắc nơi Thiên Chúa, nhờ thái độ tin tưởng tuyệt đối vào tư cách của các linh mục thành viên trong linh mục đoàn giáo phận Huế cũng như nhờ ý chí cương quyết và lập trường dứt khoát không lay chuyển, đã giúp cha Phêrô Phan Văn Lợi dễ dàng thoát ra khỏi cái bẫy độc ác muốn tạo nghi kỵ, vốn là nghề ruột của những người cộng sản. Cũng chính nhờ thế mà ông còn đứng vững được cho đến ngày nay.

                                  SÁU

Hai Mươi Năm Tư Tế:
Những Vần Thơ Hồi Tưởng


            21 tháng 5 năm 1981 – 21 tháng 5 năm 2001.

Đấy là thời điểm ghi dấu chẵn 20 năm cha Phêrô Phan Văn Lợi lãnh chức linh mục chui tại giáo đường Giang xá, Sơn tây. Những lời thơ bi tráng chất chứa trong bài "Hai Mươi Năm Tư Tế" đã vẽ lại những chặng đường gian nan, cay nghiệt mà người mục tử họ Phan đã trải qua kể từ ngày được hồng phúc chia sẻ thánh chức linh mục của Chúa Giêsu. Nội dung bài thơ cũng gói ghém tấm lòng chuyên nhất của một con người  đã thề quyết dâng hiến trọn vẹn đời mình cho Giáo hội và tha nhân.

            Ngay giây phút lặn lội tìm đường ra bắc, tới Giang xá, Sơn tây để lãnh nhận chức linh mục chui, tu sĩ Phêrô Phan Văn Lợi đã ý thức một cách rõ ràng tính cách bất bình thường trong chọn lựa của ông cũng như những sự việc sẽ xảy ra cho đời ông sau đó.

Cho dù trước mặt Thiên Chúa và Giáo hội, cha Lợi là linh mục của Ngài, nhưng trong thực tế ông sẽ không thể có đời sống bình thường như những anh em linh mục khác. Mở đầu cho những vần thơ hồi tưởng lại những thời khoảng đầy gian nan, thử thách nhưng cũng không thiếu hào hùng, ảo diệu ấy, tác giả viết.

Trong mắt và trong hồn người thơ, hồng ân cũng như mọi nẻo lối kỳ diệu mà Thiên Chúa ban tặng những ai dõi theo bước chân Ngài không phải là những vinh quang theo lề thói thế gian. Trong thẳm sâu của một tâm hồn linh mục đã tự nguyện hiến trọn đời mình và mọi ước mơ cho Thiên Chúa, dù trải qua hai mươi năm đầy dẫy những tang thương, dâu bể, cha Lợi vẫn coi đấy như những ân huệ của Ngài.

"Thế là đã hai mươi năm,
Chúa chọn con làm tư tế
Một dặm dài dâu bể!
Đâu có bình thường như mọi anh em!

Giờ đây, trong lắng im,
Con hồi tưởng lại hồng ân của chúa,
Gẫm suy muôn nẻo lối kỳ diệu của Ngài".

Trong mắt và trong hồn người thơ, hồng ân cũng như mọi nẻo lối kỳ diệu mà Thiên Chúa ban tặng những ai dõi theo bước chân Ngài không phải là những vinh quang theo lề thói thế gian. Trong thẳm sâu của một tâm hồn linh mục đã tự nguyện hiến trọn đời mình và mọi ước mơ cho Thiên Chúa, dù trải qua hai mươi năm đầy dẫy những tang thương, dâu bể, cha Lợi vẫn coi đấy như những ân huệ của Ngài.

"Vừa ban cho con chức linh-mục-đời-đời,
 Trong âm thầm bí mật!
Chúa đã đưa con đi hưởng tuần trăng mật:
Bảy năm trời trong cảnh tù lao,

Cùng ngắm trăng thanh qua cửa cấm, cọc rào!
Đồng dạo bước trên rẫy khoai, đồi sắn.
Dâng lễ với Chúa lúc một hai giờ sáng,
Trên chiếc chiếu tù chỉ rộng bảy mươi phân!
Chia sẻ thân phận của Ngài nơi các tù nhân...
Sao quên được những giây phút hồng ân đầy lưu luyến!"

Tuần trăng mật của người mục tử họ Phan là bảy năm tù đày, với những ngày dài nhọc nhằn lao động, cuốc đất trồng khoai, trồng sắn, với những đêm khuya giam mình trong ngục tối hào lũy vây quanh.

Nhưng ông vẫn không cảm thấy cô đơn, chán nản vì tin rằng từng phút từng giây Thiên Chúa vẫn đồng hành với ông, vẫn thường xuyên hiện diện bên ông, nhất là những khi âm thầm một mình nửa khuya dâng thánh lễ, tái diễn cuộc hy tế của Con Một Ngài trên bàn thờ thập giá. Và từ trong chốn thẳm sâu của tiềm thức, người thơ linh mục không hề oán than hờn tủi, trái lại luôn cảm nhận đấy là những phút giây thanh luyện hiếm quý cho cuộc đời tận hiến của ông.


"Ôi tuyệt diệu những khắc giờ thanh luyện,
Con đã chẳng bao giờ tiếc nuối, oán than!"


Nhìn lại chặng đường hai mươi năm tư tế với hơn một phần ba thời gian tù tội và hơn mười năm còn lại bị theo dõi và gây khó dễ trăm bề, người thơ linh mục Phêrô Phan Văn Lợi vẫn đầu cao mắt sáng với tâm hồn thanh thản, không trách than, tiếc nuối. Từ giã trại giam trở về với đời sống thường nhân, tác giả đã vẽ lại cảnh tù không ở tù của ông bằng những lời thơ châm biếm nhưng đầy ắp sự an bình sau đây.

"Trở lại đời thường trong xã hội, giữa thế gian
Con vẫn mãi là thứ người bất hợp pháp!

Nhất cử, nhất động người ta đòi "xin phép"!
Mọi hành tung đều đáng theo dõi, nghi ngờ,
Người ta bắt con phải đợi phải chờ,
Người ta khuyên con phải nhất tâm "phấn đấu",
Biết "lập thành tích", xóa đi "quá khứ xấu"!..."

Vì tôn trọng nguyên tắc sống thẳng, nói thực, cha Lợi nhất quyết không "xin phép", không "phấn đấu" cũng không muốn đoạn tuyệt "quá khứ xấu" theo đòi buộc của bạo quyền. Và như thế ông chọn làm chui những việc mà sứ vụ linh mục phải làm, hơn là xin xỏ, cầu lụy chế độ độc tài toàn trị vô thần cộng sản.

"Ở với mẹ già
con tìm đủ mọi cách làm mục vụ 'chui'!
Dạy học, dâng lễ, giảng cấm phòng 'chui'!

Bởi dạy học chui, dâng lễ chui, giảng cấm phòng chui và thực hiện những công trình biên soạn, sáng tác cũng chui nên linh mục Phan Văn Lợi không ngừng bị bọn công an chế độ săn đuổi, theo dõi ngày đêm, khiến cho nhiều thánh lễ đang diễn tiến "phải chấm dứt đột ngột!", nhiều buổi dạy cũng như nhiều công trình biên soạn phải bỏ dở vì "bị phá ngang xương!" Trong cảnh huống ấy, người thơ vẫn không hề tuyệt vọng. Trái lại vẫn cảm thấy được an ủi khi liên tưởng tới những đoạn đường dở dang, trở ngại mà chính Chúa Giêsu và các ngôn sứ mọi thời đại đã phải trải qua.

"Mọi cái đều dở dở dang dang,
Như cuộc đời Chúa dang dang dở dở!
Như số phận lao đao của ngàn ngôn sứ!"

Nghĩ tới thân phận các ngôn sứ, người thơ trạnh lòng nghĩ tới các linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Hữu Giải, bạn đồng tâm đồng chí của ông và lý tưởng ông đang miệt mài theo đuổi. Bằng những lời thơ mộc mạc tác giả đã cho người đọc thấy nguyện vọng và ý chí cương quyết của ông trong khi cùng các linh mục Lý, Giải theo đuổi cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo và quyền sống của con người.

"Kể từ hôm cùng anh em, con cất tiếng kêu gào,
Đòi lại tự do cho con người, cho con Chúa.
Thiên ân bẩm sinh bị bạo quyền tước đoạt,
Đương đầu với chế độ áp bức độc tài,
Công bố Lời Chân Lý, bản cáo trạng muôn nơi..."

Và kết quả là cùng với hai linh mục bạn, cha Phan Văn Lợi đã phải lãnh nhận tất cả những đòn thù của đảng và nhà nước độc tài toàn trị cộng sản.

"Những đòn thù nhắm đầu con giáng xuống!
Cắt điện thoại, phá điện thư, chặn đường đi nước bước!
Hăm dọa cộng đoàn con phục vụ thường xuyên,
Người ta biến con thành mục tử không chiên!
Kẻ tội đồ, không tội!
Người lữ khách  không đường!"

Dù vậy tác giả vẫn chưa nguôi lòng tin, bất chấp mọi khủng bố, hăm dọa của kẻ thù kể cả chuyện bắt bớ giam cầm, bởi vì ông vẫn còn là linh mục của Chúa Giêsu.

"Nhưng con vẫn còn chức năng "tư tế":
 Lo thờ phượng Chúa – một mình dâng thánh lễ,
Dâng tấm thân yếu hèn trên đĩa thánh gian lao!
Có thể lại nếm cảnh bắt bớ, tù lao!
Cho trọn vẹn con đường làm chứng".

Là linh mục, hơn thế là ngôn sứ, cha Lợi thấu hiểu những gì cha Lý, cha Giải kể cả giáo chúng Nguyệt biều, An truyền và chính bản thân ông đang trải cũng là tất cả những gì hai ngàn năm trước Chúa Giêsu đã kinh qua trong ba năm rao giảng và kết thúc bằng con đường thập giá. Từ mối cảm thông kỳ diệu ấy, người mục tử họ Phan đã kết thúc bài "Hai Mươi Năm Tư Tế" bằng những vần thơ hào hùng, sảng khoái sau đây.

"Nhưng con hiểu, kiếp sống lao đao lận đận,
Giúp thể hiện chức năng đời linh mục trọn vẹn thêm:
Ngôn sứ nào hào hùng hơn trong cảnh gian nan?
Tư tế lễ phẩm nào quý hơn
         khi dâng trên bàn thờ thập giá?

Thủ lãnh nào ảnh hưởng hơn giữa ba đào sóng cả?
Như trên đồi xưa Chúa đã dâng mình cứu rỗi thế gian,
Đâu phải khi thực hiện những phép lạ kinh hoàng,
Nhưng là lúc tự trầm trong đau khổ!"

BẢY

Lm Lý, Giải, Lợi:
Ba Khuôn Mặt, Một Tấm Lòng.


            Vào những ngày chuẩn bị đón mừng lễ Giáng sinh 2000, linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý công bố Lời Kêu Gọi Số 1 (cũng được mệnh danh là Tuyên Ngôn 2000) kỷ niệm 6 năm Tuyên Ngôn 10 Điểm, để khởi đầu giai đoạn đấu tranh mới cho tự do tôn giáo, và nói chung cho quyền sống, quyền làm người của toàn dân Việt nam, thì như một sự an bài của Thiên mệnh: các linh mục Lý, Giải và Lợi nghiễm nhiên trở thành biểu tượng của lòng tin.

Vì thế, trong cuộc vận động đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo hiện nay, nói đến linh mục Nguyễn Văn Lý là người ta không thể không liên tưởng tới các linh mục Nguyễn Hữa Giải, Phan Văn Lợi. Điều này chứng tỏ sự đồng tâm, đồng cảm và đồng tình giữa cha Lợi và các bạn linh mục của ông.


Đối với linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, tấm gương kiên trì, đạo hạnh và can đảm của đức cha Philiphê Nguyễn Kim Điền, cố tổng giám mục tổng giáo phận Huế đã trở thành một biểu tượng sáng ngời để cha Tađêô noi theo trong hơn một phần tư thế kỷ qua. Tương tự như thế, những hành vi can trường quả cảm của vị linh mục quản xứ An truyền, người từng bị đảng và nhà nước độc tài toàn trị cộng sản Việt nam giam giữ, quản chế gần như hết nửa đời, chính là chiếc bóng lớn, chiếc bóng vĩ đại tạo nên lòng cảm phục và ngưỡng mộ nơi người mục tử xuất thân từ giáo xứ Ngọc Hồ.

Nó gỉai thích lý do vì sao ngay từ đầu mùa cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, cùng với linh mục Nguyễn Hữu Giải, cha Phan Văn Lợi luôn luôn chiếm giải quán quân trong việc dồn mọi cố gắng, mọi nỗ lực và nghị lực để yểm trợ tối đa việc làm của cha Nguyễn văn Lý.

Lm Nguyễn Hữu Giải

Lm Nguyễn Hữu Giải & Lm Phan Văn Lợi













Nhất cử nhất động của linh mục Lý tại Nguyệt biều cũng như tại An truyền, kể cả sau khi ông bị quản chế rồi bị chế độ tống ngục sau đó, đều được cha Lợi quan tâm theo dõi.

Từng phút từng giây, với những phương tiện có được trong tầm tay do sự tiếp sức của anh em linh mục và giáo dân quanh vùng, ông đã tận dụng mọi khả năng và sự khôn ngoan Thiên Chúa phú ban để kịp thời gửi lên mạng lưới điện toán toàn cầu những Lời Kêu Gọi, những Lời Chứng, những Biên Bản của cha Nguyễn Văn Lý cũng như những tin tức về diễn biến của cuộc đấu tranh suốt nửa năm qua.

Có thể nói quyết mà không sợ sai lầm là dường như mọi lời nói, mọi việc làm của linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý đều có sự đóng góp hoặc khích lệ dưới hình thức này hay hình thức khác của linh mục chui Phêrô Phan Văn Lợi. (Dĩ nhiên chúng ta cũng không quên những góp phần tích cực về phía cha hạt trưởng Nguyễn Hữu Giải).

Mặc dầu bị đảng và nhà nước độc tài toàn trị cộng sản Việt nam chỉ định nơi cư trú tại số 90/13 Phan Chu Trinh là nhà của song thân ở Phủ cam, Huế, nhưng trong suốt chiều dài cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo vừa qua, hầu như cùng một lúc ông đã phân thân có mặt ở khắp mọi nơi. Ở Hànội. Ở  Sàigòn. Ở Paris. Ở Hoa thịnh đốn. Ở Little Sàigòn, thủ đô của người tị nạn.

Cùng với những Lời Chứng, Lời Kêu Gọi, những Biên Bản kể tội ác cộng sản từng ngày của linh mục Nguyễn Văn Lý, tiếng nói của linh mục Phan Văn Lợi đã đến với mỗi người Việt nam trên khắp các nẻo đường thế giới, mang theo khối óc và nhịp đập trong trái tim của người mục tử đã tự nguyện hiến dâng đời mình cho Giáo hội Công giáo và quê hương Việt nam đau khổ vào một buổi sáng gió mưa tầm tã bên chái giáo đường Giang xá, Sơn tây cách đây vừa chẵn hai thập niên.

Nhân cách, thái độ cương trực và gương hy sinh của linh mục Phan Văn Lợi không chỉ được ghi nhận với tấm lòng cảm phục của những đồng bào, đồng đạo ủng hộ ông ở trong cũng như ngoài nước mà còn được bộc lộ một cách công khai, can đảm và thẳng thắn trước guồng máy cai trị của đảng và nhà nước cộng sản.

Vào lúc cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo bước vào giai đoạn quyết liệt, Hànội đã khép chặt vòng vây quanh linh mục Nguyễn Văn Lý, ra quyết định quản chế ông thì các linh mục Nguyễn Hữu Giải, Phan Văn Lợi cũng bị công an theo dõi gắt gao. Nhất cử nhất động của hai vị mục tử này đều có sự canh chừng, dòm ngó, theo dõi từng phút giây của tai mắt nhà cầm quyền. Riêng cha Phan Văn Lợi, ngày 7 tháng 3 năm 2001 đã nhận được giấy mời làm việc tại đồn công an Phước vĩnh số 64  đường Trần Phú, Huế vào ngày hôm sau.

Trong suốt buổi sáng ngày 8 tháng 3, trưởng đồn công an Trần Xuân và một công an viên là Nguyễn Trân đã tìm hết cách hạch hỏi cha Lợi đủ điều về chuyện đã rời khỏi nơi cư trú mấy ngày không khai báo. Buổi chiều, người thẩm vấn mới là Phạm Văn Trạch đã cùng Nguyễn Trân gợi chuyện để tìm hiểu sâu xa hơn về cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo của linh mục Tađêo Nguyễn Văn Lý.

Những câu trả lời khảng khái của cha Phan Văn Lợi trong dịp này đã cho người ta thấy thái độ can đảm, dứt khoát và nhất là tấm lòng yêu mến, kính phục và sự gắn bó của ông đối với vị linh mục quản xứ An truyền.

Lên tiếng trả lời câu hỏi của công an viên nhà nước là ông nghĩ sao về những việc làm hiện nay của cha Nguyễn Văn Lý, linh mục Phan Văn Lợi đã nhìn thẳng vào mắt người thẩm vấn nghiêm giọng trả lời: "Tôi nhận thấy những gì linh mục Nguyễn Văn Lý đã nói, đã viết và đã làm để tranh đấu cho tự do tôn giáo đều hoàn toàn đúng. Và vì thế, tôi luôn luôn nhất trí ủng hộ  cha Lý".

Qua buổi làm việc ngày 9 tháng 5 với Nguyễn Trân và một công an viên mới tên Trần Hồng Lam, cha Phan Văn Lợi tái xác nhận là ông hoàn toàn yểm trợ và tán đồng việc làm của cha Nguyễn Văn Lý về mọi mặt, trên căn bản tư tưởng cũng như hành động của vị quản xứ An truyền. Khi Trần Hồng Lam hỏi vặn, như thế phải chăng ông đồng lõa và đứng về phía linh mục Lý thì cha Lợi đã không ngần ngại xác định: "Đúng vậy! Không những tôi đồng tình với cha Lý mà còn tích cực hỗ trợ cha nữa".

Chưa hết, trong buổi thẩm cung ba ngày sau đó tại đồn công an thành phố ở số 42 đường Hùng Vương, Huế với hai tên trung tá cộng sản là Nguyễn Hòa và Phạm Đức Thuận, khi bị chất vấn là nghĩ thế nào về Lời Kêu Gọi Số 6 của linh mục Lý, trong đó cha Lý yêu cầu các nhà giáo dục trong nước bày tỏ thái độ bằng cách chấm dứt và tẩy chay việc giảng dạy chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít trong trường, với giọng nghiêm nghị linh mục Phan Văn Lợi đã mạnh dạn trả lời:

"Cha Lý yêu cầu như thế là phải. Vì chủ nghĩa Mác Lê là một học thuyết chủ trương đấu tranh giai cấp, khuyến khích đấu tố, gây hận thù giữa người với người, do đó đã là mầm mống của bao cuộc chiến tranh. Chủ nghĩa này còn là một học thuyết duy vật, ngăn cản con người hướng đến những gì là cao thượng, những gì thuộc về tâm linh, về Thượng Đế".

Gom lại tất cả những lời nói, việc làm cũng như những câu trả lời can đảm và dứt khoát của linh mục Phan Văn Lợi khi đối diện trước các cán bộ công an nhà nước, người ta có lý để nói rằng trong cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo được phát động từ nửa năm qua, cùng với các linh mục Lý, Giải, cha Lợi đã trở thành biểu tượng cho sự can đảm, lòng nhiệt thành và thái độ nhất quyết dấn thân làm thành trì bảo vệ lý tưởng công bằng và nhân ái trong xã hội Việt nam hôm nay.

Nói cách khác, những mục tử này đã chia sẻ trọn vẹn cách nhìn và lối suy nghĩ của nhau đối với những vấn đề của quê hương và Giáo hội Công giáo trong bối cảnh bị đảng và chế độ độc tài toàn trị cộng sản chèn ép và khống chế từ mấy chục năm qua. Điều này cũng mở ra một cái nhìn tràn trề lạc quan và hy vọng khi hướng về tương lai.

Cho dẫu guồng máy cai trị Hànội đã bắt giam linh mục Lý, và trong điều kiện tệ hại hơn, họ còn có thể hủy diệt mạng sống của ông, thì cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo và quyền làm người của dân tộc Việt nam vẫn chưa kết thúc.

Bởi lẽ giản dị là vẫn còn rất nhiều người khác sẵn sàng đứng lên nối tiếp con đường linh mục Nguyễn Văn Lý đã vạch ra, trong đó nổi bật lên những khuôn mặt vĩ đại của các linh mục Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi, những người đã từng hơn một lần ra tù vào khám, từng bị chế độ khủng bố, bạo hành nhiều phen, nhưng vẫn nhất quyết kiên trì theo đuổi lý tưởng đến cùng.


                                  












TÁM

Kẻ Thù Nguy Hiểm Nhất: Sự Sợ Hãi!

            Trong bản tin gửi đi từ Huế ngày 29-2-2001 tường thuật chi tiết vụ cán bộ nhà nước cộng sản đến giáo xứ An truyền đọc lệnh quản chế hành chánh linh mục Nguyễn Văn Lý, có đoạn nói tới tình trạng linh mục Phan Văn Lợi bị công an của chế độ rình mò, gây khó dễ ngày đêm.

Vì lo lắng cho sự an toàn sinh mạng của linh mục Lợi, có người hỏi là ông có gặp khó khăn nguy hiểm gì không thì cha Lợi bình thản trả lời như sau: "Đối với tôi, một khi đã đặt để trọn vẹn niềm tín thác nơi Thiên Chúa thì chỉ có một điều duy nhất được xem là khó khăn nguy hiểm: đó là sự sợ hãi!".

N
goài ra, trong cuộc tiếp xúc với linh mục Phan văn Lợi qua đường giây điện thoại viễn liên hôm Thứ Năm 24-5-01 của ký giả Dương Phục, Giám đốc Little Sàigòn Radio, Houston, khi được hỏi là trước thực trạng linh mục Nguyễn Văn Lý bị cộng sản bắt và đang trong tình trạng hôn mê có thể nguy hiểm tới tính mạng vì tuyệt thực trong tù, cha có e ngại bị liên lụy và có thể bị nhà nước cộng sản trù dập không, thì với giọng trầm trầm toát ra vẻ bình tĩnh khác thường, ông nói:

"Khi chọn con đường đấu tranh cho tự do tôn giáo, chúng tôi không bao giờ đặt ra vấn đề sỡ hãi trước viễn ảnh có thể bị tù tội hay bị thủ tiêu, giết chóc. Giản dị là chúng tôi đã tiên liệu và sẵn sàng đối diện với những điều tệ hại như thế có thể xảy ra bất cứ lúc nào".

Khi được hỏi là linh mục có muốn nhắn gửi điều gì với đồng bào và đồng đạo trong các cộng đồng Việt nam ở hải ngoại không, cha Phan Văn Lợi nói:

"Cá nhân tôi cũng như tôi xin thay mặt cha Nguyễn Văn Lý nhờ quý đài chuyển lời cám ơn của chúng tôi đến tất cả mọi người thiện chí, thuộc mọi tôn giáo, vì tình yêu thương đã lo lắng cho sự an toàn sinh mạng của anh em chúng tôi. Nhưng xin mọi người hãy cầu nguyện, không phải chỉ cầu nguyện riêng cho cha Lý hay bản thân cá nhân tôi, mà hãy cầu cho tất cả đồng bào chúng ta thuộc mọi tôn giáo được sớm hưởng tự do và nhân quyền trên quê hương".

Người viết những giòng này muốn được dừng lại giây lát để cùng độc giả suy tư sâu hơn một chút chung quanh thái độ kiên cường và những câu trả lời có tính quyết liệt và dứt điểm trên đây của người mục tử họ Phan.

            Giữa lúc linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, người khởi động cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo vừa bị chế độ độc tài toàn trị cộng sản tống giam, sinh mạng đang như treo sợi chỉ mành và ngay bản thân cũng đang bị theo dõi, rình rập ngày đêm, khi lên tiếng nhấn mạnh không có điều gì đáng gọi là nguy hiểm ngoài sự sợ hãi, linh mục Phêrô Phan Văn Lợi không chỉ nói lên lòng can đảm dám đương đầu với mọi đe dọa tù đày, chết chóc bao phủ quanh ông.

Nó còn chứng tỏ là khi cùng linh mục Nguyễn Hữu Giải quyết định đứng chung hàng ngũ với cha Nguyễn Văn Lý và giáo dân các giáo xứ Nguyệt biều, An truyền cương quyết đối đầu với đảng và nhà nước cộng sản trong cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, rõ ràng người mục tử họ Phan đã biết trước những gì sẽ xảy đến cho bản thân ông.

Khi quyết liệt tuyên bố như vậy, linh mục Lợi hàm ý: một khi đã vượt thắng được chính mình, tức là vượt thắng được sự sợ hãi, khiếp nhược thì không có gì cản được bước chân ông tiến tới, cho dù nguy hiểm đến đâu, kể cả cái rào cản cuối cùng là cảnh lao tù và sự an toàn sinh mạng.

Ý tưởng này không phải nhất thời nảy sinh. Trái lại nó đã bám rễ sâu xa trong ông từ những ngày tháng tư năm 1975 khi quyết định chọn ở lại chia sẻ những gian nan, khốn khó cùng đồng bào, đồng đạo trong một chế độ cộng sản vô thần ác độc. Nó cũng đã ươm sâu trong tiềm thức ông vào những ngày đầu tháng 5 năm 1981 khi liều mình tới Giang xá nhận chức linh mục chui, kể cả những năm tháng dài lén lút tuyên rao Lời Hằng Sống, dù biết trước những đoạn đường chông gai, thử thách, tội tù đang chờ đợi trước mặt.



Bởi vì qua tù đày, qua thập giá, cũng như linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Hữu Giải và giáo chúng Nguyệt biều, An truyền, ông đã thấy trước ánh sáng hy vọng, viễn ảnh Phục Sinh. Đấy cũng là tâm trạng và thái độ của các tông đồ ngày xưa sau khi biết tin thày mình đã từ cõi chết sống lại. Từ tâm trạng hoang mang lo lắng sau khi Chúa Giêsu bị quan quyền đem đi xét xử và bị chết treo trên thập tự giá, lúc này Thần khí của sự bình an và sự sống đã đẩy xa các ông sự sợ hãi, giúp các ông vượt thắng mọi khó khăn trở ngại do kẻ thù giăng mắc để cùng nhau hân hoan bước tới.

Một cách nào đó, chúng ta có thể ví những câu trả lời trên đây của linh mục Phêrô Phan Văn Lợi và khẩu hiệu "Tự Do Hay Là Chết!" của linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý như là hai mặt của một đồng tiền, là sự gặp gỡ, đồng cảm của những tấm lòng mục tử đã thề quyết tận hiến đời mình cho Chúa Giêsu, Đấng đã đến trong thế gian với sứ vụ trọng đại là đem Tin Mừng cho người nghèo khó, tự do cho kẻ  bị áp chế, lưu đày.


Trong một đoạn thơ ngắn có tiểu đề là "Ta Không Có Gì Để Sợ!", linh mục Phan Văn Lợi  đã ghi lại những suy tư từng khắc sâu vào tâm khảm để trở thành châm ngôn, thành chuẩn mức cho đời ông như sau:

"Với Thiên Chúa là đấng phù trợ,
Ta thoát khỏi những ngại sợ đớn hèn:
Sợ việc tiến thân bị ngăn lối chặn đường.
Sợ quyền lực trần đời chẳng ban 'gíấy phép'

Sợ thế gian không 'thi ân, xem xét'
Sợ chẳng được đi ra nước ngoài,
Sợ những ai 'có vấn đề' với chế độ độc tài
Sợ những kẻ nắm quyền gây khó dễ

......"

Những chi tiết trình bày trên đây gợi nhớ tới những luận điệu lâu nay của một ký giả quen thuộc trong cộng đồng Việt ở hải ngoại chuyên dùng ngòi bút tiếp tay bộ máy tuyên truyền Hànội triệt hạ uy tín của linh mục Nguyễn Văn Lý và cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo của ông ở quê nhà. Giữa lúc dư luận người tị nạn khắp nơi nhất loạt lên tiếng yểm trợ và bày tỏ thái độ đồng tình với cha Lý và giáo dân Nguyệt biều, An truyền thì cây bút này đã viết nhiều điều mang tính xuyên tạc, bôi bác.

Sau khi linh mục quản xứ An truyền bị nhà nước độc tài toàn trị cộng sản ra quyết định quản chế đồng thời mở chiến dịch bôi nhọ đời tư, vì muốn tỏ ra là kẻ thức thời hay còn vì một lý do thầm kín nào khác, đương sự đã huênh hoang tiên đoán là người mục tử này sắp bị bắt.

Đến ngày 17-5-01 khi guồng máy cai trị cộng sản huy động một lực lượng công an vũ trang 600 người tới dùng roi điện áp đảo giáo dân An truyền và thằng thúc linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý đem tống ngục, thì bằng những lý luận quá đơn giản, ông ký giả này lại tự khen tài đoán biết tương lai của mình đồng thời chê bai đám đông quần chúng và trí giả ủng hộ linh mục Nguyễn Văn Lý là không biết tiên liệu!

Chẳng cần phải là người có tài cao đoán, cũng không cần phải là người có kiến thức uyên thâm, với tầm hiểu biết và nhận định trung bình ai cũng có thể đoán biết những gì sẽ xảy đến cho linh mục Nguyễn Văn Lý khi ông quyết liệt đứng lên phát khởi cuộc đấu tranh lần này. Với quyết tâm TỰ DO HAY LÀ CHẾT, chính cha Lý đã phác họa minh bạch lộ trình mà bản thân ông và những người đồng tâm đồng chí với ông sẽ phải trải qua.

Chắc chắn nó không chỉ giới hạn trong những buổi thẩm cung ngụy trang là làm việc, những trò khủng bố, dọa nạt, theo dõi, làm khó dễ ngày đêm.Nó cũng không chỉ ngừng lại ở những biện pháp cấm đoán, quản chế theo luật rừng, những bản án tùy tiện dẫn đến cảnh lao lý tù đày. Vượt xa hơn, nó còn có thể là những chuyện ghê gớm hơn như chuyện giết chóc hay thủ tiêu!

Người ta chưa quên là trước ngày linh Mục Lý bị bắt, ông đã công bố một tâm thư thành khẩn xin mọi người đừng tin những gì cộng sản có thể ngụy tạo để gán cho là lời nói hoặc thủ bút của ông, nếu một mai ông bị chúng bắt bớ, giam cầm hoặc giết hại (xin đọc nội dung tâm thư trong phần chứng từ). Tất cả những điều này đã cho thấy tính cách trơ trẽn ấu trĩ qua điều gọi là tiên liệu trên đây



Theo dõi cuộc đời và lắng nghe những chứng từ của các linh mục Nguyễn Văn Lý và Phan Văn Lợi, sự liên tưởng khiến người viết nghĩ tới vài ba khuôn mặt lớn trong lịch sử cận đại của Giáo hội Công giáo. Đó là linh mục Maximilian Kolbe, nhân vật lừng danh tại lò sát sinh Auschwitz của Đức quốc xã ở Ba Lan trong thời đệ nhị thế chiến. Thứ hai là đức Gioan Phaolô II, vị lãnh đạo tinh thần tối cao của thế giới Công giáo. Và khuôn mặt thứ ba là cha Jerzy Popieluszko, linh hướng của Công đoàn Đoàn kết Ba lan từ năm 1981 cho đến khi cha bị chế độ cộng sản Varsovie thảm sát ba năm sau đó, vào đêm 19-10-84.

Điều trùng hợp hy hữu là cả ba đều là công dân của đất nước Ba lan, một đất nước chín mươi lăm phần trăm dân chúng là người Công giáo, và cũng là đất nước đã phải trực tiếp gánh chịu hai chế độ phi nhân khắc nghiệt nhất là chế độ phát xít Đức và chế độ cộng sản trong gần tròn một thế kỷ.


Nói tới linh mục Maximilian Kolbe là người ta nghĩ ngay tới thân phận đau thương của 6 triệu người Do thái đã chết thảm trong những lò hơi ngạt của Đức quốc xã trong thế chiến thứ hai. Lòng can đảm phi thường và thái độ không hề hãi sợ cường quyền bạo lực của cha Maximilian Kolbe xuất phát từ tình yêu tha nhân xuyên qua tình yêu Thiên Chúa nơi ngài. Trong thời gian chưa bị mật vụ Đức cầm tù, lòng bao dung và gương cam đảm của vị linh mục này đã trở thành mẫu mực cho những thanh niên Ba lan đang bí mật hoạt động chống lại nhà cầm quyền phát xít.


Sau nhiều lần bị bắt, tháng 5 năm 1941, cha Maximilian bị đưa vào trại giam Autschwitz, nơi được mệnh danh là lò sát sinh của Đức quốc xã để trở thành tù nhân danh tiếng với số tù 16,670. Cha nổi danh và được nhiều người hâm mộ vì lòng nhân ái và cũng vì thái độ can đảm không hề sợ bạo lực của cha.


Giữa cảnh tượng từng ngày từng giờ cả trăm, cả ngàn người bị lột quần áo, xô đẩy vào lò hơi ngạt để nhận cái chết một cách nhục nhằn tức tưởi, cha Maximilian vẫn tỏ ra bất chấp trước những đòn thù ác độc của bọn cai ngục, lớn tiếng khích lệ mọi người: "Anh em đừng sợ! Chúng ta sẽ không bao giờ khuất phục bạo quyền. Chúng không thể tiêu diệt ý chí của dân tộc Ba lan".


Và chính thái độ can trường không sợ hãi này đã thúc đẩy vị linh mục giầu lòng nhân ái tự nguyện chết thay cho một người bạn tù khác vì thấy anh ta còn trẻ, có gia đình vợ con cần phải sống để có ngày được trở về đời sống tự do trong xã hội văn minh.




Với đức Gioan Phaolô II, ngay trong những lời đầu tiên sau khi được Thiên Chúa chọn làm người cầm đầu Giáo hội, trên bao lơn đối diện công trường thánh Phêrô, Ngài đã lớn tiếng nói với một tỉ tín hữu Công giáo năm châu là: "Anh Chị Em đừng sợ!"


Tháng 6 năm 1979 khi trở lại viếng thăm quê hương Ba lan của Ngài lần thứ nhất, vị cha chung của thế giới Công giáo vẫn không ngừng lập đi lập lại lời nhắn nhủ trên đây trong những dịp nói chuyện với cả triệu đoàn viên Công đoàn Đoàn kết và giới trẻ Ba lan.


Là người đã sống qua hai chế độ độc tài tàn ác nhất thế kỷ là chế độ phát xít Đức và chế độ cộng sản trong quá nửa đời trước khi được Thiên Chúa đặt để vào ngôi vị cầm đầu Giáo hội Công giáo, hơn ai hết đức Gioan Phaolô II đã hiểu rõ tác dụng ghê gớm của sự sợ hãi. Nó đánh gục và xoi mòn lần hồi tất cả mọi ý chí, nghị lực của con người. Nó biến con người thành những kẻ hèn hạ, không còn biết đến nhân quyền, nhân phẩm là gì.


Cũng vì căn bệnh sợ hãi, người ta tự co rút lại không còn nghĩ tới ai khác mà chỉ biết có cái tôi nhỏ nhoi, ti tiện của mình. Chính từ đấy, mọi cuộc tập họp để tạo nên sức mạnh chung đều bị tan vỡ.

Vì hiểu rằng sự sợ hãi là căn nguyên sâu xa, và cũng là căn nguyên chính khiến cho 40 triệu đồng bào của Ngài phải tiếp tục kéo dài kiếp sống nô lệ trong vòng cương tỏa của chủ nghĩa cộng sản quốc tế suốt nửa thế kỷ qua, do đó đức Gioan Phaolô nắm vững yếu quyết duy nhất giúp cho tương lai đất nước Ba lan là mọi người phải vượt thắng được căn bệnh này để có thể đương đầu với mọi đe dọa của cường quyền bạo lực dù phát xuất từ Varsovie hay từ điện Cẩm linh.

Lời tâm sự sau đây của Zbigniew Bujak (người đã từng bí mật thành lập một nghiệp đoàn thương mại ngoài vòng pháp luật và đã bị chế độ săn đuổi, bị công an Ba lan thẩm vấn nhiều phen) sau khi được nghe đức Gioan Phaolô thuyết giảng, được chạm vào ánh mắt, nụ cười lạc quan, tin tưởng của Ngài, đã chứng minh tác dụng giây chuyền của lời khích lệ đừng sợ hãi.


"Những nỗi sợ hãi nảy sinh trong tôi từ khi bắt đầu cuộc vận động đấu tranh chống chế độ độc tài và mối quan tâm về đoạn đường trước mặt, trước đây từng ám ảnh tôi thường xuyên. Nhưng khi bắt gặp nụ cười và ánh mắt của đức Thánh Cha, bỗng dưng tôi thấy mọi nỗi sợ hãi cùng những ưu tư ấy biến mất."[3][74]


Là người đã chọn cha Maximilian Kolbe và Giáo chủ Gioan Phaolô II làm gương mẫu cho đời mình, trong khi cùng các công nhân trong Công đoàn Đoàn kết theo đuổi cuộc đấu tranh cho tự do và nhân quyền của dân tộc Ba lan, linh mục Jerzy Popieluszko thường tâm niệm không có một sức mạnh nào khiến cho cha phải chùn bước, ngoại trừ sự phản bội: phản bội chính mình, phản bội lý tưởng của mình và phản bội anh em, phản bội giáo hội, tổ quốc. Bởi lẽ theo cha Jerzy thì mặt trái của sự phản bội chính là sự sợ hãi cường quyền bạo lực!


Trung tuần tháng 12 năm 1981, các lãnh tụ đầu não của Công đoàn Đoàn kết phải rút vào bóng tối vì những đợt khủng bố man rợ của công an. Riêng những cán bộ Công đoàn thuộc nhà máy Varsovie thoát khỏi màng lưới bố ráp của chế độ đã tỏ ra vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện sự có mặt của nhau tại căn phòng của cha Jerzy. Họ tìm đến với cha vì biết cha không hề sợ hãi.

Trên vách căn apartment của cha treo một tấm bản đồ Ba lan vĩ đại có đánh dấu tất cả những nhà tù giam giữ những cán bộ Công đoàn rải rác khắp nước. Khi có người hỏi là thực hiện một bức bản đồ như vậy cha không sợ sao thì được cha Jerzy trả lời: "Chỉ những kẻ cầm quyền đã dựng nên những trại giam này mới là kẻ phải sợ hãi".


Một ngày kia, một công nhân tìm tới cha Jerzy với nét mặt vừa buồn rầu vừa bối rối. Anh thú thật với vị linh mục trẻ là vì áp lực và hăm dọa anh đã phải ký vào tờ bạch khế nhận làm chỉ điểm cho công an nhà nước. Sau khi thỏa thuận về phương thức giải quyết để gỡ rối cho người công nhân, vị linh hướng của Công đoàn đã dùng chính câu chuyện của anh để đưa vào bài thuyết giảng hình ảnh của lòng trung tín và nguy cơ phản bội vì sợ hãi.


Ông lớn tiếng kêu gọi các công nhân bảo vệ người bạn can đảm và tiếp tay với anh trong việc khước từ những nhượng bộ tinh thần, vì theo cha Jerzy, để "chiến thắng áp bức, trước hết cần phải chiến thắng sự sợ hãi!"Kết quả quyết định của cha Jerzy thật bất ngờ: khi nội vụ được công khai hóa, công an nhà nước cộng sản Ba lan không những phải ngậm miệng làm thinh mà còn phải ngầm bảo vệ người công nhân này vì sợ nếu có gì xảy ra cho anh chính chế độ sẽ bị mang tiếng!


Vào lúc đảng và nhà nước cộng sản Ba Lan phác họa kế hoạch thủ tiêu linh mục Jerzy theo lệnh của quan thày Mạc Tư Khoa, trong thánh lễ Cầu Cho Quê Hương hôm 26-8-1984 (ngót hai tháng trước ngày cha bị công an mật thảm sát và liệng xác xuống hồ), cha đã lớn tiếng tuyên bố trước cả chục ngàn giáo dân là "Chúng ta không phải sợ hãi điều gì. Chúng ta chỉ sợ sự phản bội!" Trong một dịp khác cha nói:
"Tôi sẵn sàng chờ đợi điều tệ hại nhất....vì không có gì đáng sợ ngoài sự phản bội!" [4][75]


Sóng vỗ lớp sau như lớp trước.

Những gì đã xảy ra trong một nước Ba lan cộng sản hai thập niên trước cũng đang tái diễn trong lòng giáo hội Công giáo và quê hương Việt nam hôm nay. Khuôn mặt lẫy lừng của cha Jerzy Popieluszko, người mục tử can trường nhỏ bé của Công đoàn Đoàn kết tại thủ đô Varsovie hai mươi năm trước đang phản chiếu trên những tên tuổi Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Hữu Giải, Phan Văn Lợi và quần chúng giáo dân Nguyệt biều, An truyền trong cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo và quyền làm người trên đất nước Việt nam từ hơn nửa năm qua.


Sự liên tưởng dẫn tới sự so sánh kể trên. Thực ra, dù ở Đông Âu, ở Nam Mỹ, ở Trung hoa hay ở Việt nam thì những thôi thúc của Tin Mừng nơi con cái Chúa, con cái của tự do vẫn chỉ là một. Những gì linh mục Lý, linh mục Giải, linh mục Lợi và quần chúng giáo dân Nguyệt biều, An truyền đã, đang và sẽ phản ứng  trước những thế lực sự ác hiện nay chỉ là hoa quả tất yếu của Tin Mừng, của một niềm tin vàng đá.

 

CHÍN

Sẵn Sàng Chờ Điều Tệ Hại Nhất

Trước khi chế độ cộng sản Ba lan sụp đổ dẫn tới sự cáo chung hoàn toàn của chủ nghĩa cộng sản quốc tế vào cuối thập niên 90, đã có sự đóng góp công lao, ý lực kể cả máu đào của biết bao công dân đất nước này, trong đó bao gồm cả những giám mục và linh mục Công giáo. Trong thời gian tuyên bố tình trạng thiết quân luật, ít nhất đã có một giám mục và một tu sĩ Ba lan bị cộng sản thủ tiêu dưới hình thức ngụy tạo những tai nạn xe cộ trong đó có bóng dáng của bọn công an mật của Varsovie. Đó là đức cha Kazimierz Kluz và thày dòng Honoriusz Kowalezyk.

Chính linh mục Jerzy Popieluszko cũng đã may mắn tránh được hai vụ tai nạn tương tự do nhà nước dàn dựng vào mùa hè năm 1984, không kể vụ nổ bom trong phòng ngủ của cha vào năm 1982, trước khi điều ông mệnh danh là tệ hại nhất xảy ra. Đêm 19-10 năm 1984 cha Jerzy đã bị ba sĩ quan mật vụ Ba lan bắt cóc rồi bạo hành đến chết và liệng xác xuống hồ gần sông Vistula cách thủ đô Varsovie 30 dậm để mong phi tang!

Trước đó, để trấn an mối âu lo của thân nhân, bằng hữu, Cha jerzy âm thầm lập lại niềm xác tín của ông như sau: "Là linh mục, tôi phải theo đuổi con đường công chính đến cùng.... Và điều tệ hại nhất họ có thể gây ra cho tôi là giết chóc về thể xác!
















Đám tang tiễn đưa Lm
Jerzy Popieluszko, Ba Lan

Nhìn lại đoạn đường của linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý trong cuộc vận động đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho nhân quyền Việt nam lâu nay, có nhiều chỉ dấu cho ta thấy ông đã đi theo tiếng gọi của Tin Mừng Chúa Giêsu mà người mục tử trên đây của Giáo hội Công giáo Ba lan cũng đã đi qua hai thập niên trước.


Xuyên suốt dọc dài 26 năm kiên trì tranh đấu của cha, với bao phen bị theo dõi, đe đọa, quản chế, vào tù ra khám, và qua những tuyên ngôn, những lời chứng, lời kêu gọi cùng những lời tuyên bố quyết liệt và dứt khoát khơi nguồn từ châm ngôn TỰ DO HAY LÀ CHẾT!, dư luận trong và ngoài nước đã nhìn ra khía cạnh khác biệt nền tảng trong cuộc đấu tranh của cha Lý lần này nếu đem đối chiếu với tất cả những cuộc vận động cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Việt nam từ trước đến nay.


Trong tác phẩm Hiện Tượng Nguyệt Biều, gs Đỗ Mạnh Tri viết: "Cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ sau Nguyễn Văn Lý không thể như trước Nguyễn Văn Lý nữa"[5][76].


Và khuôn mặt tiếp nối lý tưởng của linh mục Tađêô không ai xứng đáng hơn linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, người mục tử được tù nhân lương tâm danh tiếng là đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đặt tay truyền chức chui vào một ngày mưa gió tại nhà thờ Giang xá, giáo phận Sơn tây cách đây vừa chẵn hai thập niên.

C
ũng như linh mục Jerzy Popieluszko và linh mục Nguyễn Văn Lý, ngay từ phút giây được xức dầu để hân hạnh chia sẻ thánh chức linh mục của Chúa Giêsu, người mục tử họ Phan đã thâm cảm rằng: là linh mục ông có bổn phận theo đuổi con đường công chính đến cùng cho dù có phải chấp nhận điều tệ hại nhất là sự chết!


Người ta đọc được mối thâm cảm này nơi ông qua những câu ông phát biểu trong các cuộc phỏng vấn đó đây, qua một trời tâm sự ông gửi gấm trong những vần thơ chất ngất hào khí của đức tin và dạt dào tình yêu đối với tha nhân và giáo hội, cùng những điều ông nói thẳng vào mặt những cán bộ cộng sản khi thẩm vấn ông.


Trong buổi làm việc tại đồn công an Phước Vĩnh ngày 9 tháng 3 năm 2001 với hai cán bộ công an nhà nước là Trần Hồng Lam và Nguyễn Trân, trả lời những câu hạch hỏi về mối liên hệ giữa ông và cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo của linh mục Nguyễn Văn Lý, cha Phan Văn Lợi nói:


"Tôi không có thói quen khai báo về những liên hệ bạn bè. Các chiến hữu của các anh, khi đứng trước kẻ thù, có khai về các đồng chí của mình không? Tôi cũng vậy. Tôi yêu cầu các anh lần chót là đừng bao giờ hỏi tôi về đệ tam nhân, cũng như đừng hỏi là tôi đã giúp cho cha Lý như thế nào. Các anh không có quyền được biết điều này. Các anh muốn xử lý: quản chế, cầm tù, hay xử bắn tôi, tùy các anh. Tôi chẳng có gì để mất cả! Là người tu hành, đối với tôi sống hay chết đều như nhau. Ngồi tù hay ở ngoài đời, tôi đều có thể làm chứng nhân và ngôn sứ".


Kể từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 4, linh mục Phan Văn Lợi tiếp tục bị gọi tới đồn công an thành phố nhưng cha quyết định giữ im lặng tuyệt đối, sau khi viết một bản tuyên cáo trao cho nhân viên thẩm vấn với nội dung như sau:


"Tôi, linh mục Phêrô Phan Văn Lợi tuyên bố rằng: 1/ Những gì cần khai báo tôi đã khai báo đầy đủ. 2/ Những ý kiến và lập trường cần bày tỏ tôi đã bày tỏ rõ ràng. 3/ E-mails không có giá trị pháp lý, vì có thể thật cũng như có thể giả. Đọc lén e-mail là xúc phạm quyền bí mật thư tín đã nói trong Hiến pháp và công ước quốc tế về nhân quyền. 4/ Hạch xách tôi về chuyện gửi e-mail là vi phạm quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin, dựaa trên điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Vì thế tôi sẽ giữ im lặng đẩ phản đối chuyện áp bức một công dân và đàn áp tôn giáo qua một linh mục là tôi".


Chiều ngày 6 tháng 4, vì bực tức trước thái độ im lặng tuyệt đối của linh mục Phan Văn Lợi, để trừng phạt và với thâm ý khủng bố tinh thần, hai công an thẩm vấn đã ra lệnh cho cha Lợi phải trở lại đồn làm việc ngày hôm sau là ngày thứ Bảy kể cả những ngày kế tiếp nhằm Tuần Thánh chuẩn bị mừng lễ Phục sinh của người Công giáo.


Giữ vững nguyên tắc không nói, cha Phan Văn Lợi viết xuống cho công an hiểu là ông dứt khoát không trở lại ngày hôm sau cũng như trong suốt Tuần Thánh vì còn phải chu toàn bổn phận thiêng liêng của người linh mục. Vì muốn chứng tỏ uy quyền, trung tá công an Phạm Đức Thuận nói như ra lệnh: "Ngày mai, Thứ Bảy anh phải đi 'làm việc'. Ngoài ra, không có bổn phận thiêng liêng nào quan trọng bằng bổn phận của người công dân đối với nhà nước hay bổn phận khai báo với cơ quan công an".


Trước thái độ hống hách của công an Thuận, cha Lợi đã bày tỏ thái độ dứt khoát của ông khi cầm bút viết: "Tôi nhất định không đi! Các anh có muốn bắt tôi thì cứ bắt. Bắt cha Lý hơi khó vì cha còn có 800 bổn đạo bảo vệ ngài. Bắt tôi dễ hơn nhiều, vì bên cạnh tôi chỉ có cha mẹ già  và đứa em gái yếu đưối của tôi mà thôi!" [6][77]




















Lm Phan văn Lợi là cháu của nhà cách mạng
Phan Bội Châu, người từng bị Hồ chí Minh
điềm chỉ cho Pháp vây bắt rồi giam lỏng Cụ ở Huế


Dưới tiểu đề "Ta Không Có Gì Để Mất" trong một bài thơ dài "Ta Không Có Gì Để....", của linh mục Phan Văn Lợi, người ta đọc được những vần thơ cảm khái đầy khí phách anh hùng, dũng liệt của những ai dám sống theo tinh thần tự do của Thần Khí và nội dung siêu thoát của Tin Mừng, bất kể sống chết sau đây:


Thiên Chúa đã đủ cho ta: trọn vẹn, dồi dào,

Mất quyền lợi ư? Ta muốn bị coi là hạng người nào?

Mất mạng sống ư? Tôn sư ta cũng là người như thế!

Mất an nhàn ư? Tổ tiên ta cũng đâu sá kể!

Với niềm tin: công lý tất thắng gian tà,
Niềm mến yêu đức Giêsu hiến mình tử nạn,

Niềm cậy trông sức mạnh của Thánh thần sự thật

Jesus-Angels-04.jpg Jesus and Angel image by Villkatta76


Ý tưởng sẵn sàng hy sinh mạng sống  để bảo vệ niềm tin Kitô và quyền sống, quyền tự do của con người nơi linh mục Phan Văn Lợi còn được tìm thấy trong những câu kết thúc bài "Chứng Nhân" như sau:

Con sẽ làm chứng nhân bằng cái chết,
Nếu đó là ân huệ Chúa thương ban,
Dẫu thân con thật bất xứng vô vàn,

Một cái chết trong cô đơn sầu tủi,

Một cái chết trong âm thầm, tăm tối,
Để vinh quang, quyền lực Chúa bừng lên,
Để người người không thẹn với tổ tiên,

Và bạo lực lui dần vào bóng tối".


Trong một lá thư dài gửi giáo sư Đỗ Mạnh Tri, linh mục Trần Xuân Tâm và cá nhân người viết qua mang lưới điện toán ngày 5 tháng 6 năm 2001 từ cố đô Huế, linh mục Phan Văn Lợi nhấn mạnh:


"...Cha Giải và tôi lúc này thì xin phó thác mọi sự trong tay Chúa. Nếu Chúa chưa cho phép thì chẳng ai đụng tới mình được cả. Còn nếu Chúa muốn để chuyện 'mệnh hệ' xảy tới, thì đó là hồng ân, xin cảm tạ và chúc tụng danh Ngài. Một tuần trước khi bị bắt, cha Tađêô Nguyễn Văn Lý đã nói với tôi những lời sau đây: 'Nếu bây giờ mà chúng ta chết thì cũng đã hoàn thành sứ mệnh. Chúng ta đã nói những gì cần nói và đã làm những gì cần làm rồi.'"


Trong một điện thư khác gửi cùng ngày cho anh Nguyễn Duy Sinh thuộc nhóm thánh Tôma Thiện, cha Lợi viết: "Mình vẫn còn sống đây (nghĩa là chưa bị bắt) đang ở nhà, ngày đêm có từ 10 đến 20 công an túc trực 'bảo vệ an ninh'. Từ đầu tháng tư, mình bị quản chế nghiêm nhặt, nhưng không văn bản, chẳng đi đâu được. Ra khỏi nhà vài bước là có 'bạn dân' dàn chào! Mọi liên lạc do đó rất khó khăn, kể cả bằng e-mail. Địa chỉ e-mail cũ thì bị chúng nó phá. Cũng may là còn có những người bạn can đảm (hầu hết là giáo dân, vì các cụ nhà mình chắc bị ngăn chặn kỹ!) giúp gửi và nhận e-mail ...nên tạm thời lâu lâu còn liên lạc được với người thân bên ngoài...."



MƯỜI

Những Chứng Nhân Tử Đạo Mới

Trong những thế kỷ trước, biết bao lần tiền nhân ta đã chứng tỏ cho quyền lực thế gian thấy rõ niềm tin vàng đá của các ngài bằng cách vui vẻ và hiên ngang chấp nhận cái chết. Bất chấp mọi cực hình dã man, tàn bạo của vua quan thời phong kiến, trong những điều kiện và thời điểm khác nhau, hàng trăm ngàn tín hữu Việt nam thuộc đủ mọi giai tầng xã hội đã can đảm lấy máu mình để làm chứng cho đức tin Công giáo.

117 chân phước được đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị nhân danh Giáo hội hoàn vũ suy tôn lên hàng hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 chính là biểu tượng sáng ngời cho niềm tin son sắt của tiền nhân ta.

Đại Lễ Phong Thánh Tử Đạo Việt Nam -
Vatican 19.Jun.1988 (gồm 3 phần)

TuDaoVN

TuDaoVN

 
Trong thực tế, những hình thái trực tiếp bách đạo và chịu tử đạo như thời xa xưa ngày nay không còn nữa. Giữa một thế giới mở rộng, được gọi là văn minh trong đó những quyền năng phổ quát được quy định thành những văn kiện, và trên nguyên tắc, buộc mọi thể chế chính trị phải tôn trọng, nhưng những thế lực thù nghịch với tôn giáo vẫn tìm ra trăm phương nghìn kế thâm độc nhằm bóp chết quyền tự do tín ngưỡng của con người. Kinh nghiệm cay đắng của hơn nửa thế kỷ sống dưới chế độ độc tài toàn trị vô thần cộng sản, người tín hữu Công giáo Việt nam đã phải trải qua biết bao gian nan khốn khó trong nỗ lực duy trì, bảo vệ và phát triển niềm tin.

Ngay từ khi cướp được chính quyền, ngoài mặt những người cộng sản luôn miệng tuyên bố là họ tôn trọng nhân quyền, trong đó có quyền tự do tư tưởng tự do tín ngưỡng của người dân. Hơn thế, điều này còn được quy định trên giấy trắng mực đen trong hiến pháp của chế độ. Sau ngày thôn tính được miền nam, họ còn công khai tuyên bố nhìn nhận tất cả những tuyên ngôn, những công ước quốc tế ấn định những quyền năng căn bản của con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, nói vậy nhưng trong thực tế không phải vậy!


Sau cái gọi là cách mạng mùa thu năm 1945, dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, nhà cầm quyền bắt đầu tìm mọi thủ đoạn thâm độc để kiểm soát và khống chế hầu truy diệt các tôn giáo. Riêng với giáo hội của Chúa Kitô, họ áp dụng biện pháp chia để trị một cách tinh vi. Trước hết, nhân danh quyền dân tộc tự quyết, một mặt họ trục xuất lần hồi các giáo sĩ thừa sai người ngoại quốc, mặt khác họ vuốt ve lòng tự ái dân tộc của một số linh mục, tu sĩ và giáo dân bản xứ.


Với thủ đoạn này, ngay từ bước đầu họ đã thành công phần nào trong việc lôi kéo được một thiểu số linh mục, tu sĩ nhẹ dạï, và qua nhóm này họ đã hình thành một tổ chức tay sai mệnh danh là Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo ở miền bắc. Tổ chức này chính là tiền thân của cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước sau tháng tư năm 1975 ở miền nam.


Chính cái tổ chức, mà theo cách gọi tên của giáo sư Nguyễn Ngọc Lan là tổ chức trung gian gây rối này đã là căn nguyên tạo ra biết bao đau thương, thống khổ cho giáo hội Công giáo Việt nam từ mấy chục năm qua. Nó đã trở thành công cụ, một thứ bàn tay nối dài của đảng và nhà nước độc tài toàn trị cộng sản, giúp chúng thực hiện lần hồi dã tâm bóp nghẹt mọi sinh hoạt trong giáo hội. Cả trăm cả ngàn cơ sở tôn giáo, từ trường học, nhà thương, chủng viện, trú sở các dòng tu đã bị tịch thu dưới hình thức cưỡng bách dâng hiến.


Từ đấy, việc tuyển sinh, truyền chức linh mục, đặt để giám mục đã bị cấm đoán nghiệt ngã vừa bằng bao lực vừa bằng những thủ đoạn gian dối, lọc lừa. Song song với những hành vi dọa nạt, khủng bố bằng vũ lực, họ giương lên những chiếc bẫy êm ái, nhằm xoi mòn lòng kiên nhẫn cũng như lập trường người tín hữu, nhất là những thành phần đầu não trong Giáo hội.


Qua trung gian của UBĐKCG một cơ cấu nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc do đảng và nhà nước cộng sản dựng lên, một tiền lệ xấu bắt đầu nảy sinh. Đó là mọi chuyện lớn nhỏ trong giáo hội đều phải xin phép đểå được nhà nước cho phép. (Xin phép tổ chức hội nghị thường niên của HĐGM. Xin phép nhà nước phê chuẩn danh sách ứng viên đi tu. Xin phép chế độ được truyền chức linh mục. Xin phép nhà nước duyệt bài sai cử một linh mục cai quản một giáo xứ.


Xin phép xây, sửa nhà thờ. Xin phép qua Rôma hoặc xuất ngoại đây đó. Nói chung, tất cả mọi chuyện lớn nhỏ trong giáo hội đều phải xin phép!) Dĩ nhiên việc cho phép kèm theo những điều kiện để được chấp thuận, bằng không họ sẽ thẳng tay bác bỏ!


Từ chuyện xin phép cho phép đã dẫn tới những cảnh chạy chọt, lo lót khiến cho kẻ có quyền thêm cớ để coi thường các đấng bậc trong giáo hội và gia tăng những biện pháp đàn áp, không chế những sinh hoạt cần thiết trong đời sống đức tin. Khi xuất hiện những tệ trạng này thì có nhiều bằng chứng cho thấy lần hồi cốt lõi của niềm tin Kiô giáo đã bị xoi mòn, để rồi sớm muộn một ngày nào đó sẽ bị băng hoại. Khi ấy, nếu không có ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần, không cần phải có tài tiên tri người ta cũng thấy trước là tương lại Giáo hội Việt nam sẽ đi về đâu?


V
ì biết rõ bản chất tệ hại của Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo nên ngày 8 tháng 3 năm 1982, Thánh bộ Giáo sĩ đã chính thức gửi tới Hội đồng Giám mục Việt nam một tuyên cáo với nội dung "cấm các giáo sĩ, các linh mục làm chính trị, không được thành lập và tham gia các hiệp hội có tính cách  chính trị". Tuân hành tinh thần tuyên cáo trên đây, thuở sinh thời đức cha Philiphê Nguyễn Kim Điền Tổng giám mục giáo phận Huế đã nghiêm cấm các linh mục không được gia nhập UBĐK.


Đấy là lý do khiến nhà cầm quyền cộng sản đã cưỡng bách ngài tới sở Công an Thừa thiên 'làm việc' tổng cộng 120 ngày trong thời gian từ đầu tháng tư đến giữa tháng 10 năm 1984. Khi bị chất vấn về điều nghiêm cấm này hôm 15-10-84, đức cha Điền đã thẳng thắn nhắc lại nội dung tuyên cáo đồng thời nhấn mạnh là ngài phải tuân hành luật lệ của Thiên Chúa hơn luật lệ của con người. Chỉ một sự kiện này đã đủ cho người ta thấy thực chất của cái gọi là UBĐKCGYN không gì khác hơn là một tổ chức trung gian tay sai của chế độ!


Sự liên tưởng khiến người viết những giòng này nhớ tới câu trả lời rành rọt của đức cha Nguyễn Minh Nhật với tư cách Chủ tịch HĐGMVN trong cuộc phong vấn của báo Églises d'Asie đầu năm 1991. Khi được hỏi là đức cha nghĩ gì về UBĐKCG, ngài trả lời nguyên văn bằng Pháp ngữ như sau:

"Le comité (d'Union de catholiques Patriotes) détient l'unique journal catholique du Sud-Vietnam. Cependant l'un comme l'autre doivent être considérés plutôt comme des organes de l'Etat.

Les articles du journal sont toujours en faveur de la politique gouvernementale et sont très souvent critiques vis-à-vis de l'Eglise. Ils ne donnent pas une idée juste de l'Eglise du Vietnam...Deux des représentants (du Comité) m'ont apporté une lettre dans laquelle ils se plaignent d'être soupconnés à la fois par le gouvernement et par la hiéarchie catholique qui les considère comme un instrument de contrôle du gouvernement. Je leur ai répondu que ces soupcons étaient fondés. Il ont perdu la confiance des catholiques"
[7][78]


(Tạm dịch: UBĐKCG nắm tờ báo Công giáo duy nhất (tờ Công giáo & Dân Tộc). Cả hai (UB và tờ CG & DT) phải được xem là những bộ phận của nhà nước. Những tiết mục trong tờ báo luôn luôn nghiêng về phía nhà cầm quyền trong khi thường xuyên chỉ trích giáo hội. Nó không cung ứng cho người đọc một ý niệm trung thực về giáo hội... Hai đại diện (của Ủy ban này) đã trao cho tôi một bức thư trong đó các đương sự than phiền là một mặt họ bị nhà cầm quyền nghi ngờ và mặt khác lại bị giáo quyền coi họ như  một công cụ trong tay nhà nước. Tôi đã cho họ biết là những sự hoài nghi đó có nền tảng, bởi vì họ đã mất lòng tin của những tín hữu Công giáo rồi.)


Những sự kiện phức tạp trên đây đã khiến cho những người đang sống trong lòng giáo hội Công giáo ở quê nhà muốn sống thực niềm tin cũng như muốn bảo vệ và phát triển niềm tin của mình càng ngày càng trở nên khó khăn trong cảnh ngộ trên đe dưới búa hiện nay.


Các linh mục Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi, Nguyễn Hữu Giải và những giáo dân Nguyệt biều, An truyền và biết bao tín hữu vô danh khác đang là những kẻ lội ngược giòng. Nói cách khác, họ không chấp nhận thái độ a tòng với sự ác, với kẻ thù của niềm tin và đang chịu tử đạo từng ngày, từng giờ dưới nhiều dạng thức khác nhau cho dẫu bị bạo quyền gán cho những tội danh không liên hệ gì tới những hành vi làm chứng tá cho niềm tin kitô giáo của họ.


Điều mỉa mai là họ còn bị chính những đồng đạo của mình, kể cả một thiểu số trong hàng giáo phẩm, nhân danh điều gọi là đường hướng, chính sách cao xa của giáo hội để mỉa mai, chỉ trích và để biện minh cho thái độ ngoảnh mặt làm thinh trước những đòn thù mà chế độ độc tài toàn trị cộng sản Hànội không ngừng giáng xuống những giáo dân và giáo sĩ đã và đang can đảm làm chứng cho Tin Mừng kể trên!


MƯỜI MỘT

Khi Cha Lợi Suy Tư Về Tử Đạo

Như đã nói, những người còn muốn sống thực niềm tin và muốn bảo vệ và phát triển niềm tin của mình trên quê hương hôm nay, tuy không phải vươn cổ chịu chém đầu hay phanh thây như tiền nhân xưa, nhưng quả thực họ đang phải chấp nhận tử đạo từng ngày, từng giờ dưới nhiều dạng thức khác nhau.

Ngày linh mục Nguyễn Văn Lý bị 600 công an vũ trang cộng sản thằng thúc đem đi tống ngục đã chẳng làm ông ngạc nhiên. Hơn một phần tư thế kỷ trước, sau cơn địa chấn 30 tháng 4 năm 75 chụp xuống thân phận giáo hội và quê hương, ông đã rời Sàigòn lặn lội ra Huế chấp nhận ở lại trong hỏa ngục đỏ khi biết trước những đoạn đường chông gai đang chờ trước mặt. Mười năm tù đày khốn khổ tiếp theo những thời khoảng bị quản chế, bị làm khó dễ trăm bề đã chẳng đốn ngã được linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý.

Cuối năm 2000, nhân kỷ niệm 6 năm bản Tuyên ngôn mười điểm, một lần nữa ông lại đứng lên trực diện với bạo quyền cộng sản, cùng giáo dân các xứ Nguyệt biều, An truyền và những linh mục đồng tâm đồng chí trương cao khẩu hiệu TỰ DO HAY LÀ CHẾT! Hơn ai hết, cha Lý cũng như các linh mục Nguyễn Hữu Giải, Phan Văn Lợi và giáo chúng Nguyệt biều, An truyền đang quyết liệt đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho quyền sống và quyền làm người trên quê hương Việt nam đã nhìn thấy trước đoạn đường tử đạo của mình.

Riêng với người mục tử họ Phan, con đường này đã được vẽ ra trong tâm hồn thi sĩ của ông từ những ngày nào xa lắm. Cảm nghiệm một cách sâu xa tâm tình các bậc tiền nhân tử đạo ngay từ buổi bình minh của giáo hội Việt nam, linh mục Phan Văn Lợi đã viết bài "Lời Trần Tình Của Vị Tử Đạo" với những vần thơ cảm khái như sau:

"Đường phụng sự Chúa ta đi,
Vua quan lộng quyền đứng ra chặn lối!
Ta không rút lui sợ hãi,
Không quỳ gối van lơn,
Không hối lộ mua đường,

Nhưng cương quyết hỏi cho ra nhẽ"


Đấy là âm hưởng lời trần tình ngay thẳng đầy hào khí của tiền nhân tử đạo ngày xưa. Nhưng đấy cũng là tâm sự của người mục tử đang hiên ngang tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu và đạo của Ngài hôm nay, giữa những ngày tháng đầu của thiên niên kỷ thứ ba. Trước sự lộng hành của một chế độ phi nhân bản, vô tôn giáo, đang thi hành những thủ đoạn lọc lừa gian giối để ru ngủ niềm tin của người tín hữu Chúa Giêsu, người thơ họ Phan đã gửi tấm lòng trung liệt của ông vào những vần thơ:

"Ta đâu nghĩ quyền tự do tôn giáo,
Quyền làm người là ân huệ thí ban,

Do 'lòng tốt' của kẻ nắm quyền,
Để nức nở khen lao rối rít!

Ta chẳng ngồi chờ 'trên ban giấy phép',
Chẳng bằng lòng với khuôn khổ áp đặt bất công,
Lên sinh hoạt đạo, việc bổ nhiệm thủ lãnh cộng đồng,
Việc chiêu sinh, đào luyện hàng linh mục, tu sĩ!

Vì lợi ích các linh hồn, ta quyết chí,
Những gì công khai được thì sẽ công khai,
Nhược bằng không, thì cứ bí mật làm 'chui'
Con cái Chúa luôn tự do, có gì mà lo sợ!

Ưu tư của ta là vấn đề nhân sự,
Có những tông đồ can đảm chứng nhân.
Chứ không là cơ sở bề thế khang trang,
Linh đình rước xách, huy hoàng lễ hội!

....."

Trong trái tim linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, sống và thực hành niềm tin Kitô giáo giữa xã hội loài người hôm nay không phải chỉ là bảo vệ Giáo hội, là chống lại những thế lực phá hoại đức tin Công giáo, mà hơn thế còn phải là bàn tay nối dài của Chúa Giêsu làm sáng lên sứ điệp của Người gói ghém trong Tin Mừng thánh Luca đoạn 4, câu 18,19:

"Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin mừng cho người nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa".

Khơi nguồn từ lời Kinh Thánh trên đây, bước đường tranh đấu gian khổ của linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Hữu Giải, Phan Văn Lợi không chỉ giới hạn trong phạm vi Giáo hội hoặc quyền lợi của nhà thờ mà còn quảng đại vươn tới tha nhân, tới quyền sống, quyền tự do của con người, nói chung. Vì quan niệm rộng rãi như vậy, cũng trong bài thơ kể trên, linh mục Lợi viết:

"Ta chẳng bo bo chăm lo quyền lợi,
Của cộng đồng, của đạo giáo ta thôi,
Nín câm trước những vi phạm quyền người,
Lo cho con người cũng là lo cho con Chúa".

Hình ảnh người tử đạo trong tôn giáo thường được con cháu Thái dương thần nữ đồng hóa với hành vi của những phi công trong phi đội thần phong của Nhật bản từng anh dũng hi sinh mạng sống lái phi cơ lao vào ống khói các tàu chiến đồng minh trong thế chiến thứ hai.

Hình ảnh này cũng được những người Mác-xít Lê-nin-nít đem sánh ví với những anh hùng liệt sĩ trong chế độ cộng sản, những kẻ từng ôm bom chấp nhận cho nổ banh xác khi nhảy vào xe tăng của quân thù. Những người phát xít cũng như những người cộng sản đều cố tình không nhận ra một khía cạnh khác biệt nền tảng giữa những người chấp nhận cái chết cho một niềm tin tôn giáo với những người hi sinh mạng sống cho một ý thức hệ chính trị trong đời thường. Sự khác biệt đó là: một đàng chấp nhận cái chết khi lòng vẫn đầy ắp lửa hận thù trong khi một đàng cũng chấp nhận cái chết nhưng với tinh thần bao dung, tha thứ và tràn ngập yêu thương.

Những vần thơ sau đây trong bài "Lời Trần Tình Của Vị Tử Đạo" của linh mục Phan Văn Lợi đã nói lên trọn vẹn sự khác biệt nền tảng ấy.


Nhưng dẫu gánh chịu ngàn muôn khốn đốn
Ta vẫn không nguyền rủa kẻ gia hình,
Không dùng bạo lực đáp trả cường quyền,
Không nắm đấm đưa lên đòi nợ máu!

Không truyền lệnh trả thù cho con cháu,
Không đe dọa làm ma ám hiện về,
Không trù ẻo một cái chết thảm thê,
Cho kẻ tước của ta tự do, mạng sống.

Lòng ta hằng yêu thương và trông ngóng,
Những kẻ bách hại ta hiểu một điều:
Họ đã quên đi yếu tính của con người,
Là tôn trọng, yêu thương, giúp nhau tìm chân lý.

Bởi thế, với ơn Chúa, ta đà quyết chí,
Sống thẳng, nói thật, chết hiên ngang.
Để những kẻ áp bức bạo tàn,
Biết hồi tâm mà suy nghĩ lại".




Trần Phong Vũ
trích tác phẩm "Phan văn Lợi, Người Là Ai?"
NXB Tin Vui, 2001, Hoa Kỳ

[1][72] Nội dung vở kịch Dâng Con Cho Mẹ đại khái như sau: Một cặp vợ chồng nhà kia có hai con (một đứa đã 18 tuổi, còn đứa kia mới mấy tháng người mẹ bồng trên tay) chở nhau trên hai chiếc xe đạp từ Huế ra La Vang với ý định dâng hai con cho Mẹ, hứa xin cho chúng đi tu sau này. Ra đến Mỹ chánh thì công an chặn lại, bị phạt vì chở quá tải (ông chồng chở bà vợ trong khi bà vợ lại ẵm đưa con trên tay).

Trong lúc miễn cưỡng phải ngừng lại bên đường, thì có một xe chở các nữ tu cũng bị chặn lại vì đi ra ngoài tuyến đường được phép. Nhất quyết không trở lại Huế theo lệnh công an, mọi người hợp ý quỳ xuống bên đường hướng về La Vang cầu nguyện. Trước tình thế ấy, công an đành phải cho mọi người lên xe đi tiếp.

Ra đến nơi cặp vợ chồng này gặp một cặp vợ chồng trẻ khác bế theo một đứa con trai nhỏ với cùng một ý hướng. Tất cả cảm động cùng quỳ bên nhau hướng lên đài Đức Mẹ La Vang với lòng thiết tha khấn hứa xin "Dâng Con Cho Mẹ". Vở kịch khiến người ta liên tưởng tới cuộc hành hương do cha Lý hướng dẫn trước đó không lâu. Và đấy là lý do khiến Cha Lợi và bốn cựu chủng sinh bị bắt.

[2][73] Xin đọc chi tiết bản tường trình ở phần hai bao gồm những chứng từ của cha Phêrô Phan Văn Lợi.

[3][74] "Một Thoáng Nhìn Về GHVN Qua Biểu Tượng Đức Gioan Phaolô II" – Biên khảo của Trần Phong Vũ, Tin Vui xuất bản tại Hoa Kỳ tháng 7-1997, trang 136.

[4][75] Đọc trong phần ba, phụ lục bản địch Việt ngữ bài tường trình của John Fox "Murder of a Polish Priest" đăng trên Reader's Digest số phát hành tháng 12-1995. Bản dịch này xuất hiện lần đầu trên tạp chí Đường Sống số dặc biệt phát hành nhân dịp tưởng niệm 30 tháng 4 năm 1986 và sau đó được đưa vào soạn phẩm "Một Thoáng Nhìn Về GHVN Qua Biểu Tượng Đức Gioan Phaolô II" từ trang 515 đến trang 539.

[5][76] "Hiện Tượng Nguyệt Biều" của Đỗ Mạnh Tri, do Tin Vui ấn hành tháng 3-01 tại Hoa Kỳ, trang 87-88.

[6][77] Bản tường trình từ Huế ngày 6-4-01 trong phần thứ hai, Chứng Từ Của Linh Mục Phan Văn Lợi.

[7][78] Nhật ký 1990-1991 của Nguyễn Ngọc Lan do nhà xuất bản Tin ở Paris ấn hành, trang 237. Chứng từ này cũng được đưa vào bài đọc lại Nhật ký NNL trong tác phẩm "Một Thoáng Nhìn Về..." trang 476.










       

Linh mục chui

Nguyễn Văn Lục

(.......)    

Tôi muốn được trình bày một bộ mặt khác của giáo hội Thiên Chúa giáo, bộ mặt chìm trong bóng tối của giáo hội hầm trú dưới bầu trời cộng sản: Đó là hoàn cảnh các linh mục chui sống trong lòng chế độ cộng sản mà kéo dài nếp sống đọa đầy,  bị đặt ra bên lề.

Nhưng họ lại tiêu biểu cho sức mạnh tiềm ẩn của giáo hội Thiên Chúa Giáo trong cái thế phải đương đầu với chế độ cộng sản.

Giáo hội miền Bắc, một giáo hội thầm lặng, chịu đựng và kiên trì như lời phát biểu của cố Hồng Y Trịnh Văn Căn như sau:

“ Ngày chủ nhật, các nhóm người già, thanh niên, trẻ em, đôi khi thức dạy vào nửa đêm và tay cầm đèn, kéo nhau tới nhà thờ có linh mục. Họ đi qua các làng mạc không công giáo và những người ngoài công giáo này tự hỏi không biết họ là ai và họ đi đâu . Những người này có ngay câu trả lời: họ đi lễ, họ thờ ông Giê Su . Một người ngoài công giáo phản ứng :” Mất thời giờ ! Nhưng họ lại vui vẻ và hạnh phúc”.- Trích Việt Nam Con Đường Hy vọng, Nhà sách Tòa Giám Mục Hà Nội ngày 18/6/2009 .








Và một điều rõ nét là trong hai năm gần đây, những đòi hỏi cho tự do tôn giáo, tự do nhân quyền, đòi đất đều xuất phát từ những vùng đất do cộng sản chiếm lĩnh từ thập niên 1945-1954

..... họ là những cơ may của giáo hội Thiên Chúa giáo. Họ là những tu sĩ can trường, có nhân cách và sống đứng thẳng, không chịu khuất phục.

Không có họ, giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam sẽ bị cỏ lùm hay củi mục xâm lấn.

Họ chính là lương tâm của người Thiên Chúa giáo. Họ biết việc họ làm và họ biết họ phải làm gì?

Và tôi xin được trích dẫn nhận xét của ông Trần Phong Vũ trong lời mở đầu cuốn sách của ông:
Phan Văn Lợi, Người là Ai?



“Phan Văn Lợi, người mục tử không giáo xứ, không giáo dân và cũng là người công dân bị tù không ở tù, người lữ hành bị chặn hết những nẻo đường đi tới.



Dù vậy, trong mắt và trong hồn người linh mục Chui họ Phan, giáo xứ của ông là khắp cả địa cầu, là khoảng không gian cao rộng, bát ngát mây trời, giáo dân của ông là bàn dân thiên hạ, là cả triều đình thần thánh.       

“ Giáo xứ con là thế giới trần hoàn,
      Dự lễ con là cả triều đình thần thánh”
                     
[Linh mục là Hy Lễ]

--  Trích "Phan Văn Lợi, Người là ai ?"
          Trần Phong Vũ, trang mở đầu

Nhưng có lẽ hàng giáo phẩm ngoại quốc như phái đoàn của Hồng y Roger Etchegaray khi viếng thăm Việt Nam. Họ không khỏi sửng sốt và xúc động khi nhìn đến giáo hội Việt Nam đang bị bức bách. Họ đã không dằn được những cảm xúc và lòng mến phục giáo dân Việt Nam, đặc biệt là giáo dân miền Bắc.


Điển hình là Hồng Y Roger Etchegaray vốn quen thuộc với giáo dân Việt Nam sau nhiều lần ông thăm viếng Việt Nam. Ông có viết một cuốn sách nhan đề: J‘ai Senti Battre le Coeur du Monde. Conversations avec Bernard Lecomte, Trái tim tôi đập cùng nhịp với trái tim của thế giới, xuất bản Fayard, 2007, 455 trang ..









Ông là một trong những người cộng tác chính của Giáo hoàng Jean-Paul II được phong Hồng Y năm 1979, sau hơn hai thập niên làm Tổng giám mục ở Marseille và ông đã được coi như đặc sứ của Giáo Hoàng gửi đi trước đến những nơi mà Giáo Hoàng sẽ đến thăm viếng trong các chuyến công du.

Ông cũng được gửi đến các nơi để giải quyết những vấn đề khó khăn mà Vatican phải đương đầu như vụ  Giám Mục Lefebvre, các  vấn đề còn tồn đọng đối với các  nước cộng sản như Trung Quốc, Việt Nam và Cuba hay các sứ vụ ở những nơi đang diễn ra nạn diệt chủng ngay giữa những vùng tranh chấp ở Sarajevo, Rwanda hay Trung Đông.

Riêng ở Việt Nam, ông có nhận xét tương tự như giám mục Phao Lô Lê Đắc Trọng là giáo dân miền Bắc mặc dầu bị bách hại tỏ ra « kiên cường» hơn ai hết.

Trong vòng 13 ngày đi thăm viếng các giáo phận, ông đã đi thăm 11 nơi mà trong đó có bốn giáo phận khốn khổ nhất ở phía  Bắc như Hà Nội, Phát Diệm, Bùi Chu và Hải Phòng. Tại Bùi Chu, ông không thể nào ngờ được đã có khoảng 200 ngàn giáo dân dự lễ, và đón tiếp ông,  Tại Phát Diệm có 100 ngàn người. Tại Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn có 45 ngàn người.

Những con số ấy làm ông không cầm lòng được. Những người ngoại quốc như ông mới cảm nghiệm được hết cái sức sống của đạo nơi những người tín hữu thế hệ sau 1975 ở miền Bắc. Chiều kích tâm linh và lòng mộ đạo đã hẳn làm ông băn khoăn suy nghĩ về nếp sống đạo Tây Phương đang trên đà suy thoái!

Điều gì đã làm cho những con người ấy thêm kiên trì sắt đá, vững niềm tin .. Có những tu sĩ không được truyền chức vẫn đeo đuổi ơn gọi mà nay tuổi đời đã ở xế chiều của tuổi 60, 70 ! Làm linh mục năm 65 tuổi !!

Và xin ghi lại đoạn bá cáo gửi Giáo hoàng về tình hình giáo hội miền Bắc:

« Điều làm con ngạc nhiên hơn hết, chính là lòng sốt sắng nguyên thủy của các Kitô hữu phía Bắc [dưới vỏ bọc chì của cộng sản từ năm 1954]. Cộng đồng tín hữu không chỉ sống sót mà còn sống một cách toàn vẹn lòng tin của mình. Cộng đồng này đã chỉ sống trong thần khí và bởi Thần Khí, gần như không có sự nâng đỡ của thừa tác vụ của Giáo hội, vì thiếu linh mục và thiếu các phương tiện..[..] Ở ngoài Bắc, rất ít linh mục, tất cả đều ngập công việc [con có nói chuyện với một linh mục một mình phải lo cho 40.000 bổn đạo tại 9 họ đạo khác nhau, họ đạo xa nhất là 200 cây số và chỉ có chiếc xe đạp làm phương tiện di chuyển».

Phần sau đây liên quan đến điều mà ta gọi các linh mục chui được đặt ra ở đầu bài.

« Khoảng 60 chục linh mục được truyền chức « chui » và không được phép thi hành chức vụ của mình.  Một chủng viện tại Hà Nội, không có người đào tạo chuyên nghiệp. Một vài giám mục, được chỉ định trong thời kỳ khó khăn, chỉ có trình độ của giáo lý viên. Giám mục Lạng Sơn, đức cha Phạm Văn Dụ được phong chức chui, từ 30 năm nay, phải sống trong tình trạng chỉ định cư trú, cách tòa giám mục của mình 100 cây số : giáo phận của ngài, sát biên giới Trung Quốc, chỉ có hai linh mục già và ba nữ tu ».

 -
Trích Việt Nam Con Đường Hy Vọng, ngày 8/162009, Web Nhà Sách Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Một giáo hội hầm trú như thế, chịu đựng biết bao điều chèn ép, đe dọa. Dĩ nhiên, họ không có cơ may được học chính quy, bài bản. Họ sống chui nhủi, lấy chữ nghĩa ở đâu ra để so đo với hàng tu sĩ chính thống trong giáo hội được nhà nước công nhận.

Nhưng lấy kích thước nào để đo lòng đạo hạnh và con đường tu đức của họ? Việc học chính quy đôi khi lại là cái cớ cho người cao ngạo và mất bản chất? Vậy mà có kẻ dám mang lời xúc phạm đến họ, những người con thân yêu và trung thành nhất của giáo hội.

Cũng trong cái tinh thần «hợp thức hóa» các giáo sĩ và chủng sinh «chui» mà năm 2007, vào ngày 9-6, Giám Mục dòng Don Boisco Hoàng Văn Tiệm của Bùi Chu đã phong chức linh mục cho 45 thầy thuộc giáo phận Bùi Chu và năm thầy thuộc giáo phận Bắc Ninh ..

Các tân chức này nằm trong số 83 phó tế và chủng sinh được đào tạo «chui» mà tuổi đời chênh lệnh từ 31 đến 67 vừa kết thúc khóa đào tạo hàm thụ thần học một năm tại Trung tâm Mục Vụ bên cạnh tòa Giám mục Bùi Chu.

Đại chủng viện Thánh GiuSe ở Hà Nội mở khóa đào tạo này năm 2006 nhằm hợp thức hóa các chủng sinh được đào tạo bên ngoài các đại chủng viện địa phương, nhưng không được chính quyền cho phép.

Tân linh mục Gioan Nguyễn Văn Giao, 67 tuổi, người lớn tuổi nhất trong lớp hàm thụ, gọi đợt phong chức đông kỷ lục này là «biến cố lịch sử của giáo hội địa phương sau cuộc di cư vào Nam năm 1954.

Linh mục Giuse Nguyễn Đức Dung, chính xứ Đại Đồng, cho UCA News biết trong số các tân chức của Bùi Chu được truyền chức công khai đợt này có 10 thầy đã chịu chức phó tế « chui» từ năm 1999 dưới thời cố giám mục Giuse Vũ Duy Nhất.

Ngài cho biết Đức Cha Nhất đã phong chức 46 linh mục và phó tế không thông qua chính quyền.

Một nguồn tin giáo phận cho UCA News biết là từ năm 1987-2000, giáo phận đã gửi khoảng 100 chủng sinh tu học tại các chủng viện Hà Nội cho mỗi khóa học hai năm một lần. Nguồn tin này lưu ý rằng Bùi Chu có nhiều ơn gọi nhưng lại thiếu linh mục trầm trọng.



Tình trạng ở trên cho thấy giáo hội địa phương đã bị các chính quyền địa phương kiểm soát và giới hạn việc đào tạo các tu sinh như thế nào?

Trong khi đó, giáo hội miền Nam, thiếu kinh nghiệm tranh đấu với cộng sản, cho thấy có nhiều sai phạm như thay vì có linh mục Chui, họ có một đội ngũ linh mục bị hủ hóa, lo đút lót cho quan chức địa phương. Để được chịu chức !!

Sau đây là chứng từ thư trả lời của Tòa Giám mục Xuân Lộc, 70 Hùng Vương Long Khánh, trả lời về những cáo buộc rằng: chịu chức linh mục, thuyên chuyên chuyển linh mục, xây nhà thờ vv.. đều có giá? Sự thực ra sao ? Do chủ trương của tòa giám mục hay do các linh mục, gia đình có con chịu chức? Có phổ biến không hay chỉ có vài vụ? Nếu có mà không phải chủ trương của tòa giám mục thì tòa giám mục có thái độ nào?








Giám mục Xuân lộc giải thích:

«Chúng tôi đôi khi cũng có nghe nói đến chuyện có mua chuộc bằng cách này cách nọ, điều này không bao giờ chúng tôi chấp nhận – Bằng cớ là trước khi lập danh sách để xin tổ chức lễ phong chức, các chủng sinh có tên đều được gọi lên Tòa Giám mục để chúng tôi đặt thẳng vấn đề:

Không được phép chạy chọt để chịu chức, nếu có sẽ bị ngưng ngay
. Và trong thông cáo riêng gửi cho các cha trong giáo phận mang số 10-89/TC đề ngày 15/6/1980, tôi đã viết: Xin các cha lưu tâm và nhắc bảo cho giáo dân. Để bảo toàn sự thánh thiện và giá trị siêu nhiên của thánh chức linh mục khỏi bị phàm tục hóa bởi những hành động đổi chác» «chạy chọt», tuy chưa phải là «simonia» trong những dịp sắp có lễ phong chức » …

--Xuân Lộc ngày 19 tháng 1 năm 1992

Trích thư Giám mục gửi cho NVT, địa chỉ 57/31 Phạm Ngọc Thạch, Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh

Mặc dầu có sự giải thích của giám mục Xuân Lộc … Điều đó cho thấy là hiện trạng chạy chức, chạy quyền để được phép làm linh mục là điều có thực.

                                      *

Một linh mục do hối lộ quan chức để chính thức được phép chịu chức linh mục và môt linh mục được truyền chức «chui », xét về mặt giá trị siêu nhiên, ai sẽ là người xứng đáng chăn dắt đàn chiên? Ai là chính, ai là tà? Ai sẽ là người mục tử chăn dắt đàn chiên

Sự hủ hóa trong viêc chạy chức chạy quyền nay lên đến hàng giám mục? Đây là một lời báo động gửi đến Hội Đồng Giám mục và các vị lãnh đạo trong giáo hội Thiên Chúa giáo.

Phần tôi, tương lai Giáo Hội không nằm ở các phẩm trật, các chức quyền mà ở những kẻ không may mắn và đạo hạnh.

Những linh mục “chui “.
        Những kẻ làm chứng tá.

Nguyễn văn Lục

 

TÂM SỰ MỘT BÀO THAI

--Lm Phan văn Lợi

A! Hôm nay bé sung sướng xin chào Mẹ!
Cuộc gặp gỡ linh thiêng đã cho bé vào đời.
Được nối kết cha mẹ dưới dạng bào thai,
Bé hạnh phúc, tự hào, cảm ơn tình phụ mẫu cao quý!

 Bé lúc này trông còn rất xấu xí,
Chỉ là một cục máu đỏ hỏn, bầy nhầy.
Nhưng trong bé, sự sống bùng nổ từng phút giây,
Như thúc giục bé sớm ra trình diện Mẹ.

 Quả tim con khởi sự đập rồi nhé!
Những nhịp đập ban đầu, nho nhỏ của tình yêu,
Để hòa theo tiếng tim hiền mẫu dạt dào,
Đã thông chuyển cho con một dòng máu nóng.

 Đầu con đã xuất hiện, còn đang bé bỏng,
Nhưng chất chứa cả khối óc, bộ não diệu kỳ,
Mà một ngày nào đó sẽ biết nghĩ suy,
Và tự vấn thái độ con đối với tình yêu Mẹ.

 Đôi mắt con đã bắt đầu he hé,
Chuẩn bị nhìn ngắm mặt Mẹ dấu yêu.
Môi con nở như đóa hoa mỹ miều,
Sẵn sàng áp mặt Mẹ, tha hồ thơm lên má.

 Tay con đã mọc ra, đủ hai bàn tất cả,
Mai ngày sẽ ôm lấy Mẹ, siết chặt vào lòng.
Chân con đã dài, bắt đầu đạp lung tung,
Gây cho Mẹ nhiều băn khoăn pha hòa rộn rã!

 Nhưng ô kìa, sao Mẹ lắng lo thái quá?
Con càng lớn, Mẹ càng sợ hãi âu sầu!
Mẹ sờ lên bụng, song có phải vỗ về đâu!
Mẹ lẩm bẩm, nhưng chẳng thốt ra lời âu yếm!

Thần kinh Mẹ rung lên,
làm con cũng chết khiếp!
Ô! SAO MẸ LẠI GIẾT CON?
CON CÓ TỘI TÌNH GÌ?

 Mẹ nỡ lòng nào xóa sổ con đi?
Đồng lõa với người đâm nhát dao vào đứa con bé bỏng!
Phải chăng chưa nói được, con không có quyền tự định đoạt mạng sống?

Phải nát thân để "danh dự" Mẹ được bảo toàn?
Một thứ dư thừa, không được có trong tổng số dân?
Phải trục, hút, nạo, bơm để Mẹ hoàn toàn thong thả?

 Hóa ra con chỉ thuần là hậu quả
Bất đắc dĩ của một cuộc chăn gối, làm tình!
Hóa ra con, Mẹ đã chẳng hề muốn sinh,
Khi cùng Cha làm cái việc con nghĩ là thiêng thánh!

 Mẹ còn định vất con xuống cống rãnh,
Cho người ta nhặt lấy để nuôi heo.
May thay còn có những kẻ từ tâm ít nhiều,
Đã thương cho con một nấm mồ bé bỏng!

Những kẻ giết chúng con, lâu lâu lại cầu kinh vái cúng,
Tưởng xóa bỏ được tội lỗi của mình sao?
Lương tâm Mẹ có thanh thản không nào,
Khi đã một lần lôi con khỏi thai bào cách tàn nhẫn?

 Phải chăng làm tươi đẹp, phồn vinh cuộc đời kẻ sống,
Bằng cách diệt bớt những trẻ bé chưa chào đời?
Sẽ đi về đâu cái xã hội tương lai
Hôm nay đã đổ máu bao hài nhi vô tội?

 

 

 




Confiding Words From A Fetus


Ah! Today, Baby happilly greets Mom!
A sacred meeting has given me life.
The parents connection in the form of a fetus,
I happily and proudly am thankful for the noble love of the mother!
 
I, at first, look very ugly,
Only a red messy blood clot.
But from inside, life expands by the minute,
As if to urge me to quickly present oneself to Mom.
 
My heart has already begun beating!
The very first beats, small and of love,
In harmony with that of the mother,
As warm blood transfers from mother to baby.
 
My head has appeared, still little,
But filled with a mind, a magical brain,
That someday will know how to think
And to tell my feelings about the Mother's love.
 
My eyes have begun to peep open,
Preparing to look at my Mom's beloved face.
My mouth has bloomed like a pretty flower
Ready to press to Mom's face and shower with kisses.

My arms are formed, with two small hands
Soon to embrace Mom, squeeze her to my chest.
My legs are long and have begun to kick
Causing much lively confusion!
 
But oh, why is Mom worrying so much?
As I am growing, Mom grows more fearful and sad!
Mom touches her tummy, but not in comfort!
She mumbles, but does not say loving words!
She becomes more nervous, scaring me to death!
O! WHY DO YOU KILL ME?
WHAT IS MY SIN?

How do you have the heart to get rid of me?
An accomplice to the person stabbing a knife
                            into the baby!
Without the ability to speak,
    do I not have the right to determine my own life?
To have to be destroyed to preserve Mom's "honor"?
An appendage not included as a member of the populace?
That must be removed, sucked, scraped, pumped out so that the Mother can be completely easygoing?
 
Turns out I was only the unwanted result
            of a lovemaking!
Turns out Mom had never wanted to give birth to me,
When with my Father she was doing something I saw as divine!
 
Mom wanted to throw me down the drain,
For people to collect to feed to pigs.
Luckily, there are those with a bit of heart,
Loving enough to give me a baby grave.
 
Those who kill us, sometimes say a prayer
             or give an offering,
Do they really think they can erase their sins?
Will your conscience have peace,
When you have once pulled your child from the womb
                in such cruelty?
 
Do we make more beauty and prosperity to the living world,
By killing off the children not yet born?
To which future will our society go
If today we spill the blood of innocent babies?
 
---Rev. Peter Phan Van Loi
    Under house arrest in Hue, Vietnam
    Translated by Thuy-Dzuong Nguyen 

 








SAO ĐỂ CON
CÁM ƠN MẸ TỪNG ẤY ?

Dẫu sao con vẫn xin cám ơn Mẹ
Đã cho con may mắn được chào đời!
Nhưng sao Mẹ để con cám ơn từng ấy thôi,
Vì đã vội trao con cho người khác?

Chưa kịp thấy con, Mẹ liền giấu mặt,
Vứt con ngay bên ngưỡng cửa cuộc đời,
Không muốn con biết mình thuộc dòng máu ai,
Vội vàng phủi tay trước trách nhiệm đầy cao quý!

Con những tưởng mình được nghe tiếng thủ thỉ,
Được ôm lấy bầu sữa Mẹ ngọt ngào,
Làm cho trần đời chứng nghiệm được câu:
"Bên ráo con nằm, bên ướt để Mẹ"!

Con những tưởng đem tiếng cười thơ bé
Làm hồn sống cho mái ấm gia đình!
Tưởng mình là đóa hồng nhỏ xinh xinh,
Là mùa xuân, là màu nắng của Cha và Mẹ!

Con những tưởng rằng Mẹ sẽ kể lể
Về đứa con kháu khỉnh cho lối xóm họ hàng!
Sẽ hạnh phúc dù quần quật tháng năm,
Để con lớn lên trong cuộc đời tươi đẹp!

Con đã tưởng bản năng làm mẹ không thể nào tiêu diệt!
Tưởng lòng Mẹ bao la hơn biển Thái Bình!
Tưởng bàn tay Mẹ luôn nồng ấm, thắm xinh!
Tưởng trái tim Mẹ bao chứa cả trăng sao hoàn vũ!

Chẳng lẽ Mẹ để con gọi là bà chủ
Của một quán trọ con ở chín tháng mười ngày?
Chẳng lẽ người đời sẽ phải nói nay mai:
"Đây là đứa bé vô phúc của một con mụ nào đó"?

Chẳng lẽ cặp mắt nai tơ, nho nhỏ
Phải đượm nét u uất suốt cuộc đời?
Và tình hiền mẫu là vốn liếng cho tương lai,
Chẳng lẽ Mẹ tước mất ngay khi con còn bé bỏng?

Chẳng lẽ Mẹ để con triền miên cuộc sống
Phải hứng chịu khinh khi, rẻ rúng của bạn bè?
Hay biết đâu sa phải bàn tay gớm ghê
Của một mẹ nuôi hoàn toàn thiếu tình hiền mẫu?

Rồi một mai đây, xét nghiệm dòng máu,
Nhìn khuôn mặt, mái tóc, làn môi,
Cặp mắt, sống mũi, vóc dáng, nụ cười,
Người ta sẽ bảo con giống ai, sẽ lấy ai đối chiếu?

Rằm tháng bảy mỗi năm, ngày Vu Lan báo hiếu,
Mẹ sẽ có ai dâng tặng hoa hồng?
Con biết tìm ai để khuây nỗi nhớ nhung,
Để tự hào có một Mẹ hiền khôn sánh?

Phải chăng con là cục nợ phải tránh?
Một thành viên không thể có mặt trong gia đình?
Một bước lỡ ngoài kế hoạch sản sinh?
Một cản trở trên con đường công danh, thăng tiến?

Phải chăng con là nguyên nhân gây tai tiếng,
Là thủ phạm, là nhân chứng chuyện chẳng lành?
Một vết nhục làm bại hoại thanh danh,
Phải tống cho mau, bởi giết thì thương, vương thì nặng?

Vậy Mẹ hãy cầu cho con thuyền yên biển lặng,
May mắn gặp được một mái ấm gia đình,
Có một người cha, một bà mẹ xứng danh.
Vì thiếu tình phụ mẫu, con không thể nào khôn lớn!

     Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi,
    Huế, Việt Nam


Linh Mục Phan văn Lợi làm chứng
về Đức ông Cao Minh Dung
thuộc Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh Vatican

 -- Tôi là Linh mục Phê rô Phan Văn Lợi đang ở Huế, đang bị quản thúc trong gia đình. Tôi xin được nói về vài điều mà tôi được biết về Đức ông Dung.

 -- Đức ông Dung ngày xưa với tôi là cùng chủng viện, tôi trên Đức ông Dung là 6 lớp, cùng có một Cha bảo trợ là Đức Cha Thuận sau này lên làm Hồng Y Nguyễn văn Thuận. Và là cùng một giáo xứ Chánh Tòa Phủ Cam. Cho nên tôi khá biết rõ về Đức ông Dung.

 - Từ lâu nay ở tại Phủ Cam những người thân cùng với những người quen biết với Đức ông Dung cho hay rằng Đức ông Dung trên danh nghĩa là con của ông Cao Minh Hiếu và bà Nguyễn thị Yến. Con đầu.

 -- Nhưng mà trên thực tế, tôi cũng đã hỏi một người thân của Đức ông Dung là cậu ruột, thì người đó cho biết rằng Đức ông Dung không phải là con ông Hiếu. Mà là con của một ông thầy dòng, sau đó, ông thầy dòng đó ra khỏi dòng Thành Tâm, nhập địa phận Đà Nẵng, và làm Linh Mục. Đó là Linh Mục Đỗ Thanh Châu hay còn gọi là Đỗ Quang Châu, hiện thời đang sống tại Hoa Kỳ.

 -- Đức ông Dung đi vào chủng viện, rồi tới năm 74 thì vào chủng viện Hòa Bình trong Đà Nẵng, là một chi nhánh của Đại chủng Viện Huế. Sau biến cố năm 1975 thì Đức ông Dung đã về lại Huế và ở Đại chủng viện Huế cùng với tôi. Chúng tôi ở trên đó tới năm 1978, thì nhà nước đã dựa vào cái nghị quyết 297 để trục xuất 18 Thầy trong số 45 Thầy. Ở trong đó có Đức ông Dung và tôi.

 -- Đến năm 1979, thì Cha Đỗ Quang Châu lúc đó đang ở Saigon, đã đem Đức ông Dung vượt biên qua Mỹ. Sau đó chúng tôi nghe biết rằng Thầy Dung đã qua bên Roma để mà học tiếp. Sau đó đến năm 1983 thì chịu chức linh mục.

 -- Rồi Đức ông Dung đi vào học từ ngoại giao cuả Tòa Thánh, lên chức Đức Ông lúc nào thì chúng tôi không biết. Sau đó thì đi làm việc tại nhiều nơi, thí dụ như Equador, Hoa Kỳ, Madagascar, NewZealand, Indonesia. Đến năm 2007 thì về Bộ Ngoại giao của Tòa Thánh, và đặc trách vùng Đông Á

 -- Trong cái quan hệ với nhà cầm quyền cộng sản, thì chúng tôi biết rằng ngay từ khi được lên chức Đức Ông, thì ở tại Huế này, thì nhà cầm quyền cộng sản cụ thể là công an tôn giáo tỏ ra là thân thiết, o bế gia đình. Đã có nhiều lần Đức ông Dung về Huế trước năm 2000, thì mỗi lần như vậy, thì chúng tôi biết rằng công an tôn giáo trong đó có 2 anh thiếu tá Phạm đức Thuận và thiếu tá Nguyễn hồng Lam đã luôn đến viếng thăm.

 -- Lúc thân mẫu Đức ông Dung mất năm 2000, thì họ đã đi phúng điếu. Và không những phúng điếu rồi, một Linh Mục tại Huế còn nói với chúng tôi rằng Đức Cha Nguyễn Như Thể theo thói quen là chỉ tham dự thánh lễ an táng của cha mẹ các Linh Mục mà thôi. Nhưng mà lần đó thì chính bên nhà nước hay công an gì đó đã yêu cầu Đức Cha Thể phải làm Chủ Tế trong thánh lễ của bà Nguyễn Thị Yến là thân mẫu của Đức ông Dung.

 -- Đây là một cái khá đặc biệt. Bởi vì ngay chính thân mẫu và thân phụ của tôi mất thì Đức Cha chỉ có tham dự chứ không làm Chủ tế. Và nhiều Linh Mục khác trong giáo phận cũng vậy.

 -- Không những bên chính quyền o bế, mà Đức ông Dung cũng có những cử chỉ thân thiện với người của nhà nước! Chẳng hạn như là tặng quà cho các viên chức cộng sản cao cấp ở Huế. Ví dụ như ông trung tá lê việt Hà là trưởng Công an thành phố Huế, hay là thiếu tá Phạm đức Thuận bây giờ lên trung tá rồi. Cho họ những món quà!

 -- Chúng tôi lúc đó cũng rất ngạc nhiên, bởi vì thấy là một người thuộc Bộ ngoại giao của Tòa Thánh, mà lại có vẻ thân cận với chính quyền cộng sản. Đáng lẽ ra phải là một người cố gắng giữ tư cách độc lập.

-- Đến năm 2008, lúc đó bản thân tôi đang cùng với Cha Lý dấn thân vào phong trào tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền. Năm 2008 thì thân phụ của Đức ông Dung tức là ông Hiếu mất, thì bình thường, tôi cũng được mời đến gia đình, để mà làm lễ ở trong gia đình, vì là anh em cùng một cha (DHY Thuận) mà là cùng một giáo xứ nữa. Nhưng mà Đức ông Dung đã không mời tôi, bởi vì sợ liên lụy.

 -- Và những lần trước đó cũng vậy. Kể từ năm 2001 tới bây giờ, mỗi lần Đức ông Dung về Huế thì luôn luôn tránh tôi. Bởi vì biết tôi đang có măt trong phong trào đấu tranh cho tự do tôn giáo.

-- Theo tôi biết, khi về Huế, Đức ông Dung chỉ gặp Đức Cha Thể và những Cha có tinh thần gọi là đấu dịu, hòa hoãn. Nói cho thẳng thắn là thoả hiệp với nhà nước. Còn những vị có thái độ muốn cho Giáo hội được độc lập, thí dụ như Cha Nguyễn Văn Giải, Cha Nguyễn văn Lý và tôi, hoặc là một số vị khác, thì Đức ông Dung không hề gặp!

 -- Cái chuyến về Hà Nội cách đây 3 năm, tức là đầu năm 2008, nếu tôi nhớ không lầm là tháng 2-2008 thì Đức ông Dung cùng với Đức ông Phương cùng với một Đức ông Mỹ nữa đã về. Lần đó, chúng tôi ngạc nhiên là phái đoàn Đức ông Dung đã ở nhà khách của chính phủ, thay vì ở Tòa Tổng Giám Mục (Hà Nội)! Sau đó thì trong gia đình, những người em của Đức ông Dung ở đây, cũng đã ra ngoài đó gặp anh của mình, và cũng ở ngay trong nhà khách của chính phủ.

 -- Trong lần đó, ở trong này, chúng tôi cũng nghe dư luận nói rằng Đức ông Dung có ý kiến là muốn ĐƯA ĐỨC CHA KIỆT RA KHỎI HÀ NỘI! Từ năm 2008 đó, chúng tôi đã nghe được dư luận như vậy!

 -- Sở dĩ tôi nói điều này, không phải là vì cái sự xung đột tình cảm giữa 2 chúng tôi do từ sự khác biệt về quan điểm. Tôi muốn nói lên điều này để cho thấy rằng, chính vì thái độ của Đức ông Dung đó xuất phát từ việc tôi có một lập trường khác hẳn với Đức ông, đối với nhà cầm quyền cộng sản.

 -- Từ đó suy ra cái thái độ của Đức ông Dung đối với cái nhà nước cộng sản này.

 -- Và thái độ của Đức ông Dung đối với nhà nước cộng sản này, thì chúng ta thấy có nhiều dấu hiệu khiến cho rất nhiều người Công Giáo thất vọng!

 -- Tôi nói tất cả những điều này là vì Sự Thật, vì Lẽ Phải, và vì Giáo Hội. Vì ích lợi của toàn thể Giáo Hội và nhất là Giáo Hội Việt Nam. Vì sự tôn trọng Công Lý và Sự Thật. Vì chỉ có Sự Thật mới giải thoát tất cả chúng ta !

 Linh mục Phan văn Lợi
Huế, ngày 25.5.2010

--------




40 NĂM NHÌN LẠI: CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ RƠI MẶT NẠ.

Chu Tất Tiến.

(Lời tác giả: Năm 2015, đánh dấu 40 năm lịch sử sang trang, nhiều cuộc họp mặt giữa các đồng môn, ái hữu, đồng hương, hoặc những người cùng chung một định mệnh đã được tổ chức để cùng nhau chia xẻ những kỷ niệm trùng trùng năm ấy và cũng để tìm một hướng đi cho những ngày sắp tới. Trong số đó có tổ chức Họp mặt Đại Học Văn Khoa/ Đại Học Sư Phạm vào ngày 30 tháng 8 năm 2015, và "25 năm Hội Ngộ H.O" vào ngày 8 tháng 11 năm 2015, và cả hai đều được thực hiện tại miền Nam California. Xin chúc mừng các Đại Hội Thành Công, và xin gửi một bài viết lột mặt nạ Cộng Sản Việt Nam, sau 40 năm bọn chúng cưỡng chiếm  miền Nam để lại bán toàn bộ đất nước này cho Tầu Chệt.)


Thời gian 40 năm, đối với lịch sử 4000 năm của Việt Nam, chỉ là một con ốc nhỏ trong chiếc đồng hồ lịch sử gồm cả vạn con ốc và lò so khác. Nhưng đối với những người thuộc thế hệ trưởng thượng hiện đang sinh sống hoặc ở Việt Nam hoặc tại hải ngoại,

40 năm vừa qua đã là những nhân chứng cho một giai đoạn khốc liệt, đầy máu và nước mắt, những hận thù chất ngất, những tiếng khóc kín trời, và những biến đổi dồn dập khiến cho người công chính biến thành nô lệ, ngược lại, những kẻ ác không tim óc lên ngôi cửu ngũ. 40 năm vừa qua cũng là thời mà giang sơn hình chữ S đã bị xẻ thịt, banh da, thân thể cắt rời để dâng cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Phương, kẻ thù mà Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, các đời vua Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, và Quang Trung Nguyễn Huệ đã từng đánh chạy tan tác như chồn, cáo.

Cũng 40 năm vừa qua, một chủ nghĩa khát máu từng làm chủ gần một phần ba thế giới, Chủ Nghĩa Cộng Sản, đã bị vỡ toang ra thành nhiều mảnh nhỏ. Riêng tại Việt Nam, chủ nghĩa này đã rơi mặt nạ, và hiện nguyên hình là một lý thuyết lừa gạt tinh vi, được điều hành bởi một nhóm người không tim không óc, giả nhân giả nghĩa. Nhóm người này, mệnh danh là Đảng Cộng Sản, đã tỏ ra hèn hạ đến tột cùng khi cúi dâng giải giang sơn xinh đẹp này cho kẻ thù, chấp nhận làm một thứ nô lệ cho Tầu Cộng, chỉ để yên lành mà hưởng lộc lấy từ máu xương của nhân dân.

Vì thế, 40 năm vừa qua, cũng có thể coi là một dấu lành cho nhân loại, khi Đảng Cộng Sản đã rơi mặt nạ, khi con người đã nhận thức được tất cả những giả trá của cái gọi là Chủ Nghĩa Cộng Sản này, thì tương lai, dần dần chủ nghĩa này sẽ không còn đất mà tồn tại. Tại Việt Nam, sự nhận thức này đã được biểu thị qua 2 lăng kính chính: Lý Thuyết tan rã và Sự tranh dành quyền lực. Dĩ nhiên còn nhiều vấn đề nữa như việc hủy họa môi trường sống, cưỡng chế đất đai, chính sách ngu dân, văn hóa vô đạo đức, và thực phẩm nhiễm độc, và bệnh tật… Nhưng trong phạm vi bài viết này, chỉ có thể nêu lên hai vấn đề nổi cộm mà thôi.

1-Lý Thuyết tan rã:

Rất nhiều đảng viên Cộng Sản kỳ cựu, đã mở tung bức rào sắt kinh niên, mà phô bầy bộ mặt thật xấu xa của Hồ Chí Minh và toàn Đảng Cộng. Các nhân vật phản tỉnh này đã công khai tuyên bố bỏ đảng, từ các tướng lãnh cao cấp như Trần Độ, đến đảng viên 50 năm tuổi đảng, như cựu Đại Sứ Nguyễn Văn Trấn, Luật Gia Lê Hiếu Đằng, Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng, Bác Sĩ Nguyễn Đắc Diên, Trần Xuân Bách, Bác Sĩ Dương quỳnh Hoa, Nguyễn Thái Sơn, Giám Đốc trường Đảng Vi Đức Hồi, Tiến Sĩ Đinh Đức Long, Trung Tá Trần Anh Kim, nhà báo Bùi Tín, đảng viên 55 tuổi đảng Tống Văn Công…Một số lớn tuy chưa chính thức bỏ đảng, nhưng “thoái đảng”, nghĩa là không sinh hoạt với đảng nữa như Nguyễn Hồng Bích, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Duy Ninh..

Trong thập niên trước đây, một nhóm người kháng chiến cũ đã tự lập ra Câu Lạc Bộ Những người Kháng Chiến Cũ đã được thành lập năm 1986 để nói lên tiếng nói riêng của mình, chỉ trích những sai lầm của Đảng gồm Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu, Nguyên Phong Hồ Hiếu, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Trần Nam Trung, Lê Đình Mạnh...

Tuy Câu lạc Bộ này chỉ tồn tại có 2 năm, rồi bị cấm, nhưng tiếng nói của họ đã vang động đến một số lớn quần chúng miền Nam. Cũng trong một, hai thập niên vừa qua, một số nhà văn đã công khai lên tiếng bỏ đảng, hoặc viết bài chống lại đảng như Nhà Văn Đại Tá Phạm Đình Trọng, Trần Mạnh Hảo, Dương Thu Hương, Nguyễn Thiệp, Bùi Ngọc Tấn, Trần Đĩnh, Trần Khải Thanh Thủy, và Đặng Chí Hùng…

Cùng với những cuốn tiểu thuyết, tự thuật nổi sóng này, hiện tượng “blogger” đã ào ạt phát triển với các tiếng nói chỉ trích chính quyền rất mạnh như Bauxite Việt Nam, Blog Huỳnh Ngọc Chênh, báo Dân Quyền của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Anh Ba Sàm, Anh Ba Saigon, JB Nguyễn Hữu Vinh, Dân Làm Báo, Nguyễn Hưng Quốc, và nhiều “blog” khác. Cùng số phận với Câu Lạc Bộ Kháng Chiến, một số “blogger” đã bị bắt đi tù với những bản án rất nặng. Trong khi đó, một số cây viết sắc sảo khác không hề biết sợ như Huỳnh Thục Vy, Đại Úy Công An Tạ Phong Tần, Trần Khải Thanh Thủy đã gây chấn động tinh thần của dân Việt tại quê nhà hay tại hải ngoại, làm nhà cầm quyền đã phải ra tay trấn áp tàn nhẫn. Đặc biệt là một số lãnh đạo cao cấp cũng lên tiếng công khai chống lại Đảng. Phó Thủ Tướng Trần Phương nói: “Chúng ta tự lừa dối chúng ta và lừa dối người khác.”

Người lột mặt nạ đảng Cộng can đảm nhất và chi tiết nhất là bà Dương Thu Hương, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước đã công khai phát biểu tại Quốc Hội như sau:

“…Đi vào cụ thể thì tôi thấy rằng, thí dụ như trong cương lĩnh viết thì rất hay nhưng mà tôi nghĩ đưa rất nhiều cái khái niệm mà tôi chẳng hiểu được. Như cái khái niệm mà chúng ta vẫn cứ lúng ta lúng túng là ‘một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa’. Mà cũng báo cáo với các anh là riêng ngân hàng thì không biết ‘định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa’, kinh tế thị trường có ‘định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa’ trong hoạt động ngân hàng, nó là cái gì?

Thì chúng tôi cũng khó có thể là cụ thể hóa ra được. Ngoài ra lại còn ‘phát triển công nghiệp hiện đại, trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa’. Thế không biết ‘công nghiệp hiện đại theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa’ là cái gì?

Thế công nghiệp của Xã Hội Chủ Nghĩa nó khác với công nghiệp tư bản à? Thế thì tại sao lại cứ có cái đuôi ‘theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa? Thế rồi ‘xây dựng một nền dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa’. Thì đúng ra ngày xưa học về Mác – Lênin có cái câu là ‘dân chủ của Chủ Nghĩa Xã Hội thì dân chủ gấp trăm lần các chế độ dân chủ khác…. Và tôi cũng đang muốn hỏi các anh, là hiện nay chúng ta còn giai cấp công nhân như ngày xưa không? Còn giai cấp vô sản như ngày xưa không? Hay là bây giờ tất cả các vị hữu sản hết rồi mà lại còn giàu có hơn cả những nhà tư bản mà nó phát triển hàng trăm năm nữa? Vậy tại sao chúng ta cứ phải có cái lý thuyết này?”

Bà Dương Thu Hương đã tả chân về cái gọi là “Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa”:  

“..Thực tế là tệ nạn xã hội tăng, an toàn xã hội không đảm bảo, văn hoá thì tôi nói thật là chưa lúc nào văn hoá Việt Nam đồi truỵ đến như thế. Bật TV ra, phim Việt Nam ngay cả quảng cáo cũng là mầu sắc sexy rất là mạnh. Tôi không hiểu là, nó chẳng có một cái thuần phong mỹ tục gì cả mà tôi xem tôi phát ngượng. Rồi ô nhiễm môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm…”

Về tính cách Dân Chủ trong Đảng và Quốc Hội:

“Tôi không biết dân chủ trong Đảng được mở rộng kiểu gì, nhưng mà tôi vẫn cảm nhận rằng là cái dân chủ trong đảng vẫn là mất dân chủ nhất so với Quốc hội. Và đấy, tôi nghĩ rằng mình là Đảng viên, mà mình cũng không được đi bầu Tổng bí thư của mình, chẳng được cái quyền gì cả ngoài cái quyền họp chi bộ hàng tháng để ngồi kể lể cho nhau nghe thôi… Thế rồi ‘xây dựng nhà nước pháp quyền, Quốc hội tiếp tục được kiện toàn về tổ chức’. Cái vấn đề này cũng là một đại sự. Tôi rất xấu hổ khi nói rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền gì đâu ạ mà bảo là cơ quan quyền lực cao nhất.

Thế rồi Đại Biểu Quốc Hội  và nếu là đảng viên thì lại không dám phát biểu cái gì theo chính kiến của mình mà lại phải giơ tay đúng với chủ trương của Đảng và Nhà nước. Cho nên nếu là một Đại Biểu Quốc Hội mà là vừa là đảng viên vừa là Đại Biểu Quốc Hội thì trong con người đó hoàn toàn mâu thuẫn, tức là không đảm bảo được quyền lợi của cử chi mà phải thực hiện vai trò đảng viên của mình và có thể lúc ấy là phải hy sinh cái quyền lợi của cử tri đi.”

Về sự bất công xã hội, bà nói:

“Đó là cái khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng giãn rộng ra, ngày càng trầm trọng, chứ không phải là cái đó được thu hẹp lại. Cho nên, không phải là chênh lệch giữa các vùng các miền còn lớn đâu, mà trong này không hề nói tới khoảng cách chênh lệch giàu nghèo. Và bây giờ hình thành nên những nhà gọi là tư sản nhưng mà cộng sản, những nhà tư sản cộng sản: Tư sản đỏ. Còn dân nghèo thì, tôi cũng được vinh dự vào mấy năm Quốc hội được tiếp cận với nông dân, tôi thấy họ quá khổ luôn, họ quá bị áp bức bóc lột luôn. Hơi một tí bị tù, hơi một tí thì bị thế nọ thế kia và đất đai bị cướp đoạt luôn và cướp xong thì…

Để kết luận, bà nói:

“Tất nhiên chúng ta vẫn cảnh giác nhưng chưa thấy ai chống phá chúng ta những cái gì mà gọi là để cho đất nước này đổ cả. Mà tôi chỉ sợ cái lòng dân này làm cho chúng ta sụp đổ. Nó như là một toà nhà mà bị mối, mặt bên ngoài toà nhà vẫn rất đẹp nhưng mà nó bị mối hết rồi".

Đó là những sự thật xấu xa không thể chối cãi, do chính một Đảng Viên, một Đại Biểu Quốc Hội, một Phó Thống Đốc Ngân Hàng Nhân Dân phát biểu. Đây là những nhát dao chí tử đâm vào mớ lý thuyết hổ lốn, lừa gạt của những người mệnh danh là Cộng Sản.

Bên cạnh đó, đời tư của người lãnh tụ cao nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam, người từng được coi là Thần Thánh của miền Bắc, Hồ chí Minh, cũng trong thập niên vừa qua, đã bị lộ chân tướng là một tên hoang dâm vô độ, từng làm nhiều trẻ em mất trinh, lấy nhiều vợ, nhiều con rơi, lấy cả vợ đồng chí, nhất là khi ở trong rừng Bắc Việt, các bà vợ của các đồng chí cấp thấp vẫn phải đến lều của Hồ Chủ Tịch vĩ đại để dâng hiến thân thể cho lãnh tụ.

Lý do tại sao Hồ Chủ Tịch lại thích vợ của đồng chí đã được giải thích bởi một trong những người thân tín nhất của Hồ Chí Minh: “liên hệ với những bà lớn tuổi, đã có chồng con thì không có hệ lụy gì như khi liên hệ với gái trinh.” Thực tế, Hồ chí Minh đã hãm hiếp hai chị em Nông Thị Xuân đến mang thai, và khi Nông thị Xuân cứ đòi Hồ Chí Minh cho ra công khai, thì Hồ Chí Minh đã sai Trần Hoàn là Bộ Trưởng Công An tiếp tục hiếp dâm rồi cho xe cán chết. Sau khi gia đình Nông Thị Xuân định tố cáo, thì Công An truy lùng giết sạch cả gia đình. Trong một lá thư mật được giữ kín tại văn phòng Chủ Tịch Quốc Hội, người ta đọc thấy như sau:

“Cao Bằng ngày 29 tháng 7 năm 1983.
 Kính gởi Ông Nguyễn hữu Thọ Chủ tịch quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

    Tôi là một thương binh đã 25 năm nay vô cùng đau khổ, không dám hé răng với ai. Không phải chỉ vì vết thương bom đạn, chiến tranh mà là một vết thương lòng vô cùng nhức nhối. Nay tôi sắp được từ giã cái xã hội vô cùng đen tối này đi sang thế giới khác, tôi phải chạy vạy rất khó khăn mới viết được bức thư này lên Chủ tịch, hy vọng ông còn lương tri, lương tâm đem ra ánh sáng một vụ bê bối vô cùng nghiêm trọng tàn ác, mà người vợ chưa cưới của tôi là một nạn nhân. Nay tôi hy vọng những tên hung thủ được lột mặt nạ trước công chúng, không để cho chúng ngồi trên đầu trên cổ nhân dân…

(Lời cô Vàng, người yêu của tác giả bức thư): Cuối năm 1956 chị Xuân sinh được một cậu con traị Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Em có nhiệm vụ bế cháu. Ông Bộ trưởng Công an có nhiệm vụ quản lý chị Xuân nên thường đến luôn. Nhưng một buổi tối vào khoảng mồng 6 hay mồng 7 tháng 2 năm 1957, ông Hoàn tới, ngồi nói chuyện vu vơ một tí rồi nắm tay chị Xuân, kéo vào một cái buồng xép, từ cầu thang đi lên, vật chị Xuân lên một cái giường nhỏ, định hãm hiếp. Chị Xuân bị nhét khăn vào miệng nhưng vẫn ú ớ la lên. Em hoảng sợ la tru tréo. Còn chị Nguyệt sợ quá, rúm người lại ngồi một góc tường. Nghe tiếng cửa sổ nhà dưới xô xầm vào tường, lão Hoàn bỏ chị Xuân ra, rút khẩu súng lục trong túi áo hoa lên nói to: “Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết” rồi hầm hầm chạy xuống thang ra ô tô chuồn.

Chị Xuân thất thểu đi ra khóc nức nở, ôm choàng lấy em. Em hỏi nó nắm tay chị, sao chị không văng vào mặt nó để nó dắt đi? Chị Xuân vừa nức nở vừa nói: “Ðau khổ nhục nhả lắm. Chị phải nói hết để các em tha tội cho chị. Từ hôm chị mới về nhà này, có một bà già độ 60 tuổi ở một buồn dưới nhà, vợ một cán bộ Công an đã chết, lên thân mật nói chuyện với chị rằng: Sao cô ở đây một mình? Bạn đàn bà để tôi nói thật cho cô biết. Cái lão đem cô về đây là một tên côn đồ lưu manh, dâm ô tàn ác vô kể. Tôi xin kể một vài chuyện cho cô nghe. Ông Lương Khánh Thiện, một Uỷ viên Trung ương, bị đế quốc Pháp giết có con gái tên là Bình. Chị Ðường, vợ anh Thiện đem con gái gởi bác Hoàn nhờ bác tác thành cho. Lão Hoàn đã hiếp nó, nó chửa rồi chọn một tên lưu manh vào làm Công an để gả cô Bình làm vợ. Lão lại đem một cô gái có nhan sắc nhận là cháu, cũng hiếp cô gái này cho tới chửa, rồi giết chết quăng xác xuống hồ Ha Le để khỏi mang tiếng. Cán bộ Công an nhiều người biết chuyện của nó, nhưng không ai dám hở răng, vì sợ lão vu cho tội gì bắt giam rồi thủ tiêu.”

Nghe chuyện đó chị cũng khủng khiếp, nhưng lại nghĩ là nó đối với mọi người khác, còn đối với mình thì nó đâu dám. Nhưng chỉ được mấy hôm sau chị nghe tiếng giầy đi nhè nhẹ lên gác, chị chạy ra thì thấy nó đi lên nhếch mép cười một cách xõ lá. Nó chào chị rồi đi thẳng vào nhà, nó ôm ghì lấy chị vào lòng rồi hôn chị.
Chị xô nó ra nói:
“Không được hỗn, tôi là vợ ông chủ tịch nước”.
Nó cười một cách nhạo báng:
“Tôi biết bà to lắm nhưng sinh mệnh bà nằm trong tay tôi”.
Rồi nó lại nói: “Sinh mệnh tất cả dân tộc Việt nam, kể cả bố mẹ anh chị nhà bà cũng nằm trong tay tôi. Tôi muốn bắt ở tù, thủ tiêu đứa nào tuỳ ý. Và tôi nói cho bà biết cụ già nhà bà cũng không ngoài tay với của tôi”.
Rồi nó rút khẩu súng lục dí vào ngực chị.
Chị ngồi xụp xuống ghế nói:
“Anh cứ bắn đi”.
Nó cười khì khì :
"Tôi chưa dại gì bắn. Tôi tặng bà vật khác".
Nó dắt súng vào túi quần rồi rút ra một sợi dây dù to bằng chiếc đũa, đã thắt sẳn một cái thòng lọng. Nó quàng cái tròng vào cổ chị rồi kéo chị đi lại cái giường kia, đẩy chị nằm xuống, rồi đầu sợi giây nó buộc vào chân giường. Chị khiếp sợ run như cầy sấy. Nó nói “Bây giờ bà muốn chết tôi cho bà chết“. Rồi nó lột hết quần áo chị…

Em thấy nguy hiểm vì tên Hoàn đã nổi tiếng ở Bộ Công an là một tên dâm bôn vô cùng tàn ác. Ðến độ một tuần sau, vào 7 giờ tối ngày 11 tháng 2 năm 1957, ngày em còn nhớ như đinh đóng cột. Một chiếc xe com măng ca thường đón chị Xuân lên gặp bác Hồ, anh Ninh xồm, người bảo vệ Trần Quốc Hoàn chuyển lên bảo vệ Bác, vào gặp chị Xuân nói lên gặp Bác. Chị Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra đi. Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên Công an Hà Nội đến báo tin chị Xuân gặp tai nạn ô tô chết rồi, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phủ Doãn…” (Hết lời cô Vàng).

Tôi chỉ được gặp Vàng em tôi có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957 cô Vàng đi về thăm ông cậu Hoàng văn Ðệ. Hung thủ đi theo rồi giết chết em tôi quăng xác xuống sông Bằng Giang đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ. Tôi được tin sửng sốt chạy về cầu Hoàng Bồ thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận xôn xao bị đánh vở sọ, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất. Tôi đâm bổ về Hà Nội liên lạc được với một cậu bạn cùng học làm việc ở Toà án Hà Nội. Tôi kể vụ án em tôi bị giết thì bạn tôi sao cho tôi một bản Công Văn Viện Kiểm sát hỏi toà án về vụ em tôi và cô Xuân bị giết. Tôi xin sao bản văn đó trình ông để tiện việc điều trạ Vụ này nhiều người bị giết. Cô Xuân, vợ cụ Hồ Chí Min h, cô Vàng, vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở Trường y tá Thái Nguyên nghe chuyện Vàng kể đi nói chuyện lại cũng bị giết lây…”

Lá thư bí mật này bất ngờ được tung ra, cùng với một loạt bí mật thâm cung được một số đảng viên kỳ cựu tiết lộ đã làm cho dân chúng thấy rõ bộ mặt giảo hoạt của một lãnh tụ, mà thập niên sau này, lại được cho là không phải Nguyễn Ái Quốc, mà là một tên Tầu giả dạng.

Theo nguồn tin đó thì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ 1930 sau khi bị bệnh sởi. Điều này có nhiều tính chất khả thi vì một số hình ảnh chụp Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Pháp có tai nhỏ hơn tai của Hồ Chí Minh sau này rất nhiều. Người so sánh những tấm hình này cho rằng, người ta có thể giả dạng mắt, môi, mũi, má nhưng không thể giả được lỗ tai! Điều này có rất nhiều cơ sở khiến cho nguồn tin này được dư luận chấp nhận ngay mà Đảng Cộng chưa có một lời nào phản bác.

2-Sự tranh dành quyền lực.

Trong tất cả mọi văn kiện liên quan đến Đảng Cộng Sản Việt Nam, tình đồng chí được đề cao như kim chỉ nam cho các sinh hoạt của đảng. Thực tế, các đồng chí lãnh tụ luôn tìm cách hãm hại nhau để tranh dành quyền lực vì từ quyền lực vĩ đại sinh ra quyền lợi vô biên. Từ sau khi Hồ Chí Minh lập ra chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, có rất nhiều các vụ thủ tiêu lẫn nhau một cách thầm kín, nên không thể có một danh sách nào chính xác ghi đầy đủ tên những đồng chí bị giết, nhưng người ta có thể nhẩm tính ra hàng trăm ngàn vụ.

Điển hình là trong cuộc Đấu Tố cải cách ruộng đất, một số lớn bộ đội có gia đình gốc là tư sản cũng bị giết cùng với địa chủ. Sau khi máu đã đổ đầy đường, nhân dân ta thán, khóc than vang trời, thì Hồ Chí Minh lại giả bộ khóc lóc, xin lỗi nhân dân, và chuộc lỗi bằng cách giết luôn các cán bộ chỉ huy vụ cải cách ruộng đất để bịt miệng. Số người chết trong cả hai đợt lên tới cả trăm ngàn người.

Dần dần các cuộc thanh trừng lan đến các lãnh tụ cấp cao. Cái chết nổi tiếng nhất là cái chết của Trung Tướng Nguyễn Bình, nguyên Tư lệnh Khu Chiến Đông Triều, Phó Chủ Tịch Kháng Chiến Nam Bộ. Vì xung đột nguyên tắc, Nguyễn Bình được lệnh ra Bắc nhận nhiệm vụ, ông bị các đồng chí phục kích bắn chết trên đất Cam bốt.

Sau đó, một cái chết thứ hai làm xôn xao dư luận quốc tế là Đại Sứ Đinh Bá Thi, sau khi bị Mỹ tố cáo là làm gián điệp cho miền Bắc. Bị lộ bí mật, miền Bắc sai giết luôn để ngừa hậu hoạn. Rồi sau đó, nhiều cái chết bí ẩn đã gây thắc mắc cho dư luận quốc tế.

1) Đại Biểu Quốc Hội Dương Bạch Mai, người từng du học Pháp và Liên Xô, chết 1964,  khi uống ly bia giữa 2 phiên họp Quốc Hội, vì phản đối kiểu trại lính Trung Cộng.

2) Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam, ói ra máu, chết năm 1967.

3) Đại Tướng Chu Văn Tấn, người từng cõng Hồ Chí Minh tại hang Pắc Bó, nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng chết năm 1984.

4) Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái đang chuẩn bị thay thế Văn Tiến Dũng thì chết đột ngột năm 1986.

5) Đại Tướng Lê Trọng Tấn, Viện Trưởng Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam, chết bất ngờ năm 1986.

6) Thượng tướng Trần Văn Trà, Tổng Tư Lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cưỡng chiếm miền Nam chết bất ngờ trong thang máy.

7) Thượng Tướng Đinh Đức Thiện, Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần, Phó Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải, tên thật là Phan Đình Dinh, em ruột của Lê Đức Thọ, được báo là khi chùi súng săn bị “lạc đạn” chết năm 1987

8) Trung Tướng Phan Bình, Cục Trưởng Cục Quân Báo, bị bắn vào đầu năm 1987.

9) Thủ Tướng Phạm Hùng chết đột ngột năm 1987 khi đang làm Thủ Tướng

10)Thượng Tướng Công An Thi văn Tám cũng đột tử năm 2008.

11) Thượng Tướng Nguyễn Khắc Nghiên chết bất thình lình năm 2010.

12)  Nguyễn Hữu Thắng, Cục trưởng Đường sắt, đột ngột chết trong năm nay.

13) Tướng Công An Phạm Quý Ngọ, đang bị điều tra về tham nhũng, đột tử năm 2014.

Ngoài ra, môt vụ nổ máy bay thập niên 1990, làm chết 13 người gồm Tham Mưu Trưởng, Tham Mưu Phó và toàn bộ tham mưu, cũng là một vụ thủ tiêu tàn nhẫn. Thân nhân của những người chết này không được phép làm tang lễ rầm rộ, mặc dù tất cả đều là tướng lãnh cao cấp.

Nhưng trên hết, cái chết của lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh, gần đây đã bị bật mí là bị thuốc độc của Lê Duẫn vì chính Lê Duẫn là người kiểm tra từng môn thuốc và thức ăn cho Hồ Chủ Tịch. Những ngày chót của Hồ Chí Minh, không ai được ra vào thăm hỏi, vì Hồ Chí Minh đã bị phe đảng Lê Duẫn bao vây. Điều quan trọng hơn nữa là chúc thư của Hồ Chí Minh đã bị phe Lê Duẫn sửa, mãi hơn hai chục năm sau, mới bị bật mí.

Riêng Võ Nguyên Giáp, người đầu tiên làm Trung Đội Trưởng toán bộ đội đầu tiên của Cộng Sản Việt Nam, đã 2 lần suýt bị đầu độc chết, nhờ may mắn mà thoát, nhưng rồi cũng bị tước mất hết quyền bính, và để làm nhục Võ Nguyên Giáp, phe Lê Duẩn đã cử Giáp làm tướng lãnh lo đặt vòng tránh thai. Từ đó, mới có câu đồng dao rằng:

Ngày xưa, đại tướng công đồn
Ngày nay, đại tướng công l. chị em.

Vai trò người hùng Võ nguyên Giáp càng ngày càng xuống dốc, khi thập niên 2000, Tầu Cộng cho phổ biến những chi tiết mật, chứng tỏ là các trận Na Sản, Điện Biên Phủ đều do tướng Tầu chỉ huy, Giáp chỉ biết thi hành mà thôi.

3-Đảng Cộng Sản đã là đầy tớ của Tầu Cộng từ năm 1924.  

Cuốn hồi ký “Ghi chép về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp” do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Bắc Kinh ấn hành năm 2002 và được dịch bởi Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy, gồm có những bài tường thuật của La Quý Ba, Trương Quảng Hoa, Độc Kim Ba, Vu Hóa Thầm, Trần Canh, Như Phụng Nhất, là những nhân vật lừng lẫy trong trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã ghi lại việc họ Hồ sang Tầu từ năm 1924 để xin làm đệ tử của Tầu Cộng.

Sau đó, năm 1930, Hồ chí Minh mới thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương tại Hồng Kong. Năm 1938, Hồ chí Minh, lại xin làm Cố Vấn cho Lực Lượng Quân Đội Cộng Sản Trung Quốc (Advisor to the Chinese Communist armed forces). Tháng 10 năm 1940, dưới sự giúp đỡ của Tầu Cộng,  Hồ đến Quế Lâm, thành lập văn phòng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, sau này đổi là Việt Minh, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Trung Cộng.

Tháng 1 năm 1950, Hồ Chí Minh cùng Trần Đăng Ninh, Hoàng văn Hoan lại sang cầu viện Tầu Cộng và được diện kiến Lưu Thiếu Kỳ tại Trung Nam Hải.  Trong buổi họp này, phía Trung Cộng đưa Chu Đức, Đồng Tất Vũ, Lưu Bá Thừa, Nhiếp Vinh Trần, Lý Duy Hán tiếp phái đoàn bán nước họ Hồ. Tuy nhiên, vì lúc đó, Hồ chưa có thực lực nào ngoài Lực Lượng Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân dưới sự điều động của Võ Nguyên Giáp điều động từ năm 1944, cho nên phía Trung Cộng có vẻ không mặn mà lắm với lời hứa bán nước này. 

Sau đó, Hồ Chí Minh năn nỉ Mao Trạch Đông cho tháp tùng sang Liên Xô cầu viện. Tuy chuyến đi này không thành công, nhưng nhận thấy vẻ trung thành của Hồ, nên khi về đến Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ quyết định giúp Hồ Chí Minh bằng một phái đoàn Cố Vấn tối cao, mà Hồ Chí Minh buộc đàn em gọi là “Các đồng chí Cố Vấn Vĩ Đại Trung Quốc.” Phái đoàn cố vấn vĩ đại này do Vi Quốc Thanh, nguyên Phó Tư Lệnh Lực Lượng Công An Trung Cộng làm trưởng đoàn. Trung Cộng đã viện trợ đợt đầu tiên 150,000 khẩu súng, hơn 3,000 khẩu pháo, và đạn dược, xe cộ, quần áo, lương thực, đồ dùng hàng ngày như bát ăn cơm tráng men, khăn bông.

Từ đó, thực tế, đảng Cộng Sản Việt Nam (tuy đổi tên nhiều lần) đã là một thứ đầy tớ, nô lệ cho chủ Trung Cộng. Như thế, việc đảng Cộng Sản Việt Nam ngày hôm nay cam tâm dâng đất và nước cho Tầu cộng cũng chỉ là hệ quả tất yếu của việc Hồ Chí Minh xin làm đệ tử của Tầu Cộng từ những năm 1924, chứ không phải bắt nguồn mới thập niên này.

Ngày hôm nay, nhìn lại thời gian 40 năm qua, với bao vật đổi, sao dời, lịch sử Việt Nam đang mở sang những trang đen tối, người Việt Nam đều uất nghẹn, nước mắt lưng tròng, mong được mang kiếm về nước, tiêu diệt đảng Cộng Sản hầu cho dân Việt lại hạnh phúc bên bờ đại dương yêu dấu.

 Chu Tất Tiến.

-------------------



 

HÂN HOAN ĐÓN CHÀO













LỄ TẤN PHONG CHÂN PHƯỚC
(01-05-2011)CHO ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN-PHAOLÔ 2
    VỊ THỦ LÃNH CÔNG GIÁO
- của lời hiệu triệu oai hùng dũng mãnh:
"Đừng sợ hãi!"
- của những giá trị tinh thần nhân bản thời đại:
Dân chủ, Tự do!
- của nền chính trị Tin Mừng: bênh vực Con người, rao truyền Sự thật, bảo vệ Công lý!
- của thành tích có một không hai: hạ gục chế độ Cộng sản duy vật vô thần, độc tài toàn trị.
Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền,
Việt Nam

(April 27, 2014) Vatican City: Theo những ước lượng của giới hữu quyền, có khoảng gần 1 triệu tín đồ đã đến khu quảng trường thánh Phê Rô ở thành phố Vatican trong hôm chúa nhật ngày 27 tháng 4 năm 2014, đễ dự Lễ phong thánh cho hai cố giáo hoàng: đức Goan thứ 23 và đức Gioan Phao Lô đệ nhị. Lễ phong thánh do đương kim giáo hoàng Phan Xi Cô chủ tế, và còn có sự hiện diện của đức giáo hoàng đã về hưu, Biển Đức thứ 16.

Số tín đồ tham dự đã đứng chật khu quảng trường và đoàn người đã xếp hàng chạy dài xuống dọc theo sông Tiber. Những tín đồ gốc Ba Lan, quê hương của đức giáo hoàng Gioan Phao Lô đệ nhị, đã mang theo những cờ Ba Lan khi đến quảng trường. Nhiều tín đồ đã ngủ qua đêm ở quảng trường để giữ chỗ.
Đức giáo hoàng Gioan thứ 23 trị vì từ những năm 1958 cho đến 1963, đã được xem như là một vị giáo hoàng anh hùng đã tìm cách đổi mới và cho các tín đồ công giáo có nhiều tự do hơn, theo những nền văn hóa tập tục của mỗi quốc gia, qua kết quả của cuộc hội thảo cộng đồng Vatican thứ hai.

Đức giáo hoàng Gioan Phao Lô đệ nhị, trị vì từ những năm 1978 cho đến 2005, đã được xem như vị giáo hoàng tiếp tục các đường lối của cộng đồng Vatican thứ hai, và đã góp công làm cho chế độ cộng sản ở Ba Lan sụp đổ. Đức giáo hoàng Gioan Phao Lô đệ nhị cũng là vị giáo hoàng đã công du nhiều nhất đến các quốc gia trên thế giới.


 

Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận

(xuất bản và phát hành tại Việt Nam - không xin phép)

Trang này lưu trữ các số báo electronic từ 207, dạng EPUB.
Quý độc giả có thể download để đọc trên iPad, iPhone
hoặc các tablet, smartphone khác.

 










Cải Cách Ruộng Đất (của Võ Trường Sơn)



Posted on 30 Apr 2015
TOP
back to Audio FreeViet INDEX
RSS  FreeVietNews-Audio
  • Hữu Loan: cố thi sĩ bất khuất của Nhân Văn Giai Phẩm
  • Diễn Hành Cờ Vàng ở Spokane 5/20/2017
  • Nội Dung (2) Đại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2017/Spokane
  • Slideshow: Đất Nước Tôi- My Nation (bilingual)
  • Nội dung Đại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương 2017, Spokane
  • Tuyên ngôn + Đại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương / Spokane 2017
  • GS Vũ Quý Kỳ: Cuộc Bầu cử Hoa Kỳ 2016
  • Trung cộng làm cá chết, biển độc
  • Cố Gs Lưu Trung Khảo: Lạc Quan, Tin Tưởng và Hy Vọng
  • Muôn nghìn đời dạt dào chính khí Việt
  • TUYÊN NGÔN Ngày Truyền Thống + Cờ Truyền Thống và Tự Do + Vinh danh Cựu Chiến Binh Việt Nam --SPOKANE
  • Trần Phong Vũ: Một chế độ bạo tàn, không tim óc
  • 25 AUDIO NHẬN ĐỊNH VÀ CHÚC TẾT 2016
  • Gs Nguyễn Ngọc Bích: Chế độ đã đến ngày tàn!
  • Gs Nguyễn Lý Tưởng: Cùng tắc biến, biến tắc thông
  • Đức Giám Mục Nguyễn Văn Long: Hãy cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi!
  • Mặc Giao: Can trường cứu Nước cứu nhà!
  • Nguyễn Tầm Thường: suy niệm & cầu nguyện
  • AUDIO Hồi Ký, Bút Ký, Bình Luận
  • Chữ và Nghĩa (Đoàn Thế Ngữ)
  • 40 Năm: Lm Phan văn Lợi nghĩ gì?
  • Gs Vũ Quý Kỳ: 30/4/75 Lesson
  • GS Nguyễn Lý Tưởng: TS Roland Jacques & Quốc Ngữ
  • THƯƠNG TIẾC VIỆT DZŨNG!
  • Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện
  • Collection 2_ Sinh Hoat Ca (32)
  • Collection 1_ Sinh Hoat Ca (40)
  • 28 AUDIO Quý Tỵ 2013 từ Hoa Kỳ
  • 70 NĂM TÂN NHẠC MIỀN NAM (1930-2000)
  • Công Giáo Miền Bắc chống nhà nước VC!
  • Mãi mãi dòng thơ HOA ĐỊA NGỤC
  • Tôi Phải Sống -- Hồi ký đời tù của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
  • Tiến sĩ Nguyễn văn Lương: HẠN CHẾ DU LỊCH & GỞI TIỀN
  • TỘI ÁC KINH KHỦNG của Đảng Cộng Sản Trung Quốc!
  • Buồm cao ghi dấu can trường
  • 4 cuốn Sách Pháp viết về 30-4-1975: Pierre Darcourt, Jean Lartéguy, Olivier Todd, Vanuxem
  • VIỆT KHANG: Lòng nào làm ngơ trước NGOẠI XÂM?
  • 33 BÀI NHẬN ĐỊNH & CHÚC TẾT ĐỒNG BÀO VIỆT NAM
  • THÁI HÀ đấu tranh quyết liệt!
  • LM Nguyễn văn Khải: giáo dân xông vào nơi hiểm nguy!
  • TS Nguyễn Xuân Nghĩa: Giờ Giải Ảo + Bên Kia Màn Khói
  • Ts Phan Văn Song: Tinh thần Đại Việt giữ nước và cứu nước
  • Ts Nguyễn Đình Thắng: Muốn thay đổi, phải hành động!


    Các Đài Phát Thanh Việt Ngữ
    hướng về Việt Nam:

    » VOA: 5:30 giờ sáng ||  8 giờ tối  ||  10 giờ khuya  (chương trình trong ngày) hay các chương trình lưu trữ.
    » BBC phát thanh từ Luân Đôn: 9:30 tối
    » RFI (Radio France Internationale) LIVE 9:00 tối hay các chương trình lưu trữ
    » RFA: 6:30-7:30 sáng || 9-10 giờ tối LIVE
    hay các chương trình lưu trữ trong 7 ngày qua
    » VERITAS - Chân Lý Á Châu
    » Đài Phật Giáo Việt Nam

    Các đài phát thanh từ Hoa Kỳ:

    » Radio Bolsa
    (6-12pm-- 6-10pm / Mon-Fri)
    - Nam Calif. LIVE
    - Bắc Calif. LIVE
    » Little Saigon Radio
    - Nam Calif. LIVE 
    - Houston LIVE
    » Việt Nam Hải Ngoại LIVE
    » Saigon Radio Hải Ngoại LIVE


    « FreeVietNews.com


  •  



     


    Radio Việt Ngữ

    Các Đài Phát Thanh Việt Ngữ hướng về Việt Nam:

    .

     Các đài phát thanh trong lãnh thổ Hoa Kỳ:

    • Radio Bolsa - LIVE
      (6-12pm-- 6-10pm / Mon-Fri)
    • Little Saigon Radio
      - Nam Calif. LIVE -- Houston LIVE
    • Việt Nam Hải Ngoại LIVE
    • Saigon Radio Hải Ngoại (4-10pm / Mon-Fri) LIVE
      Services | © 2008 - 2017