Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm: Đoàn kết, đứng lên đòi quyền sống!
Kính chuyển đến quý vị và quý bạn ở quốc nội các Lời Chúc Tết, nhận định, tâm tình hiệp thông cùng đồng bào & chiến sĩ đấu tranh, nhất là giới trẻ yêu nước. Để yểm trợ tinh thần đồng bào gian nan đấu tranh cứu Nước ra khỏi Việt cộng và giặc Tàu. Quý vị bấm vào các audio-link nghe âm thanh các phát biểu chọn lọc từ quý nhân sĩ thuộc Cộng Đồng Người Việt ở Bắc Mỹ Châu, gởi đồng bào quốc nội thân thương ở Việt Nam. Xin giúp phổ biến tâm tư đồng bào hải ngoại đến đồng bào quốc nội, qua Internet: Emails, Paltalk, yahoo/gmail Groups, Radio, Web, Blogs. Nội dung các phát biểu được lưu trữ ở http://freevietnews.com/audio 
Sau đây là những lời cầu chúc đầu năm của Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm là cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên của Việt Nam Cộng Hòa, cựu giáo sư Hiệu Trưởng trường Petrus Ký, Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn Đề Thi của Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.
(quý vị bấm nghe âm thanh) http://www.freevietnews.com/audio/20110201_GsNguyenThanhLiem_e.m3u
Đoàn kết, mạnh dạn đứng lên đòi quyền sống! Hải ngoại ngày 1 tháng 2, 2011
Kính thưa quý vị,
Tôi là Nguyễn Thanh Liêm, cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hoá Giáo Dục và Thanh Niên Việt Nam Cộng Hoà, hiện là Chủ Tịch hội Lăng Ông - Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation, Chủ Biên Tập San Nghiên Cứu Văn Hoá Đồng Nai Cửu Long, và Chủ Tịch hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông ở California, Hoa Kỳ. Tôi xin kính chào quý đồng hương ở hải ngoại cũng như ở quốc nội. Kính thứ quý đồng hương Bây giờ là gần cuối ngày 29 tháng Chạp năm Canh Dần ở California. Chỉ còn hơn một ngày nữa là bước sang năm mới, năm Tân Mão. Đồng bào ta ở mọi nơi lúc này đang rộn rịp lo sửa soạn cúng ông bà, đón Giao Thừa, đón chào mùa xuân mới. Ai ai cũng đều nôn nao mong muốn năm mới này sẽ mang lại nhiều may mắn, tốt đẹp cho bản thân và gia đình của mỗi cá nhân, cũng như mang lại hoà bình, thịnh vượng cho quốc gia, nhân loại.
Đó là niềm mong ước hết sức chính đáng, hết sức hợp lý, hợp tình của con người ở trên thế gian này. Nhưng có bao giờ niềm mong ước đó được dễ dàng thực hiện không? Ở những xứ tiến bộ, có đầy đủ tự do dân chủ, có công bằng xã hội, có luật pháp phân minh, có cơ hội đồng đều cho mọi người thăng tiến, nơi người công dân có đủ quyền làm người, có giá trị nhân phẩm, có văn hoá nhân bản, như ở Hoa Kỳ, Gia Nả Đại, hay một số các nước tân tiến ở Âu Châu, thì niềm mong ước chính đáng nói trên có rất nhiều hy vọng thực hiện được. Đối với đồng hương ở những nơi đó tôi thấy tôi rất mạnh miệng cầu chúc đồng hương được nhiều may mắn, hạnh phúc, được an khang, thịnh vượng.
 Tôi cũng cầu chúc cho quý đồng hương ở đây luôn giữ vững căn cước Việt Nam Cộng Hoà, với cờ vàng ba sọc đỏ, nêu cao tinh thần quốc gia, mạnh dạn bảo vệ thành trì văn hoá nhân bản truyền thống của dân tộc Việt đừng để cho Cộng Sản và Tay Sai chen chân vào phá hoại. Còn ở những nơi mà chế độ độc tài toàn trị đang khống chế, quyền làm người bị tước đoạt, phẩm giá con người bị chà đạp, xã hội đầy dẫy bất công, tham nhũng, lạm quyền như ở Việt Nam hiện giờ thì ở đó niềm mong ước chính đáng, hợp tình hợp lý của con người không hy vọng gì thực hiện được. Đối với đồng bào đang phải sống trong hoàn cảnh khốn khổ, bất hạnh đó, những lời cầu chúc may mắn thịnh vượng sẽ hết sức phi lý, mỉa mai, nếu không nói là kỳ khôi, lố bịch. Đối với đồng bào trong hoàn cảnh khốn khổ này tôi chỉ biết nguyện cầu những đấng thiêng liêng hãy dùng những quyền năng siêu việt biến kẻ cầm quyền hồi tâm đừng dùng quyền thế, vũ lực, đàn áp, bức bách, bốc lột một cách tàn ác, nhẫn tâm đối với người dân chất phác, hiền lành, vô tội nữa. Hãy biết thương dân, lo cho dân, phục vụ người dân phần nào cho xứng đáng là người cầm quyền cai trị dân.

Dưới thời quân chủ chuyên chế xưa kia, người làm quan còn biết lo cho dân cho xứng đáng là bậc “dân chi phụ mẫu”như trường hợp của Đưc Tả Quân Lê Văn Duyệt khi làm Tổng Trấn Gia Định chẳng hạn, huống chi là ngày nay trong thời đại dân chủ nhà cầm quyền càng phải lo phụng sự cho dân, phải luôn luôn hành động cho dân và vì dân mới xứng đáng là chánh quyền của dân và do dân mà có.
Tôi cũng nguyện cầu các đấng thiêng liêng phù hộ cho người dân lương thiện, giúp cho họ sống được, và tạo cho họ sức mạnh, dám đoàn kết, mạnh dạn đứng lên đòi quyền sống, đòi quyền làm người, đòi kẻ cầm quyền phải trả lại cho họ phẩm giá của con người. Càng lúc người ta càng thấy chế độ độc tài toàn trị của Cộng Sản Việt Nam có nhiều sai lầm. Chế độ đó đã gần kề phút cáo chung.
Tôi nguyện cầu cho đất nước và dân tộc Việt Nam sang năm mới tiến gần hơn đến ngày được giải phóng khỏi ách độc tài cộng sản, thiết lập lại nền dân chủ tự do, nhân bản, đa nguyên, để cho nhân dân được thật sự hạnh phúc, quốc gia được thật sự tiến bộ, phú cường. Xin trân trọng kính chào quý đồng hương.

Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm Cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên của Việt Nam Cộng Hòa
(quý vị bấm nghe âm thanh) http://www.freevietnews.com/audio/20110201_GsNguyenThanhLiem_e.m3u
Những kẻ buôn người CAU BAY Chuyện xưa bên Tàu kể rằng có người tên là Lã Bất Vi đi buôn vua, tức là một hình thức buôn người. Thương nhân họ Lã đã đem dâng nàng hầu đang mang thai của mình cho thái tử nuớc Tần với mưu toan sau này con mình sẽ có cơ may được làm vua nước Tần. Ông buôn vua này đã thành công và thai nhi dòng họ Lã này chính là bạo chúa
Tần Thủy Hoàng sau này. Chuyện này có thật đến độ nào thì cũng khó biết vì đó là chuyện... tàu. Nhưng dù sao kẻ bán vợ đợ con này cũng không đến nỗi tán tận lương tâm cho lắm vì cái tham vọng cho con mình được làm vua.
Chuyên thời xưa các xứ Á Rập cũng buôn bán phụ nữ như những món hàng nô lệ tình dục. Dù sao tệ nạn đó ngày nay cũng đã chấm dứt, dù rằng đa số các quốc gia Ả Rập theo Hồi giáo, một tôn giáo còn chấp nhận chế độ đa thê, xem thường phụ nữ.
Chuyện xưa bên Tây kể rằng có bọn thực dân buôn người da đen. Chúng qua châu Phi lùng bắt người và mang qua Tân thế giới bán làm nô lệ.
 Dù đây là một tội ác, là một vết nhơ của nhân loại, bọn buôn người này không buôn bán chính người đồng chủng của chúng. Và chúng cũng không nhân danh cái đinh gì của những nạn nhân khốn khổ kia.
Riêng lịch sử dân tộc Việt Nam trong suốt từ thời lập quốc cũng chưa hề có nhà cầm quyền nào chủ trương buôn người. Dù trong thời kỳ quân chủ phong kiến, giai cấp có khác nhau, nhưng không có triều đại nào dung dưỡng nạn buôn người. Đúng ra lịch sử có ghi lại một lần mà một con người dân Việt được đem ra trao đổi bằng hiện vật. Đó là việc vua Trần Anh Tông gả em gái mình là Huyền Trân công chúa cho vua Chế Mân của Chiêm Thành để đổi lấy hai châu Ô, Lý. Vụ bán người lấy của này thực ra là một sự hy sinh cho quốc gia mà ngày nay người Việt nào cũng mang ơn và thương cảm cho sự hy sinh của một nàng công chúa.
Những vụ buôn người lẻ tẻ do cá nhân thì lịch sử nước nhà cũng đã xảy ra. Đã có nhiều kẻ phản bội bán những người yêu nước, những nhà cách mạng cho giặc. Thí dụ tên Trương Quang Ngọc đã bán cụ Phan Đình Phùng cho thực dân Pháp. Gần đây hơn, có nhiều bằng chứng cho thấy là Nguyễn Ái Quốc đã bán cụ Phan Bội Châu cho thưc dân Anh, cho nhà cầm quyền Hông Kông. Dù sao đó cũng là một nghi vấn lịch sử, tin hay không cũng còn tùy người.
Ở Việt Nam ngày nay có bọn tội phạm buôn người, lừa bịp các cô gái nghèo khó bán vào các quán ba, nhà thổ ở trong nước hay bán các bé gái vị thành niên qua Campuchia; hoặc bán cho các ông chồng đui què sứt mẻ Đài Loan, Đại Hàn. Đây là một tội ác ghê tởm, nhưng dù sao bọn tội phạm này cũng lén lút, cũng không bao giờ mặt dày mày dạn công khai việc mua bán của mình trước công luận. Trương Quang Ngọc, Nguyễn Ái Quốc, hay bọn lưu manh, ma cô, má mì… dù dã tâm, đê hèn, tham lam, phản phúc, vẫn là những cá nhân đơn lẻ. Chúng chưa có qui mô bán người của một nhà nước đương quyền.
Nhưng cũng chuyện đời nay ở xứ mình, có một bọn buôn người rất công khai mà ai cũng thấy. Bọn buôn người này nhân danh nhà nước, nhân danh cách mạng, nhân danh đầy tớ của nhân dân mà chúng không từ một cơ hội nào để bán từng người dân một. Không phải một mà rất nhiều lần. Bọn buôn người này là tập đoàn cộng sản đang cai trị nước Vỉệt Nam hiện nay.
Thực vậy, từ sau năm 1975 nạn buôn người ở Việt Nam đã trở thành một quốc sách của nhà cầm quyền cộng sản. Nó không chỉ gây đau thương cho người dân thấp cổ bé miệng mà đã thành một vấn nạn đánh động lương tri của toàn nhân loại. Nó cũng là điều sỉ nhục không riêng gì cho bọn cầm quyền mà cho cả dân tộc. Một nhà nước dùng công dân của mình để trục lợi thì gọi là gì nếu không phải là bọn “buôn dân”? Xin nhắc lại những sự việc sau đây:
Vài năm sau khi chiếm được miền Nam, nhà cầm quyền cộng sản bắt đầu hành động buôn người.công khai qua vụ cho người đi vượt biên “bán chính thức”. Nhà cầm quyền đã thu tiền của người dân và đẩy họ ra biển trên những chiếc thuyền mong manh chở đầy người và mặc cho số phận của họ. Trên danh nghĩa nhà nước gọi thành phần này là người Hoa hồi hương, nhưng thực chất hễ ai có tiền thì họ cho đi. Đến khi những vụ bán người lên cao điểm thì hành động man rợ này bị thế giới phát giác, lên án và áp lực ngăn cấm bằng hội nghị Geneva tháng 6 năm 1979. Sau đó nhà cấm quyền Việt Nam lại cho tay chân tổ chức bán bãi cho dân đi chui để tiếp tục lấy vàng và bất động sản của họ. Việc công an âm mưu bán bãi cho người đi vượt biên này vẫn còn nhiều nhân chững sống, đó là hằng triệu người Việt đang sống tại hải ngoại.
Đây là một kiểu thu tiền mãi lộ công khai mà kẻ bán là nhà cầm quyền và người mua lại chính là những nạn nhân. Họ phải bỏ tiền bạc, tài sản ra để mua tự do cho chính họ. Hành vi buôn người trong trường hợp này là một hình vi ăn cướp và bị cướp.

Khi vấn đề người tỵ nạn cộng sản trở thành gánh nặng quá tải cho các nước lân bang, và những cái chết bi thương trên biển, trong rừng đã đánh động lương tâm của mọi người (trừ nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam), thì Liên Hiệp Quốc (LHQ) và các tổ chức nhân đạo trên thế giới đành phải thương lượng cung cấp tiền bạc để cho chính quyền Việt Nam nhận lại người dân của họ. Một kiểu con buôn ăn cả hai đầu, một hình thức ăn vạ kiểu Chí Phèo thời đại mới. Thời gian này ở trong nước người ta thường rêu rao là “thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”. Ngoài số tiền phải trả cho chính phủ Việt Nam về khoản “tái định cư”, những viên chức cộng sản đã ăn chận trên số tiền trợ cấp của LHQ cho những nạn nhân khốn khổ này. Sự việc cũng tương tự cho đồng bào Thượng chạy trốn qua Campuchia khi được LHQ giúp đỡ cho hồi hương. Trong thời gian từ 1975 đến 1990, hàng triệu đồng bào đã là nạn nhân và biết bao nhiêu viên chức trong chính quyền cộng sản Việt Nam đã trở thành giàu sụ nhờ vào những vụ buôn người này. Ghê tởm hơn nữa, có người cho rằng một trong những đầu lãnh tổ chức, thu tiền ngày đó bây giờ đã leo lên vị trí then chốt trong chính quyền. Đó là ông đương kim thủ tướng VC Nguyễn Tấn Dũng.
Nguyễn Tấn Dũng có tổ chức cho người vượt biên để lấy tiền hay không, kẻ viết bài này không dám quyết đoán vì không trực tiếp đưa tiền cho ông ta. Hãy để cho chính ông ta cùng vợ con, dòng họ, đồng chí của ông ta trả lời. Tuy vậy, bằng những hành động dùng người dân để đổi chác công khai với quốc tế từ khi ông nắm quyền thủ tướng cũng cho thấy thói buôn người quả có luân lưu trong máu của ngài Thủ tướng.
Những năm gần đây một đối tượng khác, cũng là người dân, đã bị nhà nước cộng sản trục lợi, là những người bất đồng chính kiến trong nước. Họ đã cầm tù người dân lương thiện để mặc cả với lương tâm nhân loại. Các ông Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Đăng Quế… đã trở thành món hàng mặc cả cho thế giới mỗi khi Việt Nam cần vào một dịp nào đó, như mặc cả với Hoa Kỳ để bỏ cấm vận, vào WTO, vào LHQ… Mỗi lần các người lãnh đạo Việt Nam công du qua các nước Âu Mỹ họ đều thả một vài người tù làm quà. Năm 2007, trước chuyến đi Mỹ của ông Nguyễn Minh Triết, họ thả hai ông Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình. Cũng năm 2007, khi công du Ba Lan, Nguyễn Tấn Dũng khi bị Quốc Hội Ba Lan cật vấn về vấn đề nhân quyền đã trơ trẽn đem chị Lê Thị Công Nhân ra để đổi chác. Hắn tuyên bố công khai rằng nếu nước Ba Lan nhận và chị Công Nhân đồng ý ra đi thì ông sẽ thả chị ấy. Tại sao không cho một nữ công dân nhỏ bé được tự do trên ngay xứ sở của mình, mà buộc chị ta phải lưu vong? Tại sao phải đợi đến áp lực từ nước ngoài mới quan tâm đến sự tự do của chị ấy? Như vậy khác nào đem công dân của mình làm một món hàng đổi chác với các đặc ân như viện trợ hay ngoại giao từ ngoại bang? Dùng người dân để mặc cả, trao đổi thì gọi là gì nếu không phải là buôn người?
Một thực tế tệ hại là sau hơn 30 năm hòa bình, mỗi khi có tranh chấp hay đàm phán với bên ngoài, nhà cầm quyền cộng sản hình như trắng tay, không có gì để thương lượng ngoài tài nguyên, đất đai và công dân của mình. Bọn Tàu không quan tâm đến nhân quyền cho dân Việt và chúng chỉ muốn lãnh thổ. Có ngay! Hoàng Sa, Trường Sa, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, đường biên giới trên biển, trên bộ… Thế giới tự do không muốn đất đai của Việt Nam, họ mong mỏi nhân quyền cho người dân Việt thì cũng có ngay! Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Văn Lý, Huỳnh Việt Lang, Lê Nguyên Sang,...Và nhiều nữa, ngày càng nhiều không đếm xuể. Khối “tài nguyên” này rất dồi dào; chỉ cần đàn áp, bắt bỏ tù là có ngay!
Khi những dòng này được viết thì ông Nguyễn Tấn Dũng sang Hoa Kỳ. Không biết món quà ông sẽ mang cho Mỹ lần này là những ai, nhưng chắc chắn phải có. Sớm hay muộn mà thôi vì “món hàng người” đã trở thành truyền thống ngoại giao “ưu việt” của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.
Nghe nói bà Bùi Kim Thành đã được thả khỏi bịnh viện tâm thần. Nếu thế thì bà ta đã hết điên. Nếu bà ta chưa bao giờ mắc bịnh điên thì những kẻ như ông Nguyễn Tấn Dũng chắc chắn phải điên. Dùng bạo lực để nhốt một người đàn bà minh mẫn không cùng chính kiến với mình vào nhà thương điên mà vẫn nhơn nhơn tự nhận là người thật thà thì là gì nếu không phải là kẻ điên? Hay đó là sáng tạo tuyệt vời của bác và đảng quang vinh nhằm sản xuất mặt hàng đối lưu với bọn đế quốc tư bản tàn ác? Có lẽ cả hai!
Kẻ cầm quyền mà buôn dân thì làm sao tránh khỏi bán nước! Buồn thay!
Cậu BảyBác Sĩ Nguyễn Đan Quế Gửi thư cho Ngoại Trưởng Clinton (Tin từ Tổ Chức Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản) Nhân dịp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton thăm Hà Nội vào ngày 10 tháng Bảy, 2012, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế đã gửi cho Bà Clinton một văn thư, mà toàn thể nội dung được chuyển sang Việt ngữ như sau: Ngày 8 tháng Bảy, 2012 Kính gửi Bà Hillary Clinton Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Đồng kính gửi: - Tổng Thống Barack Obama - Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta - Phụ Tá Ngoại Trưởng Kurt Campbell - Phụ Tá Ngoại Trưởng Michael Posner - Phó Phụ Tá Ngoại Trưởng Andrew Shapiro - Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear Kính thưa Bà Ngoại Trưởng, Người dân Việt Nam vui mừng được biết bà đang sửa sọan thăm viếng nhiều nước, kể cả thủ đô Hà Nội vào ngày 10 tháng Bảy, để trình bầy về chiến lược của Hoa Kỳ tại vùng châu Á – Thái Bình Dương, một trong những khu vực trọng yếu nhất của thế kỷ 21. Vào những tuần lễ gần đây, trước khi bà tới Hà Nội, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã gia tăng vi phạm những nhân quyền căn bản của người dân Việt Nam. Những vi phạm này đi từ quấy nhiễu các bloggers đến việc dẹp bỏ các cuộc tụ họp ôn hòa. Những quyền này là những giá trị phổ quát đã được Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc theo đuổi để thăng tiến các cá nhân và cộng đồng trên toàn thế giới. Để góp phần vào những cố gắng của bà, chúng tôi xin xác định rằng: 1. Người dân Việt Nam rất muốn đất nước chúng tôi trở thành đối tác chiến lược của Hoa Kỳ vì sự tái võ trang gây hấn của Trung Quốc và cuộc tranh chấp đang diễn ra tại Biển Đông. Tuy nhiên, để Hoa Kỳ có thể tạo được một sự hợp tác thực sự, lâu dài, an toàn, hòa bình và ổn định trong vùng này, bà nên tìm sự hợp tác với một Việt Nam tự do và dân chủ. 2. Dân chủ hóa Việt Nam không phải chỉ quan trọng cho chiến lược an ninh của Hoa Kỳ mà còn giúp cho Viêt Nam trong tương lai trở thành một quốc gia dân chủ mạnh và thịnh vượng trong vùng. Hiện nay, Việt Nam vẫn còn theo chế độ độc đảng, trong đó không có phân quyền giữa các ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp. Đảng Cộng Sản Việt Nam kiểm soát chặt chẽ mọi cấp chính quyền, điều khiển Quốc Hội, can thiệp vào công việc của tòa án, hướng dẫn và theo dõi truyền thông đại chúng, và phủ nhận mọi nhân quyền căn bản của người dân Việt Nam.
Không có bầu cử tự do và công bằng, và cũng không có nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của hàng triệu công nhân người Việt. Người dân bất đồng ý kiến và phát biểu quan điểm của mình một cách ôn hòa bị bắt bỏ tù. Đảng Cộng Sản Việt Nam và những đồng bọn ác độc tại địa phương cùng thân nhân của họ đã đưa Việt Nam tới bờ phá sản qua lãng phí và đầu tư không hiệu quả. Tài sản khổng lồ nằm trong tay một số nhỏ những kẻ cầm quyền tham nhũng, trong khi đại đa số dân chúng sống trong nghèo nàn; giá sinh hoạt tăng vọt – giá điện, nước, xăng dầu tăng lên từng ngày – tiền “đồng” Việt Nam mất giá trong khi tiền lương không tăng. Dân chúng, nhất là giới công nhân, phải lao động ngày đêm, mà vẫn không có được cuộc sống hẳn hoi. Rất nhiều người dân yêu nước đã lên tiếng đòi thay đổi để có dân chủ. Thưa Ngoại Trưởng Clinton, theo chỗ tôi được biết, trước khi rời APEC để tham dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Bali, Indonesia vào tháng 11 năm ngoái, Tổng Thống Obama đã long trọng tuyên bố: “Như lịch sử đã chứng minh, qua tiến trình lâu dài, dân chủ và phát triển kinh tế đi đôi với nhau. Thịnh vượng mà không có tự do và dân chủ, chỉ là hình thức khác của nghèo khó”.
Trước lời tuyên bố đó, tại Trung Tâm Đông Tây ở Hawaii, bà cũng đặc biệt đề cập tới Việt Nam trong một diễn văn về chính sách đối với châu Á, khi nói rằng: “Chúng tôi đã nói rõ với Việt Nam rằng nếu Việt Nam muốn phát triển một mối liên hệ hợp tác chiến lược, Việt Nam phài tăng thêm việc tôn trọng và bảo vệ nhân quyền của người dân”. Phụ Tá Ngoại Trưởng Kurt Campbell và vào tháng trước Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta và Phó Phụ Tá Ngoại Trưởng Andrew Shapiro cũng đã nói rõ với Hà Nội các điều kiện này. 3. Dân chủ hóa Việt Nam vừa quan trọng cho việc tái cân bằng cho chiến lược Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương vừa là ước vọng lâu đời của nhân dân Việt Nam. Trước sự thích hợp của các sự việc trong hiện tại, chúng tôi trân trọng đề nghị: a) Tình trạng chính trị hiện thời ở Việt Nam là cơ hội bằng vàng để Hoa Kỳ bầy tỏ sự ủng hộ một chế độ chính trị cởi mở hơn. Nói rõ hơn, trước khi quá muộn, nhà cầm quyền Việt Nam nên đưa ra một thời biểu về một cuộc bầu cử tự do và công bằng dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc, đế nhân dân Việt Nam có thể bầy tỏ nguyện vọng của mình về việc chọn lựa một chế độ chính trị phù hợp cho đất nước. b) Trở ngại chính trị lớn là điều 4 Hiến Pháp, quy định phi pháp vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Điều này phải loại bỏ để thiết lập một chế độ dân chủ pháp trị. c) Nhà cầm quyền Việt Nam phải ngừng quấy nhiễu, bắt giữ và cầm tù những công dân phát biểu quan điểm của mình một cách ôn hòa. Họ phải thả tất cả tù nhân lương tâm, và chấm dứt đe dọa hoặc quấy nhiễu các cựu tù nhân chính trị.
d) Trong khi phải tập trung cố gắng vào việc đòi thả tất cả tù nhân chính trị, chúng ta cũng cần phải nỗ lực đạt được những tiến bộ có tính lâu dài, cụ thể và khả thi bằng cách khuyến khích sửa lại Bộ hình luật. Ưu tiên là bỏ những điều như 79 (lật đổ chính quyền), điều 88 (tuyên truyền chống lại chính quyền), là những điều mơ hồ và không nói rõ lý do bắt giữ và bỏ tù những người vi phạm.
Nhà cầm quyền Việt Nam phải chấm dứt xâm phạm và khám nhà, cùng bắt người mà không có trát của tòa án. Chính quyền Hoa Kỳ, làm việc với các cơ quan quốc tế ngoài chính phủ (NGO), có thể giúp đỡ chính quyền Việt Nam tu chỉnh bộ hình luật và việc thi hành luật phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế để luật pháp không còn được dùng để trừng phạt những người hành xử nhân quyền của mình. e) Nhà cầm quyền Việt Nam phải thực thi tự do tôn giáo, công nhận quyền tư hữu, và khuyến khích các nghiệp đoàn độc lập cũng như thương lượng tập thể. Tôi vững tin rằng những người như chúng tôi đã mất tự do khi cuộc chiến chấm dứt vào năm 1975 cuối cùng có thể đạt được thắng lợi trong việc bảo vệ tự do và nhân phẩm, cũng như trong việc thành lập một liên minh vững mạnh cho an ninh thế giới để vượt qua bất cứ một đe dọa nào về quân sự.
Nhưng trước hết, chúng ta phải hoàn tất những đòi hỏi về cải tổ chính trị, khởi đầu bằng mối liên hệ tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và Đông Nam Á. Không phải bằng tạm thời ủng hộ độc tài, mà bằng gốc rễ sâu đậm của nền dân chủ mới. Tại Việt Nam, Cao Trào Nhân Bản của chúng tôi cam kết hoàn thành những mục tiêu dân chủ đó trong sự ủng hộ một Việt Nam kiên trì tại thời điểm trọng đại này. Xin cám ơn bà rất nhiều, Trân trọng kính chào bà. Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế Sáng lập và Chủ Tịch Cao Trào Nhân Bản tại Việt Nam
Honorable Hillary Clinton Secretary of State Department of State 2201 C Street NW Washington, D.C. The United States of America Cc: President Barack Obama Secretary of Defense Leon Panetta Assistant Secretary of State Kurt Campbell Assistant Secretary of State Michael Posner Deputy Assistant Secretary of State Andrew Shapiro US Ambassador to Vietnam David Shear July 8, 2012 Dear Madame Secretary, The Vietnamese people are very pleased to know that you are visiting many capitals including Hanoi on July 10, to justify the U.S. strategy in Asia – Pacific, one of the most critical areas of the 21st century. In recent weeks, before your visit to Hanoi the Vietnamese communist authorities have increasingly violated the basic human rights of the Vietnamese people. These violations range from harassing internet bloggers to dispersing peaceful gatherings. These rights are the universal values that the United States and United Nations are pursuing in order to empower individuals and communities throughout the world.
In light of your efforts, we would like to assert that: 1/ The Vietnamese people very much wish for our country to become a strategic partner of the United States because of an aggressive remilitarized China and the ongoing East Sea dispute. However, in order for the United Stats to forge a true, long-term partner for security, peace and stability in this region, you would do well to seek a partnership with a free and democratic Vietnam. 2/ Democratization of Vietnam is not only important for the U.S. strategic security but also for the future of Vietnam as a strong and prosperous democratic country in the region. Today, Vietnam is still under a one party system where there is no distinct separation of the executive, judiciary and legislative branches. The Vietnamese Communist Party (VCP) strictly controls the government at all levels, manipulates the National Assembly, intervenes into the court procedures, monitors the mass media, and deprives the Vietnamese people of all basic human rights. There are no free and fair elections, and no independent unions to protect millions of Vietnamese workers. People who disagree and express their own opinions in a peaceful way are imprisoned. The VCP and their cruel local cronies and relatives have driven Vietnam to the brink of bankruptcy through wasteful, inefficient investments. Incredible wealth is in the hands of a small group of corrupt apparatchiks, while the majority of people live in poverty; the cost of living is soaring; the prices of electricity, water, and gasoline are rising day by day; the Vietnamese “dong” is losing its value while wages and salaries are stagnant. People, especially workers, have to toil night and day, yet cannot make a decent living. Many patriotic people are voicing for democratic change. Secretary Clinton, as far as I know before leaving APEC to attend the ASEAN summit at Bali, Indonesia in November last year, President Obama solemnly declared: “As history has proven, through the long process, democracy and economic development are companions together. Prosperity without freedom and democracy is just another form of poverty”.
Prior to that declaration, at the East West Center in Hawaii, you also specifically addressed Vietnam in a speech on Asia policy by saying: “We made it clear to Vietnam that if we want to develop a relationship of strategic cooperation Vietnam should do more to respect and protect the rights of its citizens”. Assistant Secretary Kurt Campbell and last month the US Defense Minister Leon Panetta and Deputy Secretary Andrew Shapiro have also expressed those conditions to Hanoi. 3/ Democratization of VN is equally essential for rebalancing of U.S. strategy in Asia – Pacific and to our Vietnamese people’s long-term aspiration. In light of the congruence of current events, we recommend the following: a. The current political situation in Vietnam is a golden opportunity for the U.S. to express support for a more open political system. Specifically, before it is too late, the Vietnamese government should adopt a timetable for a free & fair election under the supervision of the United Nations in which the Vietnamese people will be able to express their own will regarding their country’s political system. b. The major political impediment is Article 4 of the Constitution, which imposes the illegal primacy of the VCP. This article should be abolished in order to establish the rule of law. c. The Vietnamese government should cease harassment, arrest, and imprisonment of citizens who peacefully express their own opinions. They should release all prisoners of conscience. The Vietnamese government should also stop threatening and harassing former imprisoned activists. d. While our efforts should be concentrated on the release of all political prisoners, we should also thrive to achieve long-term, concrete, sustainable, verifiable progress by encouraging criminal code reform. Priority should be made to abolish provisions such as Article 79 (trying to overthrow government) and Article 88 (Propaganda against government) which are vague and ill-defined reasons to arrest and imprison people.
The Vietnamese government should stop invading and searching homes, and arresting people without court orders. The U.S. government, working with international NGOs, can help the Government of Vietnam (GVN) bring its criminal code and practices into conformity with international standards so that laws are not used to punish people for exercising their human rights. e. The GVN should implement freedom of religion, recognize private property and encourage independent labour unions and collective bargains. I am confident that we who lost freedom when the past war ended in 1975 can finally achieve the triumph of freedom and human dignity, as well as a strong alliance for international security to overcome any emerging military threat. But first we must accomplish the required political reforms, starting with the good relationship between the U.S. and South East Asia. Not in temporary support of dictatorships, but with deep roots in new democracies. In Vietnam, our Non-Violent Movement For Human Rights is committed to achieving these democratic goals in support of a resilient Vietnam at this momentous time. Thank you very much for your consideration. Respectfully yours, Dr Nguyen Dan Que Founder & Chairman of The Non-Violent Movement in Vietnam Physician Nguyen Dan Que has spent 20 years in jail for complaining about the Vietnamese government's health care policies, and founding a human rights organization. Nguyen Dan Que was first arrested in 1978 while working as doctor at the Cho-Ray Hospital in Ho Chi Minh City. He complained about the government's health care policies, and spent ten years in prison for it. After his release, Nguyen founded a human rights organization, issued a manifesto — and received eight more years in jail. Now, after three arrests and 20 years in prison, Nguyen is officially free. Except that there are six guards stationed outside his house, his medical licence has been revoked, his Internet access is blocked, his telephone has been cut off, his mail is monitored and some visitors to his home have been threatened with losing their jobs, says Nguyen's brother Quan Quoc, a doctor living in Virginia. "There's no indication of when this will end," says Quan Quoc
._,_.___ Tình Người Muôn Vàn Bút ký của Đoàn Thanh Liêm Thời gian gần đây, tôi được đọc một số bài của nhà văn Tràm Cà Mau và lấy làm thích thú được biết rằng : Tác giả dù bị đau bệnh nhiều mà vẫn cung cấp cho độc giả những bài viết đày tính cách lạc quan khích lệ - có tác dụng nâng cao trí óc và tâm hồn chúng ta (uplifting). Những bài viết như thế đó rõ ràng biểu lộ một sự suy nghĩ tích cực - mà người Mỹ gọi là "Positive Thinking" - như đã được trình bày trong một cuốn sách nổi tiếng của tác giả Norman Vincent Peale phổ biến từ thập niên 1950 (The Power of Positive Thinking).
Trong bài viết mới đây nhất phổ biến vào đầu tháng Bảy năm 2012, nhan đề là " Ơn Đời Chứa Chan ", ở đọan kết luận - tác giả Tràm Cà Mau đã trưng dẫn lời biện bạch của nhân vật lớn tuổi là ông Tư đại khái như sau : Ông đang được hưởng nhiều phước hạnh do Trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân lọai xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè... Và ông Tư thấy tội nghiệp cho những người "nắng không ưa, mưa không chịu", luôn luôn bi quan bất mãn và tự làm khổ cho chính bản thân mình...
Chính vì tâm đắc với nội dung của bài "Ơn Đời Chứa Chan" nói trên của tác giả Tràm Cà Mau, mà tôi xin ghi lại những sự việc mình đã đích thân chứng kiến có liên hệ đến chuyện ân nghĩa trên đời qua bài viết này với nhan đề : "Tình Người Muôn Vàn". I - Trước hết là câu chuyện xung quanh Nạn Đói năm Ất Dậu 1945 tại làng quê tôi.
Đầu năm 1945, tại vùng đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc quê hương tôi đã xảy ra nạn đói khủng khiếp gây ra cái chết thảm thương cho đến mấy triệu nạn nhân. Cụ thể trong làng tôi thuộc xã Cát Xuyên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, thì có đến 30% dân làng bị thiệt mạng - trong đó có rất nhiều bà con và bạn hữu gần gũi của tôi, điển hình là chú ĐòanĐức Thiêm là người em út của bố tôi. Vì đói, nên chú Thiêm phải bỏ nhà ra đi biệt tăm mất dạng và đã bỏ xác nơi đâu - mà không một ai trong dòng họ biết đích xác được là chú mất ở đâu, vào ngày giờ nào nữa.
Ngay trong nhà tôi, thì nhiều khi bố mẹ tôi cũng phải cho nấu gạo độn thêm với khoai sắn hay với cám - để dành ra chút ít gạo nhằm cứu trợ cho bà con trong làng. Mẹ tôi bảo : Mình bớt ăn nhịn tiêu đi, để mà “nhường cơm sẻ áo” cho người đang thiếu thốn, thì điều đó mới đích thực có ý nghĩa cao quý.
Đặc biệt là ông bố tôi đã ra tay tổ chức chôn cất cho những người chết đói bỏ xác "vô thừa nhận" tại khu chợ Cát trong làng. Ông cụ phải cho một người trai trẻ ăn no để anh còn có sức phụ giúp ông khiêng xác chết đem ra chôn ngòai nghĩa địa - nơi huyệt mộ cả hai người vừa mới hì hục đào lên. Việc ông cụ tự nguyện đứng ra "chôn xác kẻ chết" như thế đã được bà con trong làng đánh giá cao, họ gọi đó là thể hiện cái tình "nghĩa tử là nghĩa tận". Và sau đó Tòa Giám mục Công giáo ở Bùi chu đã cấp cho ông cụ một tấm bằng khen ngợi công việc bác ái này của cụ.
Chuyện bố mẹ tôi nêu tấm gương từ thiện bác ái như thế giữa lúc bà con bị khốn khổ vì nạn đói năm Ất Dậu 1945 đen tối thảm hại đó - quả thật đã ảnh hưởng sâu sắc đến anh chị em chúng tôi trong gia đình. Và điều đó sau này cũng thúc đảy tôi nhập cuộc cùng với các bạn đồng trang lứa ở vào tuổi trưởng thành - để dấn thân hết mình với công tác xã hội tại miền Nam Việt nam - nhằm cứu trợ những nạn nhân chiến cuộc giữa thời kỳ chiến tranh tàn khốc vào hồi thập niên 1960 - 70.
Rồi bây giờ đến lượt thế hệ thứ ba là các cháu nội ngọai của bố mẹ tôi, thì dù tất cả đều sinh sống trên đất Mỹ - các cháu cũng tham gia rất hăng say với công việc từ thiện nhân đạo tại Việt nam - cụ thể là thông qua các tổ chức Hope Today và SAP VN (Social Assistance Program). II - Kỷ niệm về một số bạn hữu đã khuất bóng.
Khi từ miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954, thì tôi đã đến tuổi 20 và theo học tại trường Luật ở Saigon. Vào năm 1956, tôi cư ngụ tại cư xá sinh viên có tên là Câu lạc bộ Phục Hưng trên đường Nguyễn Thông gần với bệnh viện Saint Paul. Tại cư xá do mấy linh mục thuộc dòng Đa minh tổ chức này, tôi được gặp rất nhiều bạn có tinh thần hăng say với công tác xã hội và chúng tôi rủ nhau tình nguyện tham gia những việc làm cụ thể có ích cho đồng bào, điển hình như đến thăm viếng những trẻ em mồ côi ở các cô nhi viện, cứu trợ nạn nhân bão lụt, hỏa họan v.v... Sau đó, thì các bạn lại lôi cuốn tôi tham gia sinh họat với Nhóm Thanh niên Thiện chí với những cuộc cắm trại kèm theo công tác phục vụ đồng bào ở địa phương - mà tiếng Mỹ gọi là "Work Camp". Rồi kể từ năm 1965, một số anh chị em chúng tôi đã hợp nhau thành lập một Chương trình Phát triển Cộng đồng tại địa phương các Quận 6, 7 và 8 Saigon. Rồi cũng qua những công tác xã hội như thế, tôi quen biết thêm được với nhiều người bạn người Việt cũng như người ngọai quốc - mà cùng có sự đồng cảm với mình trước nỗi khổ đau quá lớn lao của vô số những nạn nhân chiến cuộc. Những bạn hữu này xuất thân từ nhiều quốc gia khác nhau với niềm tin tôn giáo khác nhau, và cũng khác nhau cả về mặt chính kiến nữa. Nhưng mà tất cả chúng tôi đều có một mẫu số chung, đó là cùng nhau ra sức phục vụ đồng bào Việt nam mình đang lâm vào hòan cảnh khó khăn bế tắc ngặt nghèo. Dưới đây, tôi xin đơn cử trường hợp của một số bạn hữu thân thương mà tôi có duyên quen biết qua một số công việc cùng theo đuổi chung với nhau. Các bạn này đều đã qua đời từ ít lâu nay. 1 – Anh Nguyễn Đức Nhuần, sinh viên Dược khoa.
Anh Nhuần quen biết với tôi từ hồi còn học ở ngòai Bắc và sau này lại ở chung với nhau tại cư xá Phục Hưng Saigon từ năm 1956. Anh tham gia sinh họat với Nhóm Thanh Lao Công (JOC = Jeunesse Ouvrìere Catholique) từ hồi còn ở Hanoi cùng với các anh Nguyễn Đức Phong, Nguyễn Quang Hồ…Trong thời gian ở Phục Hưng, anh Nhuần có nhờ tôi dịch một vài tài liệu bằng tiếng Pháp để đăng trong nội san của Nhóm. Nhưng chẳng bao lâu sau, anh bị đau bệnh phổi và qua đời vào đầu năm 1957 tại nhà thương Saint Paul trước sự thương tiếc của số đông sinh viên chúng tôi trong cư xá. Qua anh Nhuần, tôi có dịp tìm hiểu thêm về sinh họat của Phong trào Thanh Lao Công trên thế giới, đặc biết là các bài viết của vị Sáng lập của JOC, đó là Linh mục Joseph Cardijn người Bỉ. Ông khuyên các đòan viên JOC là phải thực hiện cả 3 việc, đó là : Xem – Xét – Làm (Voir – Juger – Agir) trong mọi hành động nhằm nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của giới lao động nghèo khổ bần cùng. Và tôi thật cảm kích trước tấm gương nhập cuộc của bà Simone Weil là một giáo sư về môn Triết học - mà lại đi làm một công nhân tại hãng chế tạo xe hơi Renault - để cùng chia sẻ nỗi vất vả cơ cực của giới lao động thời trước đệ nhị thế chiến. Simone Weil là bạn học cùng lớp với Simone de Beauvoir người bạn đời nổi danh của Jean Paul Sartre ấy. Người sau này cũng có lý tưởng phục vụ giới lao động như anh Nhuần, đó là anh Nguyễn Văn Tánh hiện cũng ở Bruxelles nước Bỉ. Anh Tánh vừa được bàu vào chức vụ Chủ tịch Ủy Ban Bảo vệ Lao động trong kỳ Đại hội tại Washington DC vào cuối tháng 6 năm 2012 này, mặc dù anh đã ngòai 80 tuổi rồi. 2 – Chị Phạm Thị Thân, sinh viên Nha khoa.
Từ năm 1957, qua sự giới thiệu của anh bạn Bùi Minh Đức sinh viên Y khoa, tôi bắt đầu sinh họat với Nhóm Thanh niên Thiện chí lúc mới còn phôi thai chỉ có chừng vài chục sinh viên. Trong Nhóm này, người họat động kiên trì bền bỉ nhất phải kể đến chị Phạm Thị Thân. Đó là người mà từ khi còn là một nữ sinh ở ngòai Hanoi thì đã là một đòan viên nòng cốt của Phong trào Nữ Hướng Đạo Việt nam. Sau khi đi du học ở Mỹ về, thì chị Thân đã góp phần quan trọng vào việc phát triển Phong trào Thanh niên Thiện chí ở Việt nam song song với nhiệm vụ của một Tổng Ủy Viên của Nữ Hướng Đạo. Vì không bận rộn với chuyện gia đình riêng tư, nên chị đã dành tòan thời gian ngòai việc dậy học tại Đại học Nha khoa cho cả hai tổ chức Nữ Hướng Đạo và Thanh niên Thiện chí này. Chị Thân đã qua đời tại Mỹ vào năm 2007 ở tuổi 75. Trước năm đó, thì cũng đã có nhiều huynh trưởng của Phong trào Thanh Thiếu niên ở miền Nam trước năm 1975 đã ra đi, điển hình như các bạn Trần Đại Lộc, Lê Đình Điểu, Trần Huy Phong, Nguyễn Hữu An, Ngô Mạnh Thu, Đỗ Ngọc Yến... Và gần đây vào năm 2010 - 2011 là Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Đức Quang... Chị Thân cũng như các bạn nói trên là những nhân vật tiêu biểu cho thế hệ những người trẻ đã dấn thân tích cực trong việc phục vụ nhân quần xã hội tại Việt nam giữa thời kỳ chiến tranh khói lửa khốc liệt trong các thập niên 1960 – 70. Họ đích thực là những đại diện xuất sắc của khu vực Xã Hội Dân Sự tại miền Nam vậy. 3 – Anh Gene Stoltzfus của Đoàn Xây Dựng Hòa Bình Thiên Chúa Giáo (CPT = Christian Peacemaker Team).
Gene Stoltzfus đã từng là một đòan viên của tổ chức Thanh Niên Chí Nguyện Quốc Tế họat động tại Việt nam hồi đầu thập niên 1960. ( IVS = International Voluntary Services). Sau đó, anh trở về Mỹ và đi học thêm về môn Á châu học (Asian Studies) và Thần học. Năm 1988, Gene cùng các bạn đứng ra thành lập tổ chức "Đòan Xây Dựng Hòa Bình Thiên Chúa Giáo" (CPT) gồm những thiện nguyện viên đi đến những vùng có nguy cơ xung đột bạo động để tìm cách thuyết phục hai bên đối nghịch dàn xếp các mâu thuẫn tranh chấp bằng sự thương lượng và thỏa hiệp với nhau (compromise) thay vì sử dụng bạo lực chém giết lẫn nhau. Các bạn tình nguyện trong CPT này thực hành đúng theo lời giáo huấn được ghi rõ trong cuốn Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo, đó là : "Phúc thay cho những kẻ làm cho người hòa thuận" (Blessed are the Peacemakers). Các đòan viên này phải đối đầu với sự nghi kỵ căng thẳng từ cả hai phía, nên chịu áp lực rất nguy hiểm, đến nỗi có người bị sát hại giữa lúc tìm cách giàn xếp cuộc tranh chấp ở địa phương. Tổ chức CPT được một số tôn giáo yểm trợ về tài chánh cũng như về tinh thần, nhưng họ lại không chủ trương đi truyền đạo như các giáo sĩ. Tôi có dịp gặp lại Gene vào năm 2008 tại trụ sở của cơ quan xã hội trung ương của giáo hội Mennonite (MCC = Mennonite Central Committee) tại thành phố Akron trong khu vực Lancaster tiểu bang Pennsylvania. Lúc đó, anh đã về nghỉ hưu và sinh sống với gia đình ở Canada. Nhưng vào năm 2010, Gene đã qua đời vì bệnh tim ở vào tuổi 70 (1940 – 2010). Geneđã để lại thương tiếc cho bao nhiêu bạn hữu vốn hằng quý mến và khâm phục tinh thần hăng say của anh trong công cuộc xây dựng hòa bình tại nhiều nơi trên thế giới. 4 – Anh Vũ Lục Thủy, nhà biên khảo về văn học và lịch sử.
Anh Vũ Lục Thủy tên thật là Vũ Năng Phương quê quán tại làng Lục Thủy huyên Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Anh có niềm say mê với sách vở ngay từ thời còn nhỏ tuổi, lúc mới chập chững vào lớp trung học. Vào những năm 1951 - 52, tôi thường có dịp đến chơi với Phương ở nhà của cha mẹ anh tại làng Lục Thủy. Bạn bè học cùng lớp với anh tại trung học Chu Văn An Saigon như các anh Trần Huy Bích, Hà Mai Phương cũng là những nhà nghiên cứu có tiếng tăm, thì đều quý mến và đánh giá cao công trình biên khảo của Vũ Lục Thủy. Mà các bậc trưởng thượng về văn học như cụ Nguyễn Khắc Kham, Tăng Xuân An, Nguyễn Đình Hòa, thì đều mến mộ anh và gọi anh là “Tiên sinh”. Bác sĩ Phạm Hữu Trác ở Canada là bạn học cùng quê thì cho biết là : "Vào những năm đầu thập niên 1980, Phương hay nhờ tôi mua giùm một số sách xuất bản ở trong nước mà chỉ ở Canada mới có bán, vì nước này có giao thương với Hanoi – trong khi ở Mỹ thì vẫn còn áp dụng lệnh cấm vận đối với Việt nam..." Với niềm say mê tìm tòi nghiên cứu trong nhiều năm tháng, anh bạn Vũ Lục Thủy đã cho phổ biến được nhiều bài viết rất có giá trị về lịch sử và văn học mà được các học giả và công chúng đánh giá cao. Nhưng không may, Vũ Lục Thủy đã đột ngột qua đời ở San Diego California vào mùa hè năm 2001 lúc mới ở tuổi 65 – 66. Thật là sự mất mát lớn cho giới nghiên cứu biên khảo của Việt nam vậy. * * * Trên đây, tôi chỉ trưng dẫn một số trường hợp điển hình về hành động của các nhân vật là cha mẹ, là bạn hữu thân thiết của tôi. Những việc làm của họ rõ ràng là xuất phát từ tấm lòng yêu thương đồng lọai, quý trọng sự sống con người, yêu mến văn hóa dân tộc. Dù tất cả họ chẳng phải là những nhân vật kiệt xuất hay vĩ nhân anh hùng gì - thì trong phạm vi khả năng giới hạn của mỗi người, họ cũng đã cố gắng đóng góp thật đáng kể cho sự an vui của nhân quần xã hội. Tôi thật biết ơn vì tấm gương tốt đẹp sáng ngời như thế của cha mẹ cũng như của các bạn hữu thân thương đã để lại cho bản thân mình từ suốt bao nhiêu năm qua. Và như tôi đã có lần nhắc đến : Tôi thật tâm đắc với câu trong bài hát của nhạc sĩ Trầm tử Thiêng : “Tạ Ơn Trên : Người Vẫn Thương Người “. Bài viết đơn sơ mộc mạc này là một minh họa cho cái tấm lòng nhân ái bao la rộng mở của rất nhiều bà con trong thế hệ chúng ta ngày nay vậy. Một lần nữa, tôi xin cảm ơn nhà văn Tràm Cà Mau - vì bài “ Ơn Đời Chứa Chan” của ông đã tạo hứng khởi cho tôi để viết thành bài “ Tình Người Muôn Vàn “ này đây./ Costa Mesa, California ngày 5 tháng Tám năm 2012 Đoàn Thanh Liêm
VNCS: Chết Mất Đất, Khô Nước Vi Anh Việt Nam chết mất đất, chết khô nước, tại ai? Xin thưa ngay, tại CS Hà nội.
Trung Cộng lại đã làm và hồi đầu tháng 9/2012 đã khởi động thêm một đập thủy điện nữa ở đầu nguồn sông Cửu Long: Đập Nọa Trác Độ (Nuozhadu) khổng lồ. Thế mà tại hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương APEC ở Vladivostok (Nga) ngày 07/09 vừa qua, ông Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nước VNCS, chỉ nói bâng quơ, không dám nêu đích danh nước nào, than phiền: «Tình trạng xây đập, điều chỉnh dòng nước chảy xuống hạ lưu của một số nước ở thượng nguồn là vấn đề gây quan ngại cho nhiều quốc gia, tiềm ẩn tác động quan hệ giữa các nước liên quan».
Nhưng Ô Trương tấn Sang làm gì khác hơn được khi những người cầm quyền CS Hà nội trước đây đã có những quyết định ngoại giao sai lầm “gây hậu quả nghiệm trọng” cho quốc gia dân tộc VN, đã tự thủ tiêu quyền phủ quyết của nước VN trong vấn đề sông Mekong.
Làm thầy thuốc trật hại một người, làm thầy giáo trật hại một lớp; làm chánh trị trật hại một quốc gia dân tộc. Với độ lùi thời gian khá đủ, với Hoàng Sa Trường Sa đã mất vào tay Trung Cộng, đã cũng khá đủ để cho người Việt ở Bắc, ở Nam, ở Trung và ở hải ngoại thấy: CS Hà nội là những người làm chánh trị trật, hại cả quốc gia dân tộc Việt Nam.
Chưa hết đâu, VN còn sắp chết khô nước nữa vì CS Hà nội. Các nước thượng nguồn Sông Cửu Long, Trung Cộng, Miến Điện, Lào và Thái Lan đã, đang, và sẽ đua nhau xây đập thủy điện, chận bớt dòng chảy và nguồn nước vào Đồng Bằng Sông Cửu Long ở Nam Việt hạ nguồn bị nhiễm mặn, lừng phèn, mất phù sa của vựa lúa của cả nước VN.
Nếu Thủ Tướng Phạm văn Đồng của CS Bắc Việt năm 1958 nhơn danh Đảng Nhà Nước CS ở Miền Bắc đã ký và gởi công hàm cho Thủ Tướng Chu ân Lai của TC, thừa nhận lãnh hải của TC bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tức hai đảo này là lãnh thổ của TC, là làm một hành động chánh trị có tội động trời đối với quốc gia dân tộc Việt Nam, thì việc làm của Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn mạnh Cầm của VNCS vào năm 1995 còn làm một tội động đất khi đặt bút ký tên gia nhập và thừa nhận hiến chương mới của Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commmission) và đặt văn phòng chi nhánh ở Hà nội.
Tổ chức và hiến chương mới này bãi bỏ tổ chức cũ là Ủy ban Sông Mekong (Mekong River Committee) mà VN Cộng Hoà là thành viên có văn phòng chi nhánh đặt ở Saigon. Ủy hội mới, hiến chương mới của Ủy Hội Sông Mekong do Ô Nguyễn mạnh Cầm ký thủ tiêu thẩm quyền phủ quyết của quốc gia dân tộc Việt Nam là một quốc gia có vùng trù phú nhứt, vựa lúa của cả nước là Đồng Bắng Sông Cửu Long nằm ở hạ lưu vực, hạ nguồn sông Mekong.
Việt Nam không có quyền phủ quyết ấy thì Việt Nam không thể ngăn cản các nước xây đập ở thượng nguồn, ngăn chận dòng nước tưới và phù sa bón cho Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đó là chưa nói việc ngăn chận nguồn thủy sản nước ngọt là món ăn căn bản của người dân Miền Nam.
Việt Nam Cộng Hòa thấu triệt sâu sắc điều kiện sanh tử đó nên quyết liệt đòi hỏi, bảo lưu, hành sử liên tục quyền phủ quyết qui định trong hiến chương của Ủy ban Sông Mekong. VNCH làm chánh trị với cố gắng và quyết tâm cao nhứt, làm tất cả những gì có thể làm được và không từ bỏ cơ hội nào để bảo lưu quyền phủ quyết đó trên phương diện chánh trị quốc tế.
Cũng như VNCH năm 1974 điều quân ra chống TC xâm chiếm Hoàng sa, Trường sa ngay khi Mỹ rút quân, biết đi là tử chiến nhưng vẫn đi để không hỗ thẹn với tiền nhân, để tạo chứng tích quốc tế cho con cháu sau này đòi lại chủ quyền.
Còn sông Mekong, nếu VN không phủ quyết được thì các nước ở thượng nguồn sẽ xây đập thủy điện hưởng lợi, mà cái lợi đó là điều hại lớn cho Đồng Bằng Sông Cửu Long của VN.
Còn chế độ CS Hà nội coi việc được gia nhập vào Uỷ Ban đánh bóng cho chế độ và Đảng Nhà Nước CS cao hơn quyền lợi quốc gia dân tộc; nên Ngoại Trưởng Nguyễn mạnh Cầm đặt bút ký tỉnh bơ, dễ ợt, gián tiếp thủ tiêu quyền phủ quyết sanh tử này của quốc gia dân tộc Việt Nam. Bây giờ CS Hà nội muốn gỡ coi như vô kế khả thi. Chỉ có Việt Nam là nước hạ nguồn chịu thiệt trong việc các nước thượng nguồn có lợi khi xây đập thủy điện, Các nước TC, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Miên, có lợi đâu bao giờ giúp Việt Nam.
Còn việc Việt Nam chết mất đất, mất biển, mất hải đảo với Trung Cộng do công hàm bán nước của Ô. Phạm văn Đồng, CS Hà nội cũng không có cách gỡ. Trước chấn động do Quốc Vụ Viện TC sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thành quận huyện của TC, những người cầm đầu Đảng Nhà Nước CS câm như hến. Phát ngôn viên ngoại giao chỉ ú ớ, cho lấy có, chiếu lệ. Thanh niên sinh viên biểu tình, TC mới nguýt một cái, hé môi một tiếng bảo “định hướng” dư luận thì công an CS Hà nội công khai, chánh thức, mau mau, mạnh bạo cấm biểu tình. Chưa đủ. Công an còn đến gia đình, học đường phải ngăn chận và bắt cóc người biểu tình nữa.
Còn nhờ công lý và luật pháp quốc tế thì vô phương. Những lời tuyên bố của Bộ Trưởng Ung văn Khiêm xác nhận hai đảo thuộc Trung Quốc từ thời Nhà Tống bên Tàu. Công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng, và có thể còn nhiều mật ước mà CS Hà nội đã ký hay hứa với TC mà còn giấu kín như bưng là những thứ hiệp ước giữa TC và VC, có giá trị luật pháp đối với Đảng Nhà Nước CS hai nước. Các nước lân cận như Đài Loan, Phi luật Tân, Mã lai, Nam Dương, Brunei có tranh chấp chủ quyền trong vùng này cũng không có quyền lợi gì để tiếp tay Việt Nam vì họ biết hai đảo ấy thực sự là của Việt Nam. Chế độ CS Hà nội làm chánh trị trật thì ráng mà chịu, hà cớ gì họ xen vào.
Còn CS Hà nội muốn dựa vào thế nhân dân Việt Nam, hy vọng này càng mong manh hơn. Sau nửa thế kỷ thống trị ở Miền Bắc, một phần ba thế kỷ thống trị ở Miền Nam, CS Hà nội đã quá xa rời quần chúng khó mà huy động được. Còn quần chúng đã quá chán nản, bất mãn Đảng Nhà Nước CS Hà nội độc tài đảng trị quá rồi, nên CS Hà nội không dám huy động nội lực sợ gậy ông đập lưng ông. Nên còn CS Hà nội làm quốc gia dân tộc Việt Nam còn chết mất đất, chết khô nước.
Chỉ có thế cứu vãn được tai họa mất Hoàng Sa, Trường Sa; chỉ có thể cứu vãn tai họa Sông Cửu Long cạn dòng, Đồng Bắng Sông Cửu Long khô cằn, nhiễm mặn, mùa màng thất bát, với một chánh quyền mới. Chánh quyền mới có thể phủ nhận mọi hứa hẹn, công hàm, qui ước mà CS Hà nội đã hứa và ký kết với TC và các nước thượng nguồn. Đó là những văn kiện hà tì về hình thức, bất bình đẳng về nội dung. Một vấn đề trọng đại thuộc chủ quyền lãnh thổ quốc gia mà CS không đưa ra Quốc Hội phê chuẩn, không đưa ra trưng cầu dân ý chiếu tinh lý pháp luật phổ quát đòi hỏi phải làm. Một vấn đề trọng đại liên quan đến lãnh hải, dính líu đến luật biển quốc tế mà CS không đăng bộ công khai với quốc tế là Liên Hiệp Quốc thì không có giá trị thi hành với quốc tế. Việc Ông Phạm văn Đồng, Ông Ung văn Khiêm đã làm ở mức độ pháp lý hình thức nào đó chỉ là những hành vi chánh phủ. Chánh quyền mới có đầy đủ tư cách, thẩm quyền phủ nhận coi như không hề có. Và từ đó mới có thể đặt vấn đề đòi lại bằng nhiều cách thức và đường lối.
Giới thiệu sách mới :
Người Quốc gia trong chiến
tranh Việt nam
Hồi ký
của Nguyễn Công Luận

| |