Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm: Đoàn kết đòi quyền sống!

Kính chuyển đến quý vị và quý bạn ở quốc nội các
Lời Chúc Tết
, nhận định, tâm tình hiệp thông cùng đồng bào & chiến sĩ đấu tranh, nhất là giới trẻ yêu nước. Để yểm trợ tinh thần đồng bào gian nan đấu tranh cứu Nước ra khỏi Việt cộng và giặc Tàu.

Quý vị bấm vào các audio-link nghe âm thanh các phát biểu chọn lọc từ quý nhân sĩ thuộc Cộng Đồng Người Việt ở Bắc Mỹ Châu, gởi đồng bào quốc nội thân thương ở Việt Nam.

Xin giúp phổ biến tâm tư đồng bào hải ngoại đến đồng bào quốc nội, qua Internet: Emails, Paltalk, yahoo/gmail Groups, Radio, Web, Blogs. Nội dung các phát biểu được lưu trữ ở http://freevietnews.com/audio






Sau đây là những lời cầu chúc đầu năm của Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm là cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên của Việt Nam Cộng Hòa, cựu giáo sư Hiệu Trưởng trường Petrus Ký, Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn Đề Thi của Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.


(quý vị bấm nghe âm thanh)  http://www.freevietnews.com/audio/20110201_GsNguyenThanhLiem_e.m3u


Đoàn kết, mạnh dạn
đứng lên đòi quyền sống!

Hải ngoại ngày 1 tháng 2, 2011

 Kính thưa quý vị,

Tôi là Nguyễn Thanh Liêm, cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hoá Giáo Dục và Thanh Niên Việt Nam Cộng Hoà, hiện là Chủ Tịch hội Lăng Ông - Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation, Chủ Biên Tập San Nghiên Cứu Văn Hoá Đồng Nai Cửu Long, và Chủ Tịch hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông ở California, Hoa Kỳ. Tôi xin kính chào quý đồng hương ở hải ngoại cũng như ở quốc nội.

Kính thứ quý đồng hương

 Bây giờ là gần cuối ngày 29 tháng Chạp năm Canh Dần ở California. Chỉ còn hơn một ngày nữa là bước sang năm mới, năm Tân Mão. Đồng bào ta ở mọi nơi lúc này đang rộn rịp lo sửa soạn cúng ông bà, đón Giao Thừa, đón chào mùa xuân mới. Ai ai cũng đều nôn nao mong muốn năm mới này sẽ mang lại nhiều may mắn, tốt đẹp cho bản thân và gia đình của mỗi cá nhân, cũng như mang lại hoà bình, thịnh vượng cho quốc gia, nhân loại.

Đó là niềm mong ước hết sức chính đáng, hết sức hợp lý, hợp tình của con người ở trên thế gian này. Nhưng có bao giờ niềm mong ước đó được dễ dàng thực hiện không?

 Ở những xứ tiến bộ, có đầy đủ tự do dân chủ, có công bằng xã hội, có luật pháp phân minh, có cơ hội đồng đều cho mọi người thăng tiến, nơi người công dân có đủ quyền làm người, có giá trị nhân phẩm, có văn hoá nhân bản, như ở Hoa Kỳ, Gia Nả Đại, hay một số các nước tân tiến ở Âu Châu, thì niềm mong ước chính đáng nói trên có rất nhiều hy vọng thực hiện được. Đối với đồng hương ở những nơi đó tôi thấy tôi rất mạnh miệng cầu chúc đồng hương được nhiều may mắn, hạnh phúc, được an khang, thịnh vượng.

Tôi cũng cầu chúc cho quý đồng hương ở đây luôn giữ vững căn cước Việt Nam Cộng Hoà, với cờ vàng ba sọc đỏ, nêu cao tinh thần quốc gia, mạnh dạn bảo vệ thành trì văn hoá nhân bản truyền thống của dân tộc Việt đừng để cho Cộng Sản và Tay Sai chen chân vào phá hoại.

 Còn ở những nơi mà chế độ độc tài toàn trị đang khống chế, quyền làm người bị tước đoạt, phẩm giá con người bị chà đạp, xã hội đầy dẫy bất công, tham nhũng, lạm quyền như ở Việt Nam hiện giờ thì ở đó niềm mong ước chính đáng, hợp tình hợp lý của con người không hy vọng gì thực hiện được. Đối với đồng bào đang phải sống trong hoàn cảnh khốn khổ, bất hạnh đó, những lời cầu chúc may mắn thịnh vượng sẽ hết sức phi lý, mỉa mai, nếu không nói là kỳ khôi, lố bịch.

Đối với đồng bào trong hoàn cảnh khốn khổ này tôi chỉ biết nguyện cầu những đấng thiêng liêng hãy dùng những quyền năng siêu việt biến kẻ cầm quyền hồi tâm đừng dùng quyền thế, vũ lực, đàn áp, bức bách, bốc lột một cách tàn ác, nhẫn tâm đối với người dân chất phác, hiền lành, vô tội nữa. Hãy biết thương dân, lo cho dân, phục vụ người dân phần nào cho xứng đáng là người cầm quyền cai trị dân.


 Dưới thời quân chủ chuyên chế xưa kia, người làm quan còn biết lo cho dân cho xứng đáng là bậc “dân chi phụ mẫu”như trường hợp của Đưc Tả Quân Lê Văn Duyệt khi làm Tổng Trấn Gia Định chẳng hạn, huống chi là ngày nay trong thời đại dân chủ nhà cầm quyền càng phải lo phụng sự cho dân, phải luôn luôn hành động cho dân và vì dân mới xứng đáng là chánh quyền của dân và do dân mà có.

Tôi cũng nguyện cầu các đấng thiêng liêng phù hộ cho người dân lương thiện, giúp cho họ sống được, và tạo cho họ sức mạnh, dám đoàn kết, mạnh dạn đứng lên đòi quyền sống, đòi quyền làm người, đòi kẻ cầm quyền phải trả lại cho họ phẩm giá của con người.

 Càng lúc người ta càng thấy chế độ độc tài toàn trị của Cộng Sản Việt Nam có nhiều sai lầm. Chế độ đó đã gần kề phút cáo chung.

Tôi nguyện cầu cho đất nước và dân tộc Việt Nam sang năm mới tiến gần hơn đến ngày được giải phóng khỏi ách độc tài cộng sản, thiết lập lại nền dân chủ tự do, nhân bản, đa nguyên, để cho nhân dân được thật sự hạnh phúc, quốc gia được thật sự tiến bộ, phú cường.

 Xin trân trọng kính chào quý đồng hương.     


 



Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm
Cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên của Việt Nam Cộng Hòa


(quý vị bấm nghe âm thanh)  http://www.freevietnews.com/audio/20110201_GsNguyenThanhLiem_e.m3u

 


Những kẻ buôn người

CAU BAY

Chuyện xưa bên Tàu kể rằng có người tên là Lã Bất Vi đi buôn vua, tức là một hình thức buôn người. Thương nhân họ Lã đã đem dâng nàng hầu đang mang thai của mình cho thái tử nuớc Tần với mưu toan sau này con mình sẽ có cơ may được làm vua nước Tần.  Ông buôn vua này đã thành công và thai nhi dòng họ Lã này chính là bạo chúa

Tần Thủy Hoàng sau này.

Chuyện này có thật đến độ nào thì cũng khó biết vì đó là chuyện... tàu. Nhưng dù sao kẻ bán vợ đợ con này cũng không đến nỗi tán tận lương tâm cho lắm vì cái tham vọng cho con mình được làm vua.

    Chuyên thời xưa các xứ Á Rập cũng buôn bán phụ nữ như những món hàng nô lệ tình dục.
Dù sao tệ nạn đó ngày nay cũng đã chấm dứt, dù rằng đa số các quốc gia Ả Rập theo Hồi giáo, một tôn giáo còn chấp nhận chế độ đa thê, xem thường phụ nữ.

Chuyện xưa bên Tây kể rằng có bọn thực dân buôn người da đen. Chúng qua châu Phi lùng bắt người và mang qua Tân thế giới bán làm nô lệ.

Dù đây là một tội ác, là một vết nhơ của nhân loại, bọn buôn người này không buôn bán chính người đồng chủng của chúng. Và chúng cũng không nhân danh cái đinh gì của những nạn nhân khốn khổ kia.

    Riêng lịch sử dân tộc Việt Nam trong suốt từ thời lập quốc cũng chưa hề có nhà cầm quyền nào chủ trương buôn người. Dù trong thời kỳ quân chủ phong kiến, giai cấp có khác nhau, nhưng không có triều đại nào dung dưỡng nạn buôn người. Đúng ra lịch sử có ghi lại một lần mà một con người dân Việt được đem ra trao đổi bằng hiện vật. Đó là việc vua Trần Anh Tông gả em gái mình là Huyền Trân công chúa cho vua Chế Mân của Chiêm Thành để đổi lấy hai châu Ô, Lý. Vụ bán người lấy của này thực ra là một sự hy sinh cho quốc gia mà ngày nay người Việt nào cũng mang ơn và thương cảm cho sự hy sinh của một nàng công chúa.

    Những vụ buôn người lẻ tẻ do cá nhân thì lịch sử nước nhà cũng đã xảy ra. Đã có nhiều kẻ phản bội bán những người yêu nước, những nhà cách mạng cho giặc. Thí dụ tên Trương Quang Ngọc đã bán cụ Phan Đình Phùng cho thực dân Pháp. Gần đây hơn, có nhiều bằng chứng cho thấy là  Nguyễn Ái Quốc đã bán cụ Phan Bội Châu cho thưc dân Anh, cho nhà cầm quyền Hông Kông. Dù sao đó cũng là một nghi vấn lịch sử, tin hay không cũng còn tùy người.

    Ở Việt Nam ngày nay có bọn tội phạm buôn người, lừa bịp các cô gái nghèo khó bán vào các quán ba, nhà thổ ở trong nước hay bán các bé gái vị thành niên qua Campuchia; hoặc bán cho các ông chồng đui què sứt mẻ Đài Loan, Đại Hàn. Đây là một tội ác ghê tởm, nhưng dù sao bọn tội phạm này cũng lén lút, cũng không bao giờ mặt dày mày dạn công khai việc mua bán của mình trước công luận.


Trương Quang Ngọc, Nguyễn Ái Quốc, hay bọn lưu manh, ma cô, má mì… dù dã tâm, đê hèn, tham lam, phản phúc, vẫn là những cá nhân đơn lẻ. Chúng chưa có qui mô bán người của một nhà nước đương quyền.

    Nhưng cũng chuyện đời nay ở xứ mình, có một bọn buôn người rất công khai mà ai cũng thấy. Bọn buôn người này nhân danh nhà nước, nhân danh cách mạng, nhân danh đầy tớ của nhân dân mà chúng không từ một cơ hội nào để bán từng người dân một. Không phải một mà rất nhiều lần. Bọn buôn người này là tập đoàn cộng sản đang cai trị nước Vỉệt Nam hiện nay.

    Thực vậy, từ sau năm 1975 nạn buôn người ở Việt Nam đã trở thành một quốc sách của nhà cầm quyền cộng sản. Nó không chỉ gây đau thương cho người dân thấp cổ bé miệng mà đã thành một vấn nạn đánh động lương tri của toàn nhân loại.
    Nó cũng là điều sỉ nhục không riêng gì cho bọn cầm quyền mà cho cả dân tộc. Một nhà nước dùng công dân của mình để trục lợi thì gọi là gì nếu không phải là bọn “buôn dân”? Xin nhắc lại những sự việc sau đây:

   Vài năm sau khi chiếm được miền Nam, nhà cầm quyền cộng sản bắt đầu hành động buôn người.công khai qua vụ cho người đi vượt biên “bán chính thức”. Nhà cầm quyền đã thu tiền của người dân và đẩy họ ra biển trên những chiếc thuyền mong manh chở đầy người và mặc cho số phận của họ.
 
Trên danh nghĩa nhà nước gọi thành phần này là người Hoa hồi hương, nhưng thực chất hễ ai có tiền thì họ cho đi. Đến khi những vụ bán người lên cao điểm thì hành động man rợ này bị thế giới phát giác, lên án và áp lực ngăn cấm bằng hội nghị Geneva tháng 6 năm 1979.
 
   Sau đó nhà cấm quyền Việt Nam lại cho tay chân tổ chức bán bãi cho dân đi chui để tiếp tục lấy vàng và bất động sản của họ. Việc công an âm mưu bán bãi cho người đi vượt biên này vẫn còn nhiều nhân chững sống, đó là hằng triệu người Việt đang sống tại hải ngoại.

    Đây là một kiểu thu tiền mãi lộ công khai mà kẻ bán là nhà cầm quyền và người mua lại chính là những nạn nhân. Họ phải bỏ tiền bạc, tài sản ra để mua tự do cho chính họ. Hành vi buôn người trong trường hợp này là một hình vi ăn cướp và bị cướp.


    Khi vấn đề người tỵ nạn cộng sản trở thành gánh nặng quá tải cho các nước lân bang, và những cái chết bi thương trên biển, trong rừng đã đánh động lương tâm của mọi người (trừ nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam), thì Liên Hiệp Quốc (LHQ) và các tổ chức nhân đạo trên thế giới đành phải thương lượng cung cấp tiền bạc để cho chính quyền Việt Nam nhận lại người dân của họ.
 
  Một kiểu con buôn ăn cả hai đầu, một hình thức ăn vạ kiểu Chí Phèo thời đại mới. Thời gian này ở trong nước người ta thường rêu rao là “thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”. Ngoài số tiền phải trả cho chính phủ Việt Nam về khoản “tái định cư”, những viên chức cộng sản đã ăn chận trên số tiền trợ cấp của LHQ cho những nạn nhân khốn khổ này. Sự việc cũng tương tự cho đồng bào Thượng chạy trốn qua Campuchia khi được LHQ giúp đỡ cho hồi hương.


Trong thời gian từ 1975 đến 1990, hàng triệu đồng bào đã là nạn nhân và biết bao nhiêu viên chức trong chính quyền cộng sản Việt Nam đã trở thành giàu sụ nhờ vào những vụ buôn người này. Ghê tởm hơn nữa, có người cho rằng một trong những đầu lãnh tổ chức, thu tiền ngày đó bây giờ đã leo lên vị trí then chốt trong chính quyền. Đó là ông đương kim thủ tướng VC Nguyễn Tấn Dũng.

   Nguyễn Tấn Dũng có tổ chức cho người vượt biên để lấy tiền hay không, kẻ viết bài này không dám quyết đoán vì không trực tiếp đưa tiền cho ông ta. Hãy để cho chính ông ta cùng vợ con, dòng họ, đồng chí của ông ta trả lời. Tuy vậy, bằng những hành động dùng người dân để đổi chác công khai với quốc tế từ khi ông nắm quyền thủ tướng cũng cho thấy thói buôn người quả có luân lưu trong máu của ngài Thủ tướng.

   Những năm gần đây một đối tượng khác, cũng là người dân, đã bị nhà nước cộng sản trục lợi, là những người bất đồng chính kiến trong nước. Họ đã cầm tù người dân lương thiện để mặc cả với lương tâm nhân loại. Các ông Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Đăng Quế… đã trở thành món hàng mặc cả cho thế giới mỗi khi Việt Nam cần vào một dịp nào đó, như mặc cả với Hoa Kỳ để bỏ cấm vận, vào WTO, vào LHQ…
 
Mỗi lần các người lãnh đạo Việt Nam công du qua các nước Âu Mỹ họ đều thả một vài người tù làm quà. Năm 2007, trước chuyến đi Mỹ của ông Nguyễn Minh Triết, họ thả hai ông Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình.
 
    Cũng năm 2007, khi công du Ba Lan, Nguyễn Tấn Dũng khi bị Quốc Hội Ba Lan cật vấn về vấn đề nhân quyền đã trơ trẽn đem chị Lê Thị Công Nhân ra để đổi chác. Hắn tuyên bố công khai rằng nếu nước Ba Lan nhận và chị Công Nhân đồng ý ra đi thì ông sẽ thả chị ấy.
Tại sao  không cho một nữ công dân nhỏ bé được tự do trên ngay xứ sở của mình, mà buộc chị ta phải lưu vong? Tại sao phải đợi đến áp lực từ nước ngoài mới quan tâm đến sự tự do của chị ấy? Như vậy khác nào đem công dân của mình làm một món hàng đổi chác với các đặc ân như viện trợ hay ngoại giao từ ngoại bang? Dùng người dân để mặc cả, trao đổi thì gọi là gì nếu không phải là buôn người?

    Một thực tế tệ hại là sau hơn 30 năm hòa bình, mỗi khi có tranh chấp hay đàm phán với bên ngoài, nhà cầm quyền cộng sản hình như trắng tay, không có gì để thương lượng ngoài tài nguyên, đất đai và công dân của mình. Bọn Tàu không quan tâm đến nhân quyền cho dân Việt và chúng chỉ muốn lãnh thổ. Có ngay! Hoàng Sa, Trường Sa, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, đường biên giới trên biển, trên bộ…
 
Thế giới tự do không muốn đất đai của Việt Nam, họ mong mỏi nhân quyền cho người dân Việt thì cũng có ngay! Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Văn Lý, Huỳnh Việt Lang, Lê Nguyên Sang,...Và nhiều nữa, ngày càng nhiều không đếm xuể. Khối “tài nguyên” này rất dồi dào; chỉ cần đàn áp, bắt bỏ tù là có ngay! 

  Khi những dòng này được viết thì ông Nguyễn Tấn Dũng  sang Hoa Kỳ. Không biết món quà ông sẽ mang cho Mỹ lần này là những ai, nhưng chắc chắn phải có. Sớm hay muộn mà thôi vì “món hàng người” đã trở thành truyền thống ngoại giao “ưu việt” của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

   Nghe nói bà Bùi Kim Thành đã được thả khỏi bịnh viện tâm thần. Nếu thế thì bà ta đã hết điên. Nếu bà ta chưa bao giờ mắc bịnh điên thì những kẻ như ông Nguyễn Tấn Dũng chắc chắn phải điên.
    Dùng bạo lực để nhốt một người đàn bà minh mẫn không cùng chính kiến với mình vào nhà thương điên mà vẫn nhơn nhơn tự nhận là người thật thà thì là gì nếu không phải là kẻ điên? Hay đó là sáng tạo tuyệt vời của bác và đảng quang vinh nhằm sản xuất mặt hàng đối lưu với bọn đế quốc tư bản tàn ác? Có lẽ cả hai!

Kẻ cầm quyền mà buôn dân
thì làm sao tránh khỏi bán nước! Buồn thay!

Cậu Bảy



Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế
Gửi thư cho Ngoại Trưởng Clinton

 
(Tin từ Tổ Chức Quốc Tế
Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản)
 
Nhân dịp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton thăm Hà Nội vào ngày 10 tháng Bảy, 2012, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế đã gửi cho Bà Clinton một văn thư, mà toàn thể nội dung được  chuyển sang Việt ngữ như sau:
 
Ngày 8 tháng Bảy, 2012
 
Kính gửi Bà Hillary Clinton
Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ
 
Đồng kính gửi:
 
- Tổng Thống Barack Obama
- Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta
- Phụ Tá Ngoại Trưởng Kurt Campbell
- Phụ Tá Ngoại Trưởng Michael Posner
- Phó Phụ Tá Ngoại Trưởng Andrew Shapiro
- Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear
     
 Kính thưa Bà Ngoại Trưởng,
 
 Người dân Việt Nam vui mừng được biết bà đang sửa sọan thăm viếng nhiều nước, kể cả thủ đô Hà Nội vào ngày 10 tháng Bảy, để trình bầy về chiến lược của Hoa Kỳ tại vùng châu Á – Thái Bình Dương, một trong những khu vực trọng yếu nhất của thế kỷ 21.
 
Vào những tuần lễ gần đây, trước khi bà tới Hà Nội, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã gia tăng vi phạm những nhân quyền căn bản của người dân Việt Nam. Những vi phạm này đi từ quấy nhiễu các bloggers đến việc dẹp bỏ các cuộc tụ họp ôn hòa. Những quyền này là những giá trị phổ quát đã được Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc theo đuổi để thăng tiến các cá nhân và cộng đồng trên toàn thế giới.
 
Để góp phần vào những cố gắng của bà, chúng tôi xin xác định rằng:
 
1. Người dân Việt Nam rất muốn đất nước chúng tôi trở thành đối tác chiến lược của Hoa Kỳ vì sự tái võ trang gây hấn của Trung Quốc và cuộc tranh chấp đang diễn ra tại Biển Đông. Tuy nhiên, để Hoa Kỳ có thể tạo được một sự hợp tác thực sự, lâu dài, an toàn, hòa bình và ổn định trong vùng này, bà nên tìm sự hợp tác với một Việt Nam tự do và dân chủ.
 
2. Dân chủ hóa Việt Nam không phải chỉ quan trọng cho chiến lược an ninh của Hoa Kỳ mà còn giúp cho Viêt Nam trong tương lai   trở thành  một quốc gia dân chủ mạnh và thịnh vượng trong vùng.
 
Hiện nay, Việt Nam vẫn còn theo chế độ độc đảng, trong đó không có phân quyền giữa các ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp. Đảng Cộng Sản Việt Nam kiểm soát chặt chẽ mọi cấp chính quyền, điều khiển Quốc Hội, can thiệp vào công việc của tòa án, hướng dẫn và theo dõi truyền thông đại chúng, và phủ nhận mọi nhân quyền căn bản của người dân Việt Nam.

Không có bầu cử tự do và công bằng, và cũng không có nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của hàng triệu công nhân người Việt. Người dân bất đồng ý kiến và phát biểu quan điểm của mình một cách ôn hòa bị bắt bỏ tù.
 
Đảng Cộng Sản Việt Nam và những đồng bọn ác độc tại địa phương cùng thân nhân của họ đã đưa Việt Nam tới bờ phá sản qua lãng phí và đầu tư không hiệu quả. Tài sản khổng lồ nằm trong tay một số nhỏ những kẻ cầm quyền tham nhũng, trong khi đại đa số dân chúng sống trong nghèo nàn; giá sinh hoạt tăng vọt – giá điện, nước, xăng dầu tăng lên từng ngày – tiền “đồng” Việt Nam mất giá trong khi tiền lương không tăng. Dân chúng, nhất là giới công nhân, phải lao động ngày đêm, mà vẫn không có được cuộc sống hẳn hoi. Rất nhiều người dân yêu nước đã lên tiếng đòi thay đổi để có dân chủ.
 
Thưa Ngoại Trưởng Clinton, theo chỗ tôi được biết, trước khi rời APEC để tham dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Bali, Indonesia vào tháng 11 năm ngoái, Tổng Thống Obama đã long trọng tuyên bố: “Như lịch sử đã chứng minh, qua tiến trình lâu dài, dân chủ và phát triển kinh tế đi đôi với nhau. Thịnh vượng mà không có tự do và dân chủ, chỉ là hình thức khác của nghèo khó”.

Trước lời tuyên bố đó, tại Trung Tâm Đông Tây ở Hawaii, bà cũng đặc biệt đề cập tới Việt Nam trong một diễn văn về chính sách đối với châu Á, khi nói rằng: “Chúng tôi đã nói rõ với Việt Nam rằng nếu Việt Nam muốn phát triển một mối liên hệ hợp tác chiến lược, Việt Nam  phài tăng thêm việc tôn trọng và bảo vệ nhân quyền của người dân”. Phụ Tá Ngoại Trưởng Kurt Campbell và vào tháng trước Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta và Phó Phụ Tá Ngoại Trưởng Andrew Shapiro cũng đã  nói rõ với Hà Nội các điều kiện này.
 
3. Dân chủ hóa Việt Nam vừa quan trọng cho việc tái cân bằng cho chiến lược Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương vừa là ước vọng lâu đời của nhân dân Việt Nam.
 
Trước sự thích hợp của các sự việc trong hiện tại, chúng tôi trân trọng đề nghị:
 
a) Tình trạng chính trị hiện thời ở Việt Nam là cơ hội bằng vàng để Hoa Kỳ bầy tỏ sự ủng hộ một chế độ chính trị cởi mở hơn. Nói rõ hơn, trước khi quá muộn, nhà cầm quyền Việt Nam nên đưa ra một thời biểu về một cuộc bầu cử tự do và công bằng dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc, đế nhân dân Việt Nam có thể bầy tỏ nguyện vọng của mình về việc chọn lựa một chế độ chính trị phù hợp cho đất nước.
 
b) Trở ngại chính trị lớn là điều 4 Hiến Pháp, quy định phi pháp vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Điều này phải loại bỏ để thiết lập một chế độ dân chủ pháp trị.
 
c) Nhà cầm quyền Việt Nam phải ngừng quấy nhiễu, bắt giữ và cầm tù những công dân phát biểu quan điểm của mình một cách ôn hòa. Họ phải thả tất cả tù nhân lương tâm, và chấm dứt đe dọa hoặc quấy nhiễu các cựu tù nhân chính trị.

d) Trong khi phải tập trung cố gắng vào việc đòi thả tất cả tù nhân chính trị, chúng ta cũng cần phải nỗ lực  đạt được  những tiến bộ có tính lâu dài, cụ thể và khả thi bằng cách khuyến khích sửa lại Bộ  hình luật. Ưu tiên là bỏ những điều như 79 (lật đổ chính quyền), điều 88 (tuyên truyền chống lại chính quyền), là những điều mơ hồ và không nói rõ lý do bắt giữ và bỏ tù những người vi phạm.

Nhà cầm quyền Việt Nam phải chấm dứt xâm phạm và khám nhà, cùng bắt người mà không có trát của tòa án. Chính quyền Hoa Kỳ, làm việc với các cơ quan quốc tế ngoài chính phủ (NGO), có thể giúp đỡ chính quyền Việt Nam tu chỉnh bộ hình luật và việc thi hành luật phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế để luật pháp không còn được dùng để trừng phạt những người hành xử nhân quyền của mình.
 
e) Nhà cầm quyền Việt Nam phải thực thi tự do tôn giáo, công nhận quyền tư hữu, và khuyến khích các nghiệp đoàn độc lập cũng như thương lượng tập thể.
 
Tôi vững tin rằng những người như chúng tôi đã mất tự do khi cuộc chiến chấm dứt vào năm 1975 cuối cùng có thể  đạt được thắng lợi trong việc bảo vệ  tự do và nhân phẩm, cũng như trong việc thành lập một liên minh vững mạnh cho an ninh thế giới để vượt qua bất cứ một đe dọa nào về quân sự.

Nhưng trước hết, chúng ta phải hoàn tất những đòi hỏi về cải tổ chính trị, khởi đầu bằng mối liên hệ tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và Đông Nam Á. Không phải bằng tạm thời ủng hộ độc tài, mà bằng gốc rễ sâu đậm của nền dân chủ mới. Tại Việt Nam, Cao Trào Nhân Bản của chúng tôi cam kết hoàn thành những mục tiêu dân chủ đó trong sự ủng hộ một Việt Nam kiên trì tại thời điểm trọng đại này.
 
Xin cám ơn bà rất nhiều,
Trân trọng kính chào bà.
 
Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế
Sáng lập và Chủ Tịch Cao Trào Nhân Bản tại Việt Nam
 
 
 







Honorable Hillary Clinton
Secretary of State
Department of State
2201 C Street NW
Washington, D.C.
The United States of America
 
Cc: President Barack Obama
      Secretary of Defense Leon Panetta
      Assistant Secretary of State Kurt Campbell
      Assistant Secretary of State Michael Posner
      Deputy Assistant Secretary of State Andrew Shapiro
      US Ambassador to Vietnam David Shear
 
July 8, 2012
 
Dear Madame Secretary,
 
The Vietnamese people are very pleased to know that you are visiting  many capitals including Hanoi on July 10, to justify the U.S. strategy in Asia – Pacific, one of the most critical areas of the 21st century.
 
In recent weeks,  before your visit  to Hanoi the Vietnamese communist authorities have increasingly violated the basic human rights of the Vietnamese people.  These violations range from harassing internet bloggers to dispersing peaceful gatherings. These rights are the universal values that the United States and United Nations are pursuing in order to empower individuals and communities throughout the world.  

In light of your efforts, we would like to assert that:
 
1/ The Vietnamese people very much wish for our country to become a strategic partner of the United States because of an aggressive remilitarized China and the ongoing East Sea dispute. However, in order for the United Stats to forge a true, long-term partner for security, peace and stability in this region, you would do well to seek a partnership with a free and democratic Vietnam.
 
2/ Democratization of Vietnam is not only important for the U.S. strategic security but also for the future of Vietnam as a strong and prosperous democratic country in the region.
 
Today, Vietnam is still under a one party system where there is no distinct separation of the executive, judiciary and legislative branches. The Vietnamese Communist Party (VCP) strictly controls the government at all levels, manipulates the National Assembly, intervenes into the court procedures, monitors the mass media, and deprives the Vietnamese people of all basic human rights. There are no free and fair elections, and no independent unions to protect millions of Vietnamese workers.  People who disagree and express their own opinions in a peaceful way are imprisoned.
 
The VCP and their cruel local cronies and relatives have driven Vietnam to the brink of bankruptcy through wasteful, inefficient investments.  Incredible wealth is in the hands of a small group of corrupt apparatchiks, while the majority of people live in poverty; the cost of living is soaring; the prices of electricity, water, and gasoline are rising day by day; the Vietnamese “dong” is losing its value while wages and salaries are stagnant. People, especially workers, have to toil night and day, yet cannot make a decent living. 
Many patriotic people are voicing for democratic change.
 
Secretary Clinton, as far as I know before leaving APEC to attend the ASEAN summit at Bali, Indonesia in November last year, President Obama solemnly declared: “As history has proven, through the long process, democracy and economic development are companions together.  Prosperity without freedom and democracy is just another form of poverty”. 

 Prior to that declaration, at the East West Center in Hawaii, you also specifically addressed Vietnam in a speech on Asia policy by saying:  “We made it clear to Vietnam that if we want to develop a relationship of strategic cooperation Vietnam should do more to respect and protect the rights of its citizens”. Assistant Secretary Kurt Campbell and last month the US Defense Minister Leon Panetta and Deputy Secretary Andrew Shapiro have also expressed those conditions to Hanoi.
 
3/ Democratization of VN is equally essential for rebalancing of U.S. strategy in Asia – Pacific and to our Vietnamese people’s long-term aspiration.
 
In light of the congruence of current events, we recommend the following:
 
          a.  The current political situation in Vietnam is a golden opportunity for the U.S. to express support for a more open political system.  Specifically, before it is too late, the Vietnamese government should adopt a timetable for a free & fair election under the supervision of the United Nations in which the Vietnamese people will be able to express their own will regarding their country’s political system.
 
          b.  The major political impediment is Article 4 of the Constitution, which imposes the illegal primacy of the VCP.  This article should be abolished in order to establish the rule of law.
 
           c. The Vietnamese government should cease harassment, arrest, and imprisonment of citizens who peacefully express their own opinions.  They should release all prisoners of conscience. The Vietnamese government should also stop threatening and harassing former imprisoned activists.
 
           d.  While our efforts should be concentrated on the release of all political prisoners, we should also thrive to achieve long-term, concrete, sustainable, verifiable progress by encouraging criminal code reform.  Priority should be made to abolish provisions such as Article 79 (trying to overthrow government) and Article 88 (Propaganda against government) which are vague and ill-defined reasons to arrest and imprison people.

The Vietnamese government should stop invading and searching homes, and arresting people without court orders. The U.S. government, working with international NGOs, can help the Government of Vietnam (GVN)  bring its criminal code and practices into conformity with international standards so that laws are not used to punish people for exercising their human rights.
 
          e. The GVN should implement freedom of religion, recognize private property and encourage independent labour unions and collective bargains.
 
I am confident that we who lost freedom when the past war ended in 1975 can finally achieve the triumph of freedom and human dignity, as well as a strong alliance for international security to overcome any emerging military threat. But first we must accomplish the required political reforms, starting with  the good relationship between the U.S. and South East Asia.  Not in temporary support of dictatorships, but with deep roots in new democracies.  In Vietnam, our Non-Violent Movement For Human Rights is committed to achieving these democratic goals in support of a resilient Vietnam  at this momentous time.
 
Thank you very much for your consideration.
 
Respectfully yours,

 
Dr Nguyen Dan Que
Founder & Chairman of The Non-Violent Movement in Vietnam

Physician Nguyen Dan Que has spent 20 years in jail for complaining about the Vietnamese government's health care policies, and founding a human rights organization.Physician Nguyen Dan Que has spent 20 years in jail for complaining about the Vietnamese government's health care policies, and founding a human rights organization.

Nguyen Dan Que was first arrested in 1978 while working as doctor at the Cho-Ray Hospital in Ho Chi Minh City. He complained about the government's health care policies, and spent ten years in prison for it. After his release, Nguyen founded a human rights organization, issued a manifesto — and received eight more years in jail.

Now, after three arrests and 20 years in prison, Nguyen is officially free. Except that there are six guards stationed outside his house, his medical licence has been revoked, his Internet access is blocked, his telephone has been cut off, his mail is monitored and some visitors to his home have been threatened with losing their jobs, says Nguyen's brother Quan Quoc, a doctor living in Virginia. "There's no indication of when this will end," says Quan Quoc
._,_.___

Tình Người Muôn Vàn 

 

Bút ký của Đoàn Thanh Liêm

Thời gian gần đây, tôi được đọc một số bài của nhà văn Tràm Cà Mau và lấy làm thích thú được biết rằng : Tác giả dù bị đau bệnh nhiều mà vẫn cung cấp cho độc giả những bài viết đày tính cách lạc quan khích lệ - có tác dụng nâng cao trí óc và tâm hồn chúng ta (uplifting). Những bài viết như thế đó rõ ràng biểu lộ một sự suy nghĩ tích cực - mà người Mỹ gọi là "Positive Thinking" - như đã được trình bày trong một cuốn sách nổi tiếng của tác giả Norman Vincent Peale phổ biến từ thập niên 1950 (The Power of Positive Thinking).


Trong bài viết mới đây nhất phổ biến vào đầu tháng Bảy năm 2012, nhan đề là " Ơn Đời Chứa Chan ", ở đọan kết luận - tác giả Tràm Cà Mau đã trưng dẫn lời biện bạch của nhân vật lớn tuổi là ông Tư đại khái như sau : Ông đang được hưởng nhiều phước hạnh do Trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân lọai xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè... Và ông Tư thấy tội nghiệp cho những người "nắng không ưa, mưa không chịu", luôn luôn bi quan bất mãn và tự làm khổ cho chính bản thân mình...


Chính vì tâm đắc với nội dung của bài "Ơn Đời Chứa Chan" nói trên của tác giả Tràm Cà Mau, mà tôi xin ghi lại những sự việc mình đã đích thân chứng kiến có liên hệ đến chuyện ân nghĩa trên đời qua bài viết này với nhan đề : "Tình Người Muôn Vàn".

 

I - Trước hết là câu chuyện xung quanh Nạn Đói năm Ất Dậu 1945 tại làng quê tôi.


Đầu năm 1945, tại vùng đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc quê hương tôi đã xảy ra nạn đói khủng khiếp gây ra cái chết thảm thương cho đến mấy triệu nạn nhân. Cụ thể trong làng tôi thuộc xã Cát Xuyên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, thì có đến 30% dân làng bị thiệt mạng - trong đó có rất nhiều bà con và bạn hữu gần gũi của tôi, điển hình là chú ĐòanĐức Thiêm là người em út của bố tôi. Vì đói, nên chú Thiêm phải bỏ nhà ra đi biệt tăm mất dạng và đã bỏ xác nơi đâu - mà không một ai trong dòng họ biết đích xác được là chú mất ở đâu, vào ngày giờ nào nữa.


Ngay trong nhà tôi, thì nhiều khi bố mẹ tôi cũng phải cho nấu gạo độn thêm với khoai sắn hay với cám - để dành ra chút ít gạo nhằm cứu trợ cho bà con trong làng. Mẹ tôi bảo : Mình bớt ăn nhịn tiêu đi, để mà “nhường cơm sẻ áo” cho người đang thiếu thốn, thì điều đó mới đích thực có ý nghĩa cao quý.


Đặc biệt là ông bố tôi đã ra tay tổ chức chôn cất cho những người chết đói bỏ xác "vô thừa nhận" tại khu chợ Cát trong làng. Ông cụ phải cho một người trai trẻ ăn no để anh còn có sức phụ giúp ông khiêng xác chết đem ra chôn ngòai nghĩa địa - nơi huyệt mộ cả hai người vừa mới hì hục đào lên.

Việc ông cụ tự nguyện đứng ra "chôn xác kẻ chết" như thế đã được bà con trong làng đánh giá cao, họ gọi đó là thể hiện cái tình "nghĩa tử là nghĩa tận". Và sau đó Tòa Giám mục Công giáo ở Bùi chu đã cấp cho ông cụ một tấm bằng khen ngợi công việc bác ái này của cụ.


Chuyện bố mẹ tôi nêu tấm gương từ thiện bác ái như thế giữa lúc bà con bị khốn khổ vì nạn đói năm Ất Dậu 1945 đen tối thảm hại đó - quả thật đã ảnh hưởng sâu sắc đến anh chị em chúng tôi trong gia đình. Và điều đó sau này cũng thúc đảy tôi nhập cuộc cùng với các bạn đồng trang lứa ở vào tuổi trưởng thành - để dấn thân hết mình với công tác xã hội tại miền Nam Việt nam - nhằm cứu trợ những nạn nhân chiến cuộc giữa thời kỳ chiến tranh tàn khốc vào hồi thập niên 1960 - 70.


Rồi bây giờ đến lượt thế hệ thứ ba là các cháu nội ngọai của bố mẹ tôi, thì dù tất cả đều sinh sống trên đất Mỹ - các cháu cũng tham gia rất hăng say với công việc từ thiện nhân đạo tại Việt nam - cụ thể là thông qua các tổ chức Hope Today và SAP VN (Social Assistance Program).

 

II - Kỷ niệm về một số bạn hữu đã khuất bóng.


Khi từ miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954, thì tôi đã đến tuổi 20 và theo học tại trường Luật ở Saigon. Vào năm 1956, tôi cư ngụ tại cư xá sinh viên có tên là Câu lạc bộ Phục Hưng trên đường Nguyễn Thông gần với bệnh viện Saint Paul. Tại cư xá do mấy linh mục thuộc dòng Đa minh tổ chức này, tôi được gặp rất nhiều bạn có tinh thần hăng say với công tác xã hội và chúng tôi rủ nhau tình nguyện tham gia những việc làm cụ thể có ích cho đồng bào, điển hình như đến thăm viếng những trẻ em mồ côi ở các cô nhi viện, cứu trợ nạn nhân bão lụt, hỏa họan v.v...

Sau đó, thì các bạn lại lôi cuốn tôi tham gia sinh họat với Nhóm Thanh niên Thiện chí với những cuộc cắm trại kèm theo công tác phục vụ đồng bào ở địa phương - mà tiếng Mỹ gọi là "Work Camp". Rồi kể từ năm 1965, một số anh chị em chúng tôi đã hợp nhau thành lập một Chương trình Phát triển Cộng đồng tại địa phương các Quận 6, 7 và 8 Saigon. Rồi cũng qua những công tác xã hội như thế, tôi quen biết thêm được với nhiều người bạn người Việt cũng như người ngọai quốc - mà cùng có sự đồng cảm với mình trước nỗi khổ đau quá lớn lao của vô số những nạn nhân chiến cuộc.

Những bạn hữu này xuất thân từ nhiều quốc gia khác nhau với niềm tin tôn giáo khác nhau, và cũng khác nhau cả về mặt chính kiến nữa. Nhưng mà tất cả chúng tôi đều có một mẫu số chung, đó là cùng nhau ra sức phục vụ đồng bào Việt nam mình đang lâm vào hòan cảnh khó khăn bế tắc ngặt nghèo.

Dưới đây, tôi xin đơn cử trường hợp của một số bạn hữu thân thương mà tôi có duyên quen biết qua một số công việc cùng theo đuổi chung với nhau. Các bạn này đều đã qua đời từ ít lâu nay.

 

1 – Anh Nguyễn Đức Nhuần, sinh viên Dược khoa.


Anh Nhuần quen biết với tôi từ hồi còn học ở ngòai Bắc và sau này lại ở chung với nhau tại cư xá Phục Hưng Saigon từ năm 1956. Anh tham gia sinh họat với Nhóm Thanh Lao Công (JOC = Jeunesse Ouvrìere Catholique) từ hồi còn ở Hanoi cùng với các anh Nguyễn Đức Phong, Nguyễn Quang Hồ…Trong thời gian ở Phục Hưng, anh Nhuần có nhờ tôi dịch một vài tài liệu bằng tiếng Pháp để đăng trong nội san của Nhóm. Nhưng chẳng bao lâu sau, anh bị đau bệnh phổi và qua đời vào đầu năm 1957 tại nhà thương Saint Paul trước sự thương tiếc của số đông sinh viên chúng tôi trong cư xá.

Qua anh Nhuần, tôi có dịp tìm hiểu thêm về sinh họat của Phong trào Thanh Lao Công trên thế giới, đặc biết là các bài viết của vị Sáng lập của JOC, đó là Linh mục Joseph Cardijn người Bỉ. Ông khuyên các đòan viên JOC là phải thực hiện cả 3 việc, đó là : Xem – Xét – Làm (Voir – Juger – Agir) trong mọi hành động nhằm nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của giới lao động nghèo khổ bần cùng.

Và tôi thật cảm kích trước tấm gương nhập cuộc của bà Simone Weil là một giáo sư về môn Triết học - mà lại đi làm một công nhân tại hãng chế tạo xe hơi Renault - để cùng chia sẻ nỗi vất vả cơ cực của giới lao động thời trước đệ nhị thế chiến. Simone Weil là bạn học cùng lớp với Simone de Beauvoir người bạn đời nổi danh của Jean Paul Sartre ấy.

Người sau này cũng có lý tưởng phục vụ giới lao động như anh Nhuần, đó là anh Nguyễn Văn Tánh hiện cũng ở Bruxelles nước Bỉ. Anh Tánh vừa được bàu vào chức vụ Chủ tịch Ủy Ban Bảo vệ Lao động trong kỳ Đại hội tại Washington DC vào cuối tháng 6 năm 2012 này, mặc dù anh đã ngòai 80 tuổi rồi.

 

2 – Chị Phạm Thị Thân, sinh viên Nha khoa.


Từ năm 1957, qua sự giới thiệu của anh bạn Bùi Minh Đức sinh viên Y khoa, tôi bắt đầu sinh họat với Nhóm Thanh niên Thiện chí lúc mới còn phôi thai chỉ có chừng vài chục sinh viên. Trong Nhóm này, người họat động kiên trì bền bỉ nhất phải kể đến chị Phạm Thị Thân. Đó là người mà từ khi còn là một nữ sinh ở ngòai Hanoi thì đã là một đòan viên nòng cốt của Phong trào Nữ Hướng Đạo Việt nam. Sau khi đi du học ở Mỹ về, thì chị Thân đã góp phần quan trọng vào việc phát triển Phong trào Thanh niên Thiện chí ở Việt nam song song với nhiệm vụ của một Tổng Ủy Viên  của Nữ Hướng Đạo.

Vì không bận rộn với chuyện gia đình riêng tư, nên chị đã dành tòan thời gian ngòai việc dậy học tại Đại học Nha khoa cho cả hai tổ chức Nữ Hướng Đạo và Thanh niên Thiện chí này. Chị Thân đã qua đời tại Mỹ vào năm 2007 ở tuổi 75. Trước năm đó, thì cũng đã có nhiều huynh trưởng của Phong trào Thanh Thiếu niên ở miền Nam trước năm 1975 đã ra đi, điển hình như các bạn Trần Đại Lộc, Lê Đình Điểu, Trần Huy Phong, Nguyễn Hữu An, Ngô Mạnh Thu, Đỗ Ngọc Yến... Và gần đây vào năm 2010 - 2011 là Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Đức Quang...

Chị Thân cũng như các bạn nói trên là những nhân vật tiêu biểu cho thế hệ những người trẻ đã dấn thân tích cực trong việc phục vụ nhân quần xã hội tại Việt nam giữa thời kỳ chiến tranh khói lửa khốc liệt trong các thập niên 1960 – 70. Họ đích thực là những đại diện xuất sắc của khu vực Xã Hội Dân Sự tại miền Nam vậy.

 

3 – Anh Gene Stoltzfus của Đoàn Xây Dựng Hòa Bình Thiên Chúa Giáo  (CPT = Christian Peacemaker Team).


Gene Stoltzfus đã từng là một đòan viên của tổ chức Thanh Niên Chí Nguyện Quốc Tế họat động tại Việt nam hồi đầu thập niên 1960. ( IVS = International Voluntary Services). Sau đó, anh trở về Mỹ và đi học thêm về môn Á châu học (Asian Studies) và Thần học. Năm 1988, Gene cùng các bạn đứng ra thành lập tổ chức "Đòan Xây Dựng Hòa Bình Thiên Chúa Giáo" (CPT) gồm những thiện nguyện viên đi đến những vùng có nguy cơ xung đột bạo động để tìm cách thuyết phục hai bên đối nghịch dàn xếp các mâu thuẫn tranh chấp bằng sự thương lượng và thỏa hiệp với nhau (compromise) thay vì sử dụng bạo lực chém giết lẫn nhau. Các bạn tình nguyện trong CPT này thực hành đúng theo lời giáo huấn được ghi rõ trong cuốn Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo, đó là : "Phúc thay cho những kẻ làm cho người hòa thuận" (Blessed are the Peacemakers).

Các đòan viên này phải đối đầu với sự nghi kỵ căng thẳng từ cả hai phía, nên chịu áp lực rất nguy hiểm, đến nỗi có người bị sát hại giữa lúc tìm cách giàn xếp cuộc tranh chấp ở địa phương. Tổ chức CPT được một số tôn giáo yểm trợ về tài chánh cũng như về tinh thần, nhưng họ lại không chủ trương đi truyền đạo như các giáo sĩ.

Tôi có dịp gặp lại Gene vào năm 2008 tại trụ sở của cơ quan xã hội trung ương của giáo hội Mennonite (MCC = Mennonite Central Committee) tại thành phố Akron trong khu vực Lancaster tiểu bang Pennsylvania. Lúc đó, anh đã về nghỉ hưu và sinh sống với gia đình ở Canada. Nhưng vào năm 2010, Gene đã qua đời vì bệnh tim ở vào tuổi 70 (1940 – 2010). Geneđã để lại thương tiếc cho bao nhiêu bạn hữu vốn hằng quý mến và khâm phục tinh thần hăng say của anh trong công cuộc xây dựng hòa bình tại nhiều nơi trên thế giới.

 

4 – Anh Vũ Lục Thủy, nhà biên khảo về văn học và lịch sử.


Anh Vũ Lục Thủy tên thật là Vũ Năng Phương quê quán tại làng Lục Thủy huyên Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Anh có niềm say mê với sách vở ngay từ thời còn nhỏ tuổi, lúc mới chập chững vào lớp trung học. Vào những năm 1951 - 52, tôi thường có dịp đến chơi với Phương ở nhà của cha mẹ anh tại làng Lục Thủy.

Bạn bè học cùng lớp với anh tại trung học Chu Văn An Saigon như các anh Trần Huy Bích, Hà Mai Phương cũng là những nhà nghiên cứu có tiếng tăm, thì đều quý mến và đánh giá cao công trình biên khảo của Vũ Lục Thủy. Mà các bậc trưởng thượng về văn học như cụ Nguyễn Khắc Kham, Tăng Xuân An, Nguyễn Đình Hòa, thì đều mến mộ anh và gọi anh là “Tiên sinh”. Bác sĩ Phạm Hữu Trác ở Canada là bạn học cùng quê thì cho biết là : "Vào những năm đầu thập niên 1980, Phương hay nhờ tôi mua giùm một số sách xuất bản ở trong nước mà chỉ ở Canada mới có bán, vì nước này có giao thương với Hanoi – trong khi ở Mỹ thì vẫn còn áp dụng lệnh cấm vận đối với Việt nam..." Với niềm say mê tìm tòi nghiên cứu trong nhiều năm tháng, anh bạn Vũ Lục Thủy đã cho phổ biến được nhiều bài viết rất có giá trị về lịch sử và văn học mà được các học giả và công chúng đánh giá cao.

Nhưng không may, Vũ Lục Thủy đã đột ngột qua đời ở San Diego California vào mùa hè năm 2001 lúc mới ở tuổi 65 – 66. Thật là sự mất mát lớn cho giới nghiên cứu biên khảo của Việt nam vậy.

 

*  *  *

 

Trên đây, tôi chỉ trưng dẫn một số trường hợp điển hình về hành động của các nhân vật là cha mẹ, là bạn hữu thân thiết của tôi. Những việc làm của họ rõ ràng là xuất phát từ tấm lòng yêu thương đồng lọai, quý trọng sự sống con người, yêu mến văn hóa dân tộc. Dù tất cả họ chẳng phải là những nhân vật kiệt xuất hay vĩ nhân anh hùng gì - thì trong phạm vi khả năng gii hạn của mỗi người, họ cũng đã cố gắng đóng góp thật đáng kể cho sự an vui của nhân quần xã hội. Tôi thật biết ơn vì tấm gương tốt đẹp sáng ngời như thế của cha mẹ cũng như của các bạn hữu thân thương đã để lại cho bản thân mình từ suốt bao nhiêu năm qua.

Và như tôi đã có lần nhắc đến : Tôi thật tâm đắc với câu trong bài hát của nhạc sĩ Trầm tử Thiêng : “Tạ Ơn Trên : Người Vẫn Thương Người “. Bài viết đơn sơ mộc mạc này là một minh họa cho cái tấm lòng nhân ái bao la rộng mở của rất nhiều bà con trong thế hệ chúng ta ngày nay vậy.

Một lần nữa, tôi xin cảm ơn nhà văn Tràm Cà Mau - vì bài “ Ơn Đời Chứa Chan” của ông đã tạo hứng khởi cho tôi để viết thành bài “ Tình Người Muôn Vàn “ này đây./

Costa Mesa,
California ngày 5 tháng Tám n
ăm 2012

Đoàn Thanh Liêm


VNCS: Chết Mất Đất, Khô Nước
 
Vi Anh
 
Việt Nam chết mất đất, chết khô nước, tại ai? Xin thưa ngay, tại CS Hà nội.

Trung Cộng lại đã làm và hồi đầu tháng 9/2012 đã khởi động thêm một đập thủy điện nữa ở đầu nguồn sông Cửu Long: Đập Nọa Trác Độ (Nuozhadu) khổng lồ. Thế mà tại hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương APEC ở Vladivostok (Nga) ngày 07/09 vừa qua, ông Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nước VNCS, chỉ nói bâng quơ, không dám nêu đích danh nước nào, than phiền: «Tình trạng xây đập, điều chỉnh dòng nước chảy xuống hạ lưu của một số nước ở thượng nguồn là vấn đề gây quan ngại cho nhiều quốc gia, tiềm ẩn tác động quan hệ giữa các nước liên quan».

Nhưng Ô Trương tấn Sang làm gì khác hơn được khi những người cầm quyền CS Hà nội trước đây đã có những quyết định ngoại giao sai lầm “gây hậu quả nghiệm trọng” cho quốc gia dân tộc VN, đã tự thủ tiêu quyền phủ quyết của nước VN trong vấn đề sông Mekong.


Làm thầy thuốc trật hại một người, làm thầy giáo trật hại một lớp; làm chánh trị trật hại một quốc gia dân tộc. Với độ lùi thời gian khá đủ, với Hoàng Sa Trường Sa đã mất vào tay Trung Cộng, đã cũng khá đủ để cho người Việt ở Bắc, ở Nam, ở Trung và ở hải ngoại thấy: CS Hà nội là những người làm chánh trị trật, hại cả quốc gia dân tộc Việt Nam.


Chưa hết đâu, VN còn sắp chết khô nước nữa vì CS Hà nội. Các nước thượng nguồn Sông Cửu Long, Trung Cộng, Miến Điện, Lào và Thái Lan đã, đang, và sẽ đua nhau xây đập thủy điện, chận bớt dòng chảy và nguồn nước vào Đồng Bằng Sông Cửu Long ở Nam Việt hạ nguồn bị nhiễm mặn, lừng phèn, mất phù sa của vựa lúa của cả nước VN.


Nếu Thủ Tướng Phạm văn Đồng của CS Bắc Việt năm 1958 nhơn danh Đảng Nhà Nước CS ở Miền Bắc đã ký và gởi công hàm cho Thủ Tướng Chu ân Lai của TC, thừa nhận lãnh hải của TC bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tức hai đảo này là lãnh thổ của TC, là làm một hành động chánh trị có tội động trời đối với quốc gia dân tộc Việt Nam, thì việc làm của Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn mạnh Cầm của VNCS vào năm 1995 còn làm một tội động đất khi đặt bút ký tên gia nhập và thừa nhận hiến chương mới của Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commmission) và đặt văn phòng chi nhánh ở Hà nội.


Tổ chức và hiến chương mới này bãi bỏ tổ chức cũ là Ủy ban Sông Mekong (Mekong River Committee) mà VN Cộng Hoà là thành viên có văn phòng chi nhánh đặt ở Saigon. Ủy hội mới, hiến chương mới của Ủy Hội Sông Mekong do Ô Nguyễn mạnh Cầm ký thủ tiêu thẩm quyền phủ quyết của quốc gia dân tộc Việt Nam là một quốc gia có vùng trù phú nhứt, vựa lúa của cả nước là Đồng Bắng Sông Cửu Long nằm ở hạ lưu vực, hạ nguồn sông Mekong.


Việt Nam không có quyền phủ quyết ấy thì Việt Nam không thể ngăn cản các nước xây đập ở thượng nguồn, ngăn chận dòng nước tưới và phù sa bón cho Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đó là chưa nói việc ngăn chận nguồn thủy sản nước ngọt là món ăn căn bản của người dân Miền Nam.


Việt Nam Cộng Hòa thấu triệt sâu sắc điều kiện sanh tử đó nên quyết liệt đòi hỏi, bảo lưu, hành sử liên tục quyền phủ quyết qui định trong hiến chương của Ủy ban Sông Mekong. VNCH làm chánh trị với cố gắng và quyết tâm cao nhứt, làm tất cả những gì có thể làm được và không từ bỏ cơ hội nào để bảo lưu quyền phủ quyết đó trên phương diện chánh trị quốc tế.


Cũng như VNCH năm 1974 điều quân ra chống TC xâm chiếm Hoàng sa, Trường sa ngay khi Mỹ rút quân, biết đi là tử chiến nhưng vẫn đi để không hỗ thẹn với tiền nhân, để tạo chứng tích quốc tế cho con cháu sau này đòi lại chủ quyền.


Còn sông Mekong, nếu VN không phủ quyết được thì các nước ở thượng nguồn sẽ xây đập thủy điện hưởng lợi, mà cái lợi đó là điều hại lớn cho Đồng Bằng Sông Cửu Long của VN.


Còn chế độ CS Hà nội coi việc được gia nhập vào Uỷ Ban đánh bóng cho chế độ và Đảng Nhà Nước CS cao hơn quyền lợi quốc gia dân tộc; nên Ngoại Trưởng Nguyễn mạnh Cầm đặt bút ký tỉnh bơ, dễ ợt, gián tiếp thủ tiêu quyền phủ quyết sanh tử này của quốc gia dân tộc Việt Nam. Bây giờ CS Hà nội muốn gỡ coi như vô kế khả thi. Chỉ có Việt Nam là nước hạ nguồn chịu thiệt trong việc các nước thượng nguồn có lợi khi xây đập thủy điện, Các nước TC, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Miên, có lợi đâu bao giờ giúp Việt Nam.

Còn việc Việt Nam chết mất đất, mất biển, mất hải đảo với Trung Cộng do công hàm bán nước của Ô. Phạm văn Đồng, CS Hà nội cũng không có cách gỡ. Trước chấn động do Quốc Vụ Viện TC sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thành quận huyện của TC, những người cầm đầu Đảng Nhà Nước CS câm như hến. Phát ngôn viên ngoại giao chỉ ú ớ, cho lấy có, chiếu lệ. Thanh niên sinh viên biểu tình, TC mới nguýt một cái, hé môi một tiếng bảo “định hướng” dư luận thì công an CS Hà nội công khai, chánh thức, mau mau, mạnh bạo cấm biểu tình. Chưa đủ. Công an còn đến gia đình, học đường phải ngăn chận và bắt cóc người biểu tình nữa.


Còn nhờ công lý và luật pháp quốc tế thì vô phương. Những lời tuyên bố của Bộ Trưởng Ung văn Khiêm xác nhận hai đảo thuộc Trung Quốc từ thời Nhà Tống bên Tàu. Công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng, và có thể còn nhiều mật ước mà CS Hà nội đã ký hay hứa với TC mà còn giấu kín như bưng là những thứ hiệp ước giữa TC và VC, có giá trị luật pháp đối với Đảng Nhà Nước CS hai nước. Các nước lân cận như Đài Loan, Phi luật Tân, Mã lai, Nam Dương, Brunei có tranh chấp chủ quyền trong vùng này cũng không có quyền lợi gì để tiếp tay Việt Nam vì họ biết hai đảo ấy thực sự là của Việt Nam. Chế độ CS Hà nội làm chánh trị trật thì ráng mà chịu, hà cớ gì họ xen vào.


Còn CS Hà nội muốn dựa vào thế nhân dân Việt Nam, hy vọng này càng mong manh hơn. Sau nửa thế kỷ thống trị ở Miền Bắc, một phần ba thế kỷ thống trị ở Miền Nam, CS Hà nội đã quá xa rời quần chúng khó mà huy động được. Còn quần chúng đã quá chán nản, bất mãn Đảng Nhà Nước CS Hà nội độc tài đảng trị quá rồi, nên CS Hà nội không dám huy động nội lực sợ gậy ông đập lưng ông. Nên còn CS Hà nội làm quốc gia dân tộc Việt Nam còn chết mất đất, chết khô nước.


Chỉ có thế cứu vãn được tai họa mất Hoàng Sa, Trường Sa; chỉ có thể cứu vãn tai họa Sông Cửu Long cạn dòng, Đồng Bắng Sông Cửu Long khô cằn, nhiễm mặn, mùa màng thất bát, với một chánh quyền mới. Chánh quyền mới có thể phủ nhận mọi hứa hẹn, công hàm, qui ước mà CS Hà nội đã hứa và ký kết với TC và các nước thượng nguồn. Đó là những văn kiện hà tì về hình thức, bất bình đẳng về nội dung. Một vấn đề trọng đại thuộc chủ quyền lãnh thổ quốc gia mà CS không đưa ra Quốc Hội phê chuẩn, không đưa ra trưng cầu dân ý chiếu tinh lý pháp luật phổ quát đòi hỏi phải làm. Một vấn đề trọng đại liên quan đến lãnh hải, dính líu đến luật biển quốc tế mà CS không đăng bộ công khai với quốc tế là Liên Hiệp Quốc thì không có giá trị thi hành với quốc tế. Việc Ông Phạm văn Đồng, Ông Ung văn Khiêm đã làm ở mức độ pháp lý hình thức nào đó chỉ là những hành vi chánh phủ. Chánh quyền mới có đầy đủ tư cách, thẩm quyền phủ nhận coi như không hề có. Và từ đó mới có thể đặt vấn đề đòi lại bằng nhiều cách thức và đường lối.

 

Giới thiệu sách mới :

Người Quốc gia trong chiến tranh Việt nam

Hồi ký của Nguyễn Công Luận

 

Nguyên tác tiếng Anh : “ Nationalist in the Viet Nam Wars

*Memoirs of A Victim turned Soldier “

by Nguyễn Công Luận

Do Indiana University Press xuất bản tại Mỹ năm 2012

Sách có thể đặt mua qua Email : iuporder@indiana.edu

Qua Bưu điện : Indiana University Press, 601 North Morton Street Bloomington, Indiana 47404 - 3796

Hay Nhà sách website Amazon.com

Cũng có thể xem các bài nhận định của độc giả :

www.amazon.com/Nationalist-Viet-Nam-Wars-

Memoirs/dp/0253356873/ref=rhf se p t 1

 

* * *

 

Bài viết của Đoàn Thanh Liêm

 

Tôi đã đọc khá nhiều cuốn hồi ký và tiểu sử của những nhân vật Việt nam cũng như ngọai quốc. Phần nhiều đây là những cuốn sách rất có giá trị, nó giúp cho người đọc hiểu biết rõ ràng hơn về các nhân vật lịch sử trong bối cảnh văn hóa xã hội đương thời. Nhưng cuốn Hồi ký của tác giả Nguyễn Công Luận này, thì mới làm cho tôi say sưa theo dõi và đặc biệt chú ý đến – bởi lý do đơn giản là tập sách này viết về Người và Việc tại Việt nam giữa cái thời kỳ mà chính bản thân tôi đã trải qua và cũng chứng kiến gần như y hệt tác giả - đặc biệt là tại tỉnh Nam Định ở miền Bắc hồi trước năm 1954.

Tác giả lại trực tiếp viết bằng tiếng Anh và cuốn sách còn được nhà xuất bản của một Đại học danh tiếng là Indiana University Press đứng ra nhận ấn hành - thì đây rõ rệt là một công trình không phải bất kỳ người viết nào cũng đạt tới được. Mà còn hơn thế nữa, cuốn sách lại được nhiều giới thức giả người Việt cũng như Mỹ nhiệt liệt khen ngợi và giới thiệu - thì đó cũng là một biểu lộ để chúng ta có thể tin tưởng được giá trị của cuốn sách dài đến gần 600 trang với khổ chữ nhỏ cỡ 11.

Ngay trong Lời tựa, tác giả đã khiêm tốn viết rằng mình chỉ là một thứ “vô danh tiểu tốt ở Việt nam” (I was just a nobody in Việt nam), và không có công trạng gì lớn lao để mà khoe khoang – mà cũng chẳng có làm điều chi tệ lậu để mà phải viết sách viết báo tìm cách biện bạch “thanh minh thanh nga”. Nhưng trong suốt cuốn sách, ông Luận đã trình bày hết sức trung thực về những điều tai nghe mắt thấy và những nhận định của riêng cá nhân mình – với lập trường kiên định của một người quốc gia chân chính mà là nạn nhân trực tiếp của chính sách độc tài hiểm ác và gian trá của đảng cộng sản ở Việt nam.

Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, tôi xin tóm tắt về Tiểu sử tác giả - như được ghi lại rải rác nơi những trang trong cuốn Hồi ký - rồi sẽ trình bày chi tiết hơn về các mục đáng chú ý nhất trong cuốn sách này.

 

I – Tiểu sử tác giả Nguyễn Công Luận

 

Ông Luận sinh năm 1937 tại một làng miền quê gần với thị xã Nam Định. Thân phụ là người đã từng tham gia sinh họat trong hàng ngũ Quốc Dân Đảng, nên đã bị Việt minh cộng sản bắt giữ vào năm 1948 và bị mất ở trong trại tù Lý Bá Sơ vào năm 1950. Ông trải qua cả một thời thơ ấu tại quê nhà và trực tiếp vừa là người chứng kiến – vừa là nạn nhân của cảnh người dân chịu đựng cái ách “một cổ hai tròng” giữa nạn độc tài sắt máu của phe Việt minh cộng sản và sự cướp bóc tàn phá của thực dân Pháp trong suốt cuộc chiến kéo dài đến 8 năm 1946 – 1954.

Vào năm 1954, ông cùng bà mẹ và hai cô em di cư vào miền Nam. Trong khi bà nội vì già yếu và ông bác phải ở lại miền Bắc, thì lại bị đem ra đấu tố trong đợt cải cách ruộng đất - khiến cho ông bác vì bị phẫn uất quá trên đường bị dẫn giải đến trại giam, nên đã liều mình ôm lựu đạn cùng chết với bộ đội canh giữ. Và bà nội thì bị trục xuất ra khỏi nhà và bị đày đọa cho đến lúc chết trong cảnh cô đơn khốn khổ.Thành ra cả gia đình đều là nạn nhân của sự đàn áp man rợ của người cộng sản tại miền Bắc.

 

Theo gương thân phụ, ngay từ hồi còn là một học sinh ở vào tuổi 13 - 14 tuổi, cậu Luận đã mau sớm họp với một số bạn cùng lứa tuổi để tham gia sinh họat thành từng nhóm học sinh quốc gia – vừa chống Pháp vừa chống Việt minh ngay tại thành phố Nam Định. Vào miền Nam, lúc vừa đủ 18 tuổi, cậu Luận đã tình nguyện gia nhập khóa 12 Sĩ quan Trường Võ Bị Quốc gia ở Đà lạt. Và sau khi tốt nghiệp ra trường vào cuối năm 1956, thì ông còn được cử đi học thêm tại Trường Bô Binh Hoa kỳ Fort Benning trong tiểu bang Georgia.

 

Năm 1974, ông Luận lại được cử đi học tiếp ở Fort Benning và đã đậu hạng 10/195 trong kỳ thi tốt nghiệp với sự khen ngợi đặc biệt của Trung Tướng Chỉ huy trưởng và Bộ Chỉ Huy trường Bộ Binh. Là người có ý chí cầu tiến, ông Luận còn theo học tại trường Luật ở Saigon và đã tốt nghiệp văn bằng Cử nhân Luật khoa, Ban Tư pháp.

Trong gần 20 năm sinh họat trong quân ngũ, ông Luận đã lần lượt phục vụ tại Sư đòan 22 Bộ Binh ở vùng Cao nguyên (từ 1959 đến 1965), sau đó chuyển về làm Giám đốc Nha Tiếp nhận của Bộ Chiêu hồi ở Saigon (từ 1967 đến 1970) và cuối cùng tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị (từ 1970 đến 1975).

 

Sau khi chế độ miền Nam xụp đổ, cũng như nhiều sĩ quan khác thiếu tá Luận phải đi tù “cải tạo” tất cả đến gần 7 năm, kể cả nơi trại tù ở ngòai miền Bắc. Năm 1982, ông Luận được trả tự do và sinh sống bằng cách dậy Anh văn cho đến khi cùng gia đình qua định cư ở Mỹ vào năm 1990. Hiện ông bà Luận và tất cả bốn người con đều đả trưởng thành đang định cư tại thành phố San Jose ở miền Bắc California.

 

Trong những năm gần đây, dù bị đau bệnh nhiều do tuổi già sức yếu, ông Luận vẫn kiên trì tham gia góp phần trình bày với công chúng qua nhiều bài báo Việt ngữ cũng như Anh ngữ và đặc biệt ông còn là Phụ tá chủ bút cho bộ sách The Encyclopedia of the Vietnam War nữa. Và cuốn Hồi ký được giới thiệu ở đây chính là một công trình thật lớn lao của một cựu sĩ quan trong hàng ngũ Quân đội Việt nam Cộng hòa vậy.

 

II – Lược qua sự đánh giá về tác phẩm của một số thức giả Việt và Mỹ.

 

Trước khi trình bày nhận định riêng của mình về tác phẩm, tôi xin trích thuật lại ý kiến của một số thức giả về cuốn sách như sau đây :

 

1 – Nhà văn Mạc Giao, chủ bút tạp chí Diễn Đàn Giáo Dân xuất bản ở California đã viết trong bài Giới thiệu khá dài được đăng trong số báo tháng 10/2012 ở đọan cuối như sau : … “ Chúng ta nhìn thấy hình ảnh của mình trong hình ảnh của Nguyễn Công Luận, bắt gặp hòan cảnh của mình đã sống trong hòan cảnh Nguyễn Công Luận tả trong sách. (Đây là) một cuốn sách rất đáng đọc, đáng được giới thiệu cho bạn bè ngọai quốc, nhất là cho những người trẻ Việt Nam để họ hiểu được, thấy được những lầm than, nỗ lực và hy sinh của thế hệ cha anh cho đất nước và cho chính họ.”

 

2 – Thiếu Tướng David T. Zabecky viết trong Lời nói đầu cuốn sách : “…Một trong những bản tổng kết (accounts) của Quân lực Việt nam Cộng hòa có giá trị lớn và đày suy tư mà tôi đã được đọc… Đó là một cuốn sách trung thực mà sự lương thiện của tác giả hiện ra ở mỗi trang…”

 

3 – Trung Tướng Lawson W. Magruder III là người quen biết tác giả đã 40 năm, thì viết : “…Qua con mắt của một người yêu nước chân thực, lịch sử và những chiến dịch có tính quyết định của cuộc tranh chấp đã được duyệt lại từ một nhãn quan độc đáo của một nạn nhân trở thành chiến binh… Cuốn sách này là một tác phẩm cần phải đọc cho những ai muốn có được một hình ảnh đày đủ và sự thật tòan diện về cuộc chiến tranh bi thảm mà đã làm cho cả thế giới phải ray rứt mủi lòng trong suốt hơn hai thập niên…”

 

4 – Giáo sư C. C. Lovett Đại học Emporia State University, thì viết trong tạp chí CHOICE chuyên về điểm sách cho các nhà sách và thư viện lớn nhỏ trong số phát hành vào tháng 8/2012 như sau : “… Từ quá lâu, tiếng nói của người Việt nam đã không được nghe đến. Trong cuốn Hồi ký này, ông Luận đã chiếu rọi tia sáng mới vào cái phần chiến tranh còn thiếu vắng trong lối trình bày diễn giải thông dụng điển hình đó…Cuốn Hồi ký này sẽ là một bổ túc có giá trị cho bất kỳ tủ sách hàn lâm nào mà có sự quan tâm đến cái thảm kịch Việt nam. Tóm tắt lại : (Đây là thứ tài liệu) Thiết yếu. Mọi trình độ/Thư viện.”

 

5 – Đại tá Gregory Fontenot nguyên Giám đốc Trường Nghiên cứu Quân sự Cao cấp cũng viết bài nhan đề “A Vietnamese Perspective” được đăng nơi Tập san Army Magazine của Hội Lục quân Mỹ vào số tháng 8/2012, xin trích một đọan ngắn như sau : “ …Ông Luận thuật lại khá rõ rệt về những cuộc chiến Việtnam như ông đã chứng kiến. Dù mới chỉ mang cấp bậc Thiếu tá, ông đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong tổ chức quốc phòng. Ông là Giám đốc một Nha rộng lớn nhất trong Bộ Chiêu Hồi. Và sau này còn là Trưởng Phòng Nghiên Cứu Kế Họach của Tổng cục Chiến tranh Chính trị thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Việt nam Cộng hòa… Đây là cuốn sách thiết yếu cho những ai muốn tìm hiểu về cái thảm kịch phức tạp của những cuộc chiến tranh ở Việt nam.”

 

III – Những điểm đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

 

Tập Hồi ký này dài đến gần 600 trang với khổ chữ nhỏ, nên người lớn tuổi với đôi mắt suy yếu, thì khó mà có thể đọc liền một lúc hết quá 10 trang được. Như vậy cần phải để ra vài ba tháng để mà đọc và nghiền ngẫm cho hết trọn cuốn sách. Tác giả ghi ra rất nhiều chi tiết lý thú về mọi thứ chuyện thực tế đã xảy ra – mà đích thân mình chứng kiến hay được nghe những nhân chứng đáng tin cậy tường thuật lại. Có nhiều chuyện hấp dẫn khiến người đọc có thể tìm coi lại nhiều lần mà vẫn thấy hay như khi mới đọc lần đầu tiên vậy.

 

Nếu phải ghi ra một điều bất cập trong cuốn sách dày đặc những chữ với chữ này, thì đó chính là nó không có những hình ảnh để minh họa cho các chủ đề của tác phẩm – quả thật đó là một điều thiếu sót đáng tiếc. Thiết nghĩ nếu trong sách mà có được vài ba chục trang hình ảnh kèm theo ghi chú ngắn gọn cho mỗi hình, thì người đọc sẽ chú ý tìm coi trước nhất những trang này. Rồi sau đó họ sẽ thích thú coi tiếp nữa. Hy vọng trong ấn bản tiếng Việt, tác giả và nhà xuất bản sẽ tránh được sự khiếm khuyết tuy nhỏ nhoi mà cũng thật lợi hại này.

Sau đây, tôi xin lần lượt nêu ra mấy điểm đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

 

1 – Về hình thức diễn đạt của tác phẩm.

Tác giả đã dày công sử dụng từ ngữ rất chính xác để có thể mô tả rõ ràng những sự kiện do bản thân mình chứng kiến – cũng như những suy luận và nhận định chủ quan của mình. Cái lối viết đơn sơ mà gãy gọn này đã được ban Biên tập nhà xuất bản của Đại học Indiana cũng như nhiều thức giả đánh giá cao – như đã trình bày lược thuật ở trên. Đây rõ ràng là một thành công đáng kể của một người viết trực tiếp bằng thứ ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ của mình vậy.

 

2 – Về nội dung thật là phong phú và khả tín của tập Hồi ký.

Quả đúng như nhận xét của Thiếu Tướng Zabecky đã ghi trong bài Tựa cuốn sách : “ Sự lương thiện của tác giả hiện ra ở mỗi trang”, ông Luận đã tường thuật hết sức trung thực và chính xác về những điều chính bản thân mình đã “tai nghe mắt thấy”. Điển hình trong các giai đọan đáng chú ý như sau :

 

A – Giai đọan từ 1945 đến 1954 tại vùng thị xã Nam Định ở miền Bắc.

Vì trong gia đình có cụ thân sinh đã từng tham gia tranh đấu chống thực dân Pháp ngay từ hồi thập niên 1930, nên cậu Luận sớm có được những hiểu biết rõ rệt về tình hình chính trị xã hội tại địa phương – ngay từ năm 1945 lúc cộng sản Việt minh lên nắm chính quyền, dù lúc đó mới chỉ là một thiếu niên 8 tuổi. Tác giả biết được nhiều điều qua những cuộc trao đổi thảo luận giữa thân phụ của ông với các đồng chí trong hàng ngũ tổ chức Quốc Dân Đảng ở địa phương xung quanh thành phố Nam Định.

 

Ông Luận thuật lại rất chi tiết những cuộc sát hại bắt bớ do chính quyền Việt minh gây ra đối với các thành viên của Quốc Dân Đảng – trong đó có cả chính thân phụ của ông bị bắt giữ năm 1948 và chết tại trại giam Lý Bá Sơ vào năm 1950. Tác giả còn cho biết là mối hận thù giữa phe Cộng sản và phe Quốc Dân Đảng Việt nam đã có từ lâu trước cả năm 1945, lúc cả hai phe đều còn ẩn náu ở bên nước Tàu – đó là lúc phe Cộng sản Việt nam đi theo cánh của Mao Trạch Đông đang tranh chấp hận thù không đội trời chung với cánh Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch. (Tình trạng này cũng tương tự như tại miền Nam hồi năm 1945 – 47, phe Cộng sản Đệ Tam đã sát hại tàn bạo đối với các nhân vật thuộc phe Cộng sản Đệ Tứ (còn gọi là phe Trostkyst) như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch… Đó là họ theo sự chỉ đạo của Stalin ở Liên Xô.)

 

Trong hơn 150 trang mô tả về tình hình chính trị xã hội xung quanh địa phương tỉnh Nam Định thời kỳ trước năm 1954, người đọc mà cũng xuất thân từ tỉnh Nam Định như tôi - thì đều có thể kiểm chứng rõ ràng là tác giả Nguyễn Công Luận đã tường thuật lại một cách rất chính xác và trung thực. Và đó chính là một điểm son của tác phẩm – khiến cho người đọc có thể yên tâm mà đọc cho đến hết các phần kế tiếp cũng vẫn đày rẫy những chi tiết về “Người thật, Việc thật” mà chính bản thân tác giả đã trải qua.

 

B – Phục vụ tại Sư đòan 22 nơi vùng Cao Nguyên (1958 – 1965).

Là một sĩ quan trẻ tuổi, Trung úy Nguyễn Công Luận đã hăng say phục vụ đất nước trong thời gian 7 năm với Sư đòan 22 Bộ Binh đóng tại các tỉnh vùng Cao nguyên là nơi có nhiều đồng bào thuộc các sắc tộc thiểu số đã định cư lâu đời nơi vùng đất rộng người thưa này. Tác giả coi đây là Sư đòan của gia đình mình với biết bao kỷ niệm gắn bó với số đông các bạn đồng đội và bà con dân chúng ở địa phương - bởi lẽ ông Luận lập gia đình vào năm 1962 và ông bà đã có hai người con được sinh ra trong thời gian ông phục vụ tại đơn vị này.

 

Dù chỉ là một sĩ quan cấp nhỏ, ông Luận đã phát huy nhiều sáng kiến trong việc thi hành các công tác được trao phó cho mình – đặc biệt trong lãnh vực tổ chức phòng thủ và vận động quần chúng ở địa phương. Thành tích của ông tại vùng cao nguyên đã được vị Tư lệnh Sư đòan lúc đó là Đại tá Nguyễn Bảo Trị chú ý đặc biệt, nên vào năm 1967, khi làm Bộ trưởng Thông tin Chiêu hồi, ông Trị đã xin biệt phái Đại úy Luận về làm Giám đốc Nha Tiếp Nhận của Bộ này mà có số nhân viên lên đến 200 người.

 

3 – Giai đọan phục vụ tại Bộ Chiêu Hồi (1967 – 1970).

Sau thời gian trên 10 năm trong hàng ngũ quân đội và tới tuổi “tam thập nhi lập” vào năm 1967, Đại úy Luận đã trở thành một vị sĩ quan trưởng thành chín chắn với nhiều kinh nghiệm về chỉ huy và tổ chức điều hành.

Trong nhiệm vụ nặng nề là đơn vị trưởng của một cơ quan rộng lớn tại Bộ Chiêu Hồi ở thủ đô Saigon, ông Luận đã hăng say làm việc ngày đêm để cho guồng máy cơ quan đạt được hiệu năng tối hảo trong việc phân lọai, xác định lý lịch, thu thập tin tình báo, huấn luyện chính trị và sắp xếp phân phối bố trí công việc cho hàng chục ngàn những “hồi chánh viên” – là những người vừa rời bỏ hàng ngũ phe Cộng sản để gia nhập sinh họat trong Đại gia đình phe Quốc gia.

 

Ông Luận coi giai đọan phục vụ tại Bộ chiêu Hồi (từ 1967 đến 1970) là thời gian công tác có ý nghĩa nhất trong suốt gần 20 năm mà ông sinh họat trong quân ngũ. Ông thuật lại nhiều trường hợp người hồi chánh tham gia chiến đấu kiên cường trong các đơn vị Quân đội Việt nam cũng như Quân đội Mỹ. Mỗi tóan 3 người họat động sát cánh từng đơn vị của Quân đội Mỹ được gọi là “Kit Carson Scouts”, thì phần đông đều tạo được thành tích đáng khen ngợi.

 

Lý do chính yếu của sự thành công của Nha Tiếp Nhận do ông Luận lãnh đạo, đó là do lập trường quốc gia vững chắc kiên định và nhất là do sự thông cảm chan hòa tình yêu thương gắn bó của nhân viên phụ trách đối với các bạn hồi chánh viên.

 

Trong suốt ba năm làm việc miệt mài tại Bộ Chiêu Hồi, ông Luận đã có dịp trực tiếp phỏng vấn trao đổi với trên 500 hồi chánh viên – nhờ vậy mà ông thu thập được khá nhiều thông tin, tài liệu chính xác về tình hình xã hội ở miền Bắc sau năm 1954. Ông đã chuẩn bị để xuất bản một cuốn sách bằng Anh ngữ về đề tài này, nhưng chưa kịp hòan thành thì đã xảy ra biến cố 30 tháng tư 1975 làm xụp đổ chế độ miền Nam.

 

Ông là tác giả của văn kiện lập quy quan trọng rộng lớn cho tòan bộ chính sách Chiêu Hồi. Đó là Huấn Thị số 22 của Thủ Tướng Chính Phủ năm 1968 quy định các quy chế và thủ tục tiếp nhận Hồi Chánh của chính quyền, QLVNCH và Quân Đội Mỹ tại Việt Nam, quy định phòng chống nội tuyến, bảo vệ người hồi chánh đã hòan lương, biện pháp chế tài, các điều kiện và thủ tục miễn trách, miễn tố cho các bị can phạm tội như phá họai, giết người theo lệnh của VC.

 

Khó khăn lớn mà ông Luận đã vượt qua được, đó là thái độ ít khoan dung đối với các cựu VC về chiêu hồi của nhiều viên chức, sĩ quan và nhân sĩ VNCH, không chấp nhận những biện pháp “bàn tay nhung” tích cực giúp đỡ người hồi chánh bằng những yểm trợ vật chất và tinh thần để thu phục họ. Ông đã cùng Trung Tướng Trần Thanh Phong, Tham Mưu Trưởng Bộ TTM đệ trình dự án đồng hóa các sĩ quan Bắc Việt giỏi và đáng tin cậy vào QLVNCH như Đại Tá Tám Hà, Trung Tá Phan Mậu, Trung Tá Lê Xuân Chuyên, Thiếu Tá Hùynh Cự, Đại Úy Phan Văn Xướng và hàng trăm sĩ quan BV khác với quân hàm giảm 1 cấp, để phục vụ các ngành Bộ Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp, Chiến Tranh Chính Trị… Nhưng dự án này không thành vì sức chống đối của nhiều chức quyền cao cấp trong chính phủ tuy được Quân đội cà Cảnh sát quốc gia tán thành.

 

Ông cũng vượt qua khó khăn lớn trong việc vận động Bộ Tư lệnh MAC-V chịu áp dụng quy định HT-22 Chiêu Hồi cho các đơn vị Mỹ ở Việt Nam, một điều mà các đơn vị chỉ huy cao cấp Mỹ vốn có tính tự cao tự đại không mấy khi chấp nhận.

 

IV – Để tóm lược lại.

Cuốn Hồi ký này là một trong mấy cuốn sách hiếm hoi do số ít tác giả Việt nam viết trực tiếp bằng Anh ngữ mà đề cập chi tiết về cuộc chiến tranh Việt nam trong cả hai giai đọan 1946 – 54 và 1960 – 75.

 

1 - Tác giả đã nêu rõ lập trường của mình là một “người quốc gia” đối lập dứt khóat với “người cộng sản”. Vì thế mà ông mới lấy nhan đề là : “Nationalist in the Viet Nam Wars : Memoirs of a Victim Turned Soldier”.

Thật vậy, trước năm 1954, lúc còn là một thiếu niên, cậu Luận đã là nạn nhân của sự tàn ác của Việt minh cộng sản (người cha bị bắt giữ và chết trong nhà tù cộng sản). Vào miền Nam, khi đủ 18 tuổi cậu Luận bắt đầu tham gia Quân đội thành người chiến binh - để chống lại sự xâm lăng do giới lãnh đạo cộng sản từ miền Bắc phát động.

 

2 – Cuốn sách chứa đựng rất nhiều chi tiết trong sinh họat của người dân Việt nam giữa thời kỳ 30 năm chiến tranh xáo trộn liên tục từ 1945 đến 1975. Có thể nói đây là tiếng nói tiêu biểu đại diện cho hàng triệu người trong tầng lớp “đa số thầm lặng” - vốn chỉ là nạn nhân bất hạnh của mưu đồ độc quyền thống trị của đảng Cộng sản Việt nam theo mô hình của Liên Xô và Trung Cộng. Đây là một chứng từ hết sức trung thực và khả tín của một công dân cần mẫn và lương thiện - nhằm góp phần vào việc xác định Chính Nghĩa cùng Chỗ Đứng của Việt Nam Cộng Hòa trong lịch sử thế giới hiện đại.

 

3 – Cuốn sách này cần được phổ biến rộng rãi trong các gia đình người Việt với cả ba thế hệ gồm có : ông bà (từ tuổi 60 trở lên với sự hiểu biết cụ thể về cuộc chiến) - cha mẹ (từ tuổi 30 – 50 chưa trải qua kinh nghiệm trực tiếp về cuộc chiến tranh) – và thế hệ các cháu sinh trưởng ở hải ngọai (thường có hiểu biết rất ít hay sai lạc về cuộc chiến do các sách báo người ngọai quốc viết với sự thiên lệch cường điệu).

 

* * *

 

Với tác phẩm đặc sắc này, tác giả Nguyễn Công Luận đã trở thành một nhân vật nổi trội, một thứ “somebody” trong cộng đồng người Việt ở hải ngọai – chứ không còn là thứ “nobody” như ông đã khiêm tốn viết nơi trang đầu cuốn sách nữa.

 

Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn Hồi ký rất trung thục và lý thú này của vị cựu sĩ quan Quân lực Việt nam Cộng hòa và cũng là một người có tấm lòng yêu nước nồng nhiệt chân thành.

Sau cùng, người viết xin được bày tỏ lòng biết ơn và quý trọng chân thực đối với tác giả vì sự đóng góp thật quý báu này./

Costa Mesa, California Tháng Mười 2012

Đoàn Thanh Liêm

 

Khâm Sai Gia Định Thành 
Tổng Trấn Chưởng Tả Quân
Quận Công Lê Văn Duyệt

(1764 - 1832)

Nguyễn Thanh Liêm

[Dưới thời Gia Long- Minh Mệnh, Gia Định bao gồm tất cả các tỉnh Miền Nam từ Phan Thiết đến Cà Mau, tức là Nam Kỳ Lục Tỉnh sau nầy. Gia Đnh thời đó là cả vùng Đồng Nai Cửu Long ngày nay. Làm Tổng Trấn Gia Định thời đó cũng chẳng khác nào làm Thống Đốc Nam Kỳ thời Pháp thuộc hay Thủ Hiến Nam Việt thời Quốc Trưởng Bảo Đại. Năm 1832 sau khi Dức Tả Quân Lê Văn Duyệt từ trần, chế độ Tổng Trấn Gia Định mới bị bãi bỏ. Minh Mạng chia trấn Gia Định thành nhiều tỉnh.]

Khâm sai ChưởngTả Quân Lê Văn Duyệt sinh năm Giáp Thân (1764) tại Cù Lao Hổ, cạnh Vàm Trà Lọt nay thuộc làng Hòa Khánh, tĩnh Định Tường. Nội tổ là Lê Văn Hiếu từ Quảng Nghĩa thiên cư vào Nam. Thân phụ là Lê Văn Toại và thân mẫu là Phúc Thị Hào, sau này rời Vàm Trà Lọt đến cư trú bên Rạch Ông Hổ (vùng Rạch Gầm) nay thuộc làng Long Hưng Tây tỉnh Định Tường.

Ngài sinh ra đã mang tật kín (ái nam) nên tính khí cũng khác người thường. Thuở nhỏ thường không chịu đi học mà chỉ thích làm bẩy, làm giỏ, bắt chim, đánh cá, nhất là đá gà và tụ tập các trẻ trong làng, chia phe tập trận đánh giặc. Rất khỏe mạnh, rất thông minh, giỏi võ thuật, tuy không có đi học nhiều, nhưng biết rất nhiều về truyện Tàu cùng các anh hùng hảo hán cũng như tư cách, tài năng và cách xử sự của họ ở trong đời. Ngài có chí lớn, mới 15 tuổi đã có câu nói "sinh ở đời loạn, không hay dựng cờ trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là trượng phu."

Năm 17 tuổi Ngài đã có dịp cứu Chúa Nguyễn Ánh cùng vài người tùy tùng khỏi tử thần. Đêm hôm đó Nguyễn Ánh bị quân Nguyễn Lữ đuổi gắp. Nhờ mưa to gió lớn thuyền của quân Nguyễn Lữ không đuổi theo được thuyền Nguyễn Ánh. Nhưng khi đến Vàm Trà Lọt thì thuyền chở Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng bị sóng lớn làm cho suýt bị chìm. Ngài xuất hiện kịp lúc, đỡ thuyền Nguyễn Ánh đưa vào bờ, giúp Nguyễn Ánh thoát nạn. Biết Nguyễn Ánh là dòng dõi chúa Nguyễn, cụ Lê Văn Toại hết sức cung kính, lo lắng cho Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng cho họ tạm trú ở đây mấy hôm. Sau đó Nguyễn Ánh lại phải tiếp tục tìm đường lẩn trốn đoàn quân Nguyễn Lữ đang lục soát các nơi lùng bắt. Lúc chia tay Nguyễn Ánh cám ơn ông bà Lê Văn Toại với lời hứa là sau này sẽ trở lại đem Lê Văn Duyệt theo.

Giữ đúng lời hứa, năm 1786 sau khi lên ngôi Chúa ở Gia Định, Nguyễn Ánh trở lại Vàm Trà Lọt cám ơn vợ chồng ông Lê Văn Toại đã giúp ông trong cơn hoạn nạn, và tuyển dụng Lê Văn Duyệt làm thái giám. Từ đó Ngài xả thân phò Chúa Nguyễn Ánh, cùng với Nguyễn Văn Thành đánh Nam dẹp Bắc, lập nhiều công trận lớn lao, được phong đến tước Quận Công. Khi vua Gia Long thống nhất giang san, lên ngôi Hoàng Đế, Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt được liệt vào hàng Đệ Nhất Khai Quốc Công Thần, với đặc ân được vào chầu vua không phải lạy và được đặc quyền "tiền trảm hậu tấu" nơi biên thùy.

Gia Long thăng hà, Ngài tiếp tục phò vua Minh Mạng cho đến hết cuộc đời mặc dù Ngài không kính phục thương mến ông vua này chút nào cả. Minh Mạng cũng không ưa gì Ngài nhưng phải dùng đến Ngài cho đến hết cuộc đời. Tuy vậy năm 1823 Ngài cũng được Minh Mạng ân thưởng ngọc đái với lời dụ: "Từ xưa hoàng tử, chư công chưa ai được ân tứ ngọc đái, nay khanh đã nhiều vãng tích, lại kiến tân lao nên đặc biệt ân tứ vậy."

Năm 1831 người bạn thân nhất của Ngài là Lê Chất, Tổng Trấn Bắc thành lìa đời khiến Ngài vô cùng thương xót. Sau cái chết của Lê Chất, Minh Mạng bãi bỏ chế độ tổng trấn ở Bắc Việt, đổi làm tỉnh, cử những chức vụ mới như Tổng Đốc, Tuần Phủ,.. Năm sau Đức Tả Quân xin từ chức Tổng Trấn Gia Định nhưng nhà vua không cho, bắt buộc Ngài phải ở lại. Nhưng chỉ mấy tháng sau thôi thì Ngài lâm trọng bệnh và mất ngày 30 tháng 7 năm Mậu Thìn (nhằm ngày 15 tháng 8 năm 1832) hưởng thọ 69 tuổi. Miếu mộ của Ngài được xây cất tại Bình Hòa Xả (Gia Định), nơi người dân Đồng Nai kính cẩn gọi là "Lăng Ông," "Lăng Ông Thượng," hay đền thờ Đức Thượng Công, và các thiện nam tín nữ Trung Hoa tôn xưng là "Phò Mã Da Da Miếu."
 

NHỮNG ĐỨC TÍNH CAO QUÝ CỦA ĐỨC THƯỢNG CÔNG

Thanh liêm, ngay thẳng, trong sạch

Ngài là một vị quan rất mực thanh liêm, trong sạch. Dù có quyền hành thật lớn trong tay, Ngài không hề hiếp đáp kẻ dưới, không hề lấy của ai bất cứ tiền bạc hay của cải gì. Nhiều khi Ngài còn bỏ tiền túi ra để làm việc hữu ích cho dân. Ngài đi tới đâu là làm sạch sẽ tới đó. Tất cả những quan viên lớn nhỏ dưới quyền kiểm soát của Ngài cũng đều phải trong sạch, thanh liêm như Ngài. Quân lính của Ngài rất có kỷ luật, không hề phá phách, cướp bốc của dân. Ngài cai trị đến đâu là những kẻ nhũng lạm, hại dân đều phải rơi đầu đến đó, bất kỳ người đó là ai.

Khi được triều đình cử đi dẹp loạn ở nơi nào, Ngài cũng cho điều tra kỹ để biết rõ nguyên nhân tại sao dân nổi loạn. Khi biết chắc nguyên nhân của cuộc nổi loạn là do nơi đám quan lại sở tại tham nhũng, bức hiếp dân chúng, làm cho dân chúng quá khổ sở, không thể nào sống được nên phải nổi loạn, thì Ngài thẳng tay trừng trị bọn quan lại tham nhũng trước rồi kêu gọi những kẻ làm loạn trở về đầu thú với triều đình, sống lại cuộc đời lương thiện.

Nhờ chính sách sáng suốt và rộng rãi đó mà Ngài đã dẹp loạn ở nhiều nơi một cách nhanh chóng, hữu hiệu, mà không tốn kém tiền bạc và nhân mạng. Chính sách này đã được Ngài cho áp dụng trong chiến dịch chiêu hồi Mọi Vách Đá vào những năm 1807 và 1808. Trong chiến dịch này Ngài đã cho xử trảm Chưởng Cơ Lê Quốc Huy, một tên đại tham nhũng, để đem bình yên an cư lạc nghiệp lại cho dân chúng.

 Năm 1819 Ngài được cử đi kinh lược hai trấn Thanh, Nghệ. Ở đây Ngài cũng áp dụng chính sách nói trên, thẳng tay trừng trị bọn quan lại tham ô rồi chiêu dụ những kẻ làm loạn trở về với triều đình. Đặc biệt là Ngài cho lập ra ba đội lính "Hồi Lương" (An Thuận, Thanh Thuận, và Bắc Thuận) gồm những thành phần nổi loạn đã trở về với triều đình.

Việc làm nổi tiếng nhất của Ngài là xử tử Huỳnh Công Lý, Phó Tổng Trấn Gia Định. Huỳng Công Lý là cha của một bà thứ phi rất được vua Minh Mạng sủng ái. Ỷ thế cha vợ vua, Huỳng Công Lý vơ vét tiền của của dân chúng, hà hiếp kẻ yếu, hối lộ ngang nhiên trắng trợn. Tiếng kêu ca thấu đến tai Ngài Tổng Trấn, Ngài cho điều tra tận gốc. Có đủ bằng chứng Ngài dâng sớ lên triều đình hài rõ tội trạng của Huỳnh Công Lý. Sợ triều đình vị nể cha vợ của vua, không dám thẳng tay trừng trị, Ngài bèn ra lệnh xử trảm Huỳnh Công Lý trước khi có lệnh giải tội phạm về kinh của vua Minh Mạng. Từ thời Gia Long, Ngài đã được triều đình ban cho cái quyền "tiền trảm hậu tấu" (xử trảm trước rồi sẽ tâu lại với triều đình sau) để sử dụng ở biên cương hầu kịp thời đáp ứng với tình thế.

Về đức tính thanh liêm trong sạch của bậc cha mẹ dân, Ngài là một tấm gương vô cùng sáng chói cho người làm quan cũng như nhiều công chức ở Miền Nam sau này.

 

Dũng cảm, quả quyết, trọng nhân ái

Đức thanh liêm của Ngài gắn liền với lòng dũng cảm. Ngài có cái dũng của đấng nam nhi, của bậc trượng phu, anh hùng. Ngài không rụt rè, e ngại hay sợ sệt khi phải hành động đúng lẽ phải và công lý. Hoàn cảnh có khó khăn nguy hiểm đến đâu Ngài cũng mạnh dạn dấn thân vì lòng trung quân ái quốc, vì dân vì nước. Vì sự thanh liêm trong sạch, vì lẽ phải Ngài không bao giờ hèn yếu khuất phục trước bất cứ kẻ quyền thế nào dù người đó là nhà vua đi nữa. Trường hợp Huỳnh Công Lý trên kia là một thí dụ điển hình.

Ngoài ra khi vua Minh Mạng, vì tư thù và vì sợ bị mất ngôi, đem xử tội Tống Thị Quyên, vợ của Hoàng Tử Cảnh, một cách oan uổng, thì chỉ một mình Ngài can đảm dâng sớ lên vua xin tha tội cho người này. Việc làm của Ngài không khỏi làm cho Minh Mạng bực tức, giận ghét Ngài thêm, nhưng vì lẽ phải Ngài vẫn cứ làm. Hai lần Minh Mạng cử người vào Nam giữ chức vụ quan trọng đều bị Ngài gởi trả lại triều đình vì những người này chỉ là những kẻ tham tàn, hại dân hại nước mà thôi.

Một trong những người đó là Bạch Xuân Nguyên mà sau này sẽ là đầu mối của cuộc nổi loạn ở trong Nam do Lê Văn Khôi chủ xướng. Minh Mạng không ưa thái độ xem như ương ngạnh của Ngài nhưng vẫn rất nể sợ tài năng, đức độ của Ngài nên không dám làm gì trong lúc Ngài còn sống, mà lại ôm ấp lòng giận ghét để sau này tìm cơ hội báo thù. Quan trọng nhất là việc Ngài không chịu thi hành lệnh cấm đạo hết sức gắt gao của Minh Mạng.

Ngài cho rằng việc cấm đạo, bắt bớ giết chóc các nhà truyền giáo và các giáo dân, bế môn tỏa cảng không cho người Tây phương vào giao dịch, buôn bán, là một chính sách hết sức sai lầm. Trong Gia Định trấn (từ Phan Thiết đến Cà Mau), dưới sự cai trị của Ngài, không có sự cấm đạo và cũng không có sự bế môn tỏa cảng. Ngài không phản bội nhà Nguyễn, luôn luôn bảo vệ nhà Nguyễn, rất mực trung thành với nhà Nuuyễn, nhưng Ngài luôn luôn can đảm làm trái lệnh nhà vua nếu việc làm của Ngài có lợi cho quốc gia, cho triều đình, và cho người dân Nam Việt.

Trung quân, ái quốc

Ngài luôn luôn trung thành với các vua nhà Nguyễn. Thuở thiếu thời Ngài đã theo phò vua Gia Long, vào sinh ra tử với nhà vua. Khi Gia Long mất, Ngài tiếp tục phò vua Minh Mạng, mặc dù Ngài không có thiện cảm với vị vua này. Ngài kính nể thương yêu hoàng tử Đán, con trai của hoàng tử Cảnh hơn. Cho nên khi Gia Long hỏi ý Ngài và Nguyễn Văn Thành về việc chọn người nối ngôi, thì Ngài và Nguyễn Văn Thành đều nói nên chọn hoàng tử Đán vì hoàng tử Đán là con trai lớn của hoàng tử Cảnh, là cháu đích tôn của nhà vua, và hơn nữa, theo Ngài thì hoàng tử Đán rất khôn ngoan nhân từ, những đức tính không tìm thấy ở nơi hoàng tử Đảm.

 Vua Gia Long chỉ hỏi cho có hỏi vậy thôi, chớ thật sự nhà vua đã có quyết định rồi. Nhà vua đã chọn thái tử Đảm làm người nối ngôi, vì theo nhà vua thì hoàng tử Đán còn quá trẻ (mới 12 tuổi) lại có tính khí hiền hòa giống như hoàng tử Cảnh, và như vậy sợ không gánh vác nổi việc lớn của triều đình. Thái tử Đảm, theo ý Ngài, là người không có lòng đại lượng vị tha, ngược lại, ông ta là kẻ có trái tim vị kỷ, nhỏ nhen, tàn bạo, ông ta rất thông minh nhưng cũng vô cùng nham hiểm. Biết vậy nhưng Ngài vẫn giữ một dạ trung quân ái quốc cho đến hơi thở cuối cùng.

Uy Nghiêm, cứng rắn, nhưng rộng rãi, anh hùng

Ngài rất nghiêm nghị, rất uy nghi, ít có người dám nhìn thẳng vào mặt Ngài, kể cả những huân cựu đại thần ở trong triều. Chính vua Gia Long cũng công nhận rằng Ngài là bậc khai quốc công thần tính nghiêm mà thẳng, trị quân theo quân pháp, không nể nang bất kỳ ai. Nhất là đối với vua quan Xiêm và Chân Lạp. Họ rất nể sợ Ngài. Nhưng với dân chúng thì Ngài rất mực thương yêu, nhất là đối với những người biết hối cải thì Ngài lại rất bao dung rộng lượng.

Nhiều kẻ nổi loạn, chống lại triều đình, đáng tội chết, vậy mà khi họ biết hối cải, trở về với triều đình thì Ngài lại dung tha và còn cấp ruộng đất cho họ để họ làm ăn sinh sống. Ngài chủ trương rằng khi mình đã dùng chính sách chiêu dụ họ về hàng, thì khi họ về với mình mình phải giữ đúng lời hứa, nếu không mình không phải là kẻ trượng phu, không còn xứng đáng với lòng tin của kẻ khác. Mất lòng tin thì những kẻ phiến loạn sẽ không cải tà quy chánh nữa, và loạn lạc sẽ kéo dài không biết đến bao giời mới hết.

Rất sáng suốt, thấy xa, hiểu rộng, có chính sách cai trị vô cùng khôn ngoan

Ngài là một người thấy xa, hiểu rộng, và rất sáng suốt trong việc cai trị. Ở địa vị Tổng Trấn Gia Định (xem như như một Phó Vương cai quản cả Miền Nam nước Việt), với tất cả quyền hành trong tay, Ngài đã đem lại cho người dân Miền Nam một nền hòa bình thịnh vượng chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Đối ngoại Ngài đã thần phục Cao Miên và làm cho Xiêm La nể sợ không còn dám dòm ngó phá phách Việt Nam.

Ngài chấp nhận giao thương với các nước Tây phương cũng như Trung Hoa, Miến điện chớ không nhắm mắt theo lệnh triều đình đóng cửa rút cầu không cho người ngoại quốc vào nước mình buôn bán. Ngài không thi hành lệnh cấm đạo của Minh Mạng, làm ngơ để cho các giáo sĩ được tự do truyền giáo ở trong Nam. Ngài chủ trương tôn giáo nào cũng tốt, cũng có nền đạo đức luân lý giúp con người sống lành mạnh tốt đẹp. Ngài bảo: "Đạo Thiên Chúa nước nào không có. Người ta đâu có ngăn cấm, sao nước mình lại đặt ra cái chỉ dụ kỳ cục vậy. Gây cảnh nồi da xáo thịt lại mang tội với đời sau". Thay vì bế môn tỏa cảng theo lệnh của triều đình thì Ngài lại sẵn sàng đón nhận các phái bộ ngoại quốc đến xin tiếp xúc giao thương.

Thay vì xem nhẹ việc buôn bán thì Ngài lại khuyến khích thương mại để đem nhiều quyền lợi về cho quốc gia dân tộc. Đối nội Ngài làm cho dân chúng được yên ổn làm ăn, lại tạo ra cơ hội để người dân góp phần phát triển kinh tế trong vùng. Ngài cho đào kinh, làm đường sá để cho sự giao thông trong nước cũng như giữa Việt Nam và Cao Miên được dễ dàng. Ngài khuyến khích người dân khẩn hoang lập ấp, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Ngài tạo điều kiện tốt cho các giống dân (Trung Hoa, Miên, và người ngoại quốc khác) sống ở đây hội nhập vào xã hội Việt Nam mới này để cùng chung sức làm cho đất nước được phồn thịnh.

Về xã hội, nghĩ đến những người đã hy sinh vì nước để vợ con bơ vơ thiếu thốn, Ngài cho thiết lập hai cơ quan từ thiện là "Anh hài" và "Giáo dưỡng" để lo cho vợ con các chiến sĩ vị quốc vong thân. Tuy xuất thân là một võ quan, Ngài vẫn chú trọng đến việc phát triển văn hóa. Ngài dùng tiền do triều đình ban thưởng cho cá nhân Ngài để xây Văn Thánh Miếu khích lệ việc học của các sĩ tử.

Công lao to tát đối với dân Đồng Nai Cửu Long

Công lao của Ngài đối với người dân vùng Đồng Nai Cửu Long thật vô cùng to tát. Đó là công phát triển Miền Nam, làm cho vùng này trở nên vô cùng trù phú với một nền an ninh hết sức vững chắc (bởi chiến lược bảo vệ và phòng thủ phía Nam và phía Tây rất hữu hiệu của Ngài), làm cho dân Miền Nam được an hưởng hòa bình thịnh vượng, trong một xã hội trật tự nhưng cởi mở, tiến bộ. Trong lần hội kiến với Ngài tại Gia Định thành, Phan Thanh Giản đã hết sức kính phục thố lộ:

"Gia Định này thật có phúc mới gặp được một Tổng Trấn như đại quan. Tôi ở Kinh Thành, ở Bắc Thành vào Gia Định thấy như đi qua một nước khác. Ở dọc sông thì trên bến, dưới thuyền, ghe thuyền san sát, lúa gạo nghìn nghịt. Vải vóc, đồ thau, đồ đồng, đồ sứ, đồ gốm, thảo mộc quý, quế, trầm, hồi thật là không thiếu thứ gì. Trên đất liền, nhà cửa phố xá san sát, khang trang. Đường đi lại lát gạch, lát đá sạch sẽ mát mắt.

Cảnh dân theo đạo Thiên Chúa trốn chui, trốn nhủi như ở ngoài Bắc Thành, Kinh Thành, ngoài Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, vào đây không thấy. Cha truyền giáo vẫn đi lại bình thường trên đường phố. Tôi thật mừng. Mình làm quan thấy dân vui là mình vui. Làm quan chỉ biết vui phần mình thật đáng trách."

Năm 1822 một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu có đến yết kiến Ngài Tổng Trấn. Trong dịp này Crawfurd thú nhận: "Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đã đi qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lý tưởng." Sau đó ông còn ghi lại trong quyển nhật ký của ông về những sinh hoạt của thành phố Sài Gòn lúc đó và tiếng tăm của Ngài Tổng trấn như sau:

"Thành phố Saigun không xa biển, có lẽ cách độ 50 dặm; thành phố Pingeh (Bến Nghé) gần đó cách thành phố Saigun độ 3 dặm. Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành trì nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau.

Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu quy phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày. Một đứa con vô lễ chửi mẹ Tổng trấn biết được cũng bị phạt rất nặng.

Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp. Từ các nơi, dân đi thuyền theo các kênh rạch lên bán cho chúng tôi. Nhìn dân chúng hân hoan vui vẻ, chúng tôi biết dân no đủ. Nhiều người rất kính trọng vị Tổng trấn của họ.

Con người này ít học. Nhưng lạ lùng thay là có được cái nhìn cởi mở hơn nhiều những đại thần và cả nhà vua học rộng, làu kinh sử của Khổng giáo. Ngài sống thanh liêm, muốn mở mang đất Gia Định này trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng biển Đông."

 

Ngài vô cùng linh hiển đối với người dân Đồng Nai Cửu Long

Tương truyền rằng tướng tinh của Ngài là con cọp bạch. Người ta thấy lúc Ngài ngủ ban đêm con cọp bạch thường hiện ra chập chờn bên cạnh Ngài. Lúc chưa theo phò Nguyễn Ánh, Ngài thường dùng thần lực oai nghiêm của mình làm cho những con cọp hay về bên Rạch Ông Hổ phải khiếp sợ bỏ đi. Người ta cũng truyền tụng rằng những con hổ mà Ngài cho nuôi để giao đấu rất sợ Ngài, luôn luôn nghe lệnh chỉ bảo của Ngài.

 Con voi (đặt tên Ba Sao) của Tổng Trấn Bắc Thành Lê Chất tặng Ngài là con voi rất dữ dằn không ai trị nổi. Mỗi khi nổi cơn giận lên là nó phá phách, dày xéo một cách khủng khiếp, không ai có thể làm gì được nó. Chỉ một mình Ngài đến trước con vật khổng lồ, gọi tên nó, là Ngài làm cho nó dịu lại và tuân theo lệnh Ngài ngay.

Rồi một hôm nghe đồn ở Tây Ninh có một cô gái tên là Lý Thị Thiên Hương rất là linh hiển, Ngài bèn đến tận nơi để biết thực hư. Lúc Ngài đến thì cô Lý Thị Thiên Hương nhập vào xác một cô gái đến nói với Ngài như sau: "Tôi xin mách bảo trước cho Thượng Quan được biết là hồn của Thượng Quan sau này sẽ được phong thần và sẽ rất là linh hiển, nhưng xác của Thượng Quan thì sẽ bị hành hạ, mả bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét trong 12 năm, sau đó Thượng Quan sẽ được minh oan và sẽ được phục hồi danh vị cũ."

Sau khi Ngài mất rồi thì Minh Mạng bãi bỏ tổng trấn Gia Định, chia ra thành tỉnh, cử Bạch Xuân Nguyên làm Bố chánh sứ tại thành Phiên An (tức là Sài Gòn). Bạch Xuân Nguyên là kẻ tham tàn gian ác, trước đây đã được Minh Mạng đưa vào làm Phó Tổng Trấn Gia Định và đã bị Đức Tả Quân gởi trả lại triều đình. Vào làm bố chánh lần này, Bạch Xuân Nguyên quyết định trả mối thù xưa. Biết Minh Mạng không ưa Đức Tả Quân, Bạch Xuân Nguyên muốn lập công với nhà vua nên kiếm chuyện điều tra, bới móc, hạch hỏi những tay chân bộ hạ của Đức Tả Quân với thái độ hách dịch với lời lẽ xúc phạm đến Ngài Tổng Trấn mặc dù Ngài đã là người thiên cổ.

Con nuôi của Đức Tả Quân là Lê Văn Khôi không chịu được thái độ trịch thượng và hành động lưu manh thù vặt của Bạch Xuân Nguyên nên tỏ ra bất bình chống đối. Bạch Xuân Nguyên đem nhối Lê Văn Khôi và nhiều người trong đạo lính Hồi Lương của Đức Tả Quân. Nhờ có người giúp Lê Văn Khôi và 27 người khác trong số người Hồi Lương thoát khỏi ngục bèn nổi lên giết chết Bạch Xuân Nguyên rồi tổ chức làm loạn chống lại triều đình. Việc làm của Bạch Xuân Nguyên gây sự công phẫn lớn lao trong đám quân nhân cũng như dân chúng Miền Nam vì ở đây ai ai cũng mến thương kính nể Đức Tả Quân xem

Ngài như vị thần bảo hộ cho người dân vùng này. Cho nên chỉ trong vòng một tháng tất cả 6 tỉnh Miền Nam đều theo Lê Văn Khôi. Thanh thế của Lê Văn Khôi rất lớn làm cho Minh Mạng hết sức lo sợ phải cử một đoàn binh hùng tướng mạnh vào Nam dẹp loạn. Cuối năm này (1833) Lê Văn Khôi bị bệnh chết nhưng đám người theo ông vẫn cố thủ trong thành. Quân triều đình bao vây bên ngoài nhưng không làm gì được.

Mãi đến năm 1835 lương thực cạn khô thành Phiên An mới bị hạ. Có 6 tội phạm bị đóng cũi gởi về Kinh, còn tất cả binh sĩ và nam phụ lão ấu trong thành (cả thảy 1831 người) đều bị chém hết và chôn chung trong một hầm gọi là "Mã Ngụy". Đối với Đức Tả Quân, Minh Mạng cố dằn cơn giận, dụ rằng: "Lê Văn Duyệt tội nhiều đếm không xuể, càng nói càng đau lòng, bổ quan tài mà chém xác cũng không quá đáng. Nhưng nghĩ rằng nó chết đã lâu, còn cái xương khô trong mã cũng chẳng cần gia hình. Nay sai Tổng Đốc Gia Định đến chỗ mã Duyệt cào bằng, đánh 100 trượng, khắc to 8 chữ "Quyền Yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ." Từ đó trên ngôi mộ bị cào bằng của Ngài có một sợi xiềng sắt và một bia đá có khắc 8 chữ nói trên.

Người ta kể lại rằng ít lâu sau trong một giấc mơ Minh Mạng gặp Đức Tả Quân. Minh Mạng hỏi Duyệt đi đâu đó? Đức Tả Quân, mắt đỏ như hai hòn than, trả lời: "Không còn nhà, đi lang thang chơi, không ngờ lại bước vào Tử Cấm Thành." Nói xong Ngài biến mất. Minh Mạng sợ quá cho dẹp bia đá và sợi xích và để cho con cháu Đức Tả Quân sau này tự sửa đắp mả lại.

Dân trong vùng Gia Định xưa đã đến dựng lên ngôi đền thờ bề thế gọi là "Lăng Ông." Lăng Ông linh thiêng vô cùng đối với người dân Gia Định cũng như cả dân chúng Miền Nam nói chung. Sau này vua Tự Đức nghĩ đến công lao của Dức Tả Quân mới truy phục nguyên hàm cho Ngài là: "VỌNG CÁC CÔNG THẦN CHƯỞNG TẢ QUÂN BÌNH TÂY TƯỚNG QUÂN QUẬN CÔNG."

(Đây là một vụ án hết sức phi lý và phi nhân cho thấy tất cả cái thù hận nhỏ nhen, cũng như cái tàn bạo nham hiểm của vua Minh Mạng cùng những tay chân bộ hạ của nhà vua. Không cần biết nguyên do của sự nổi loạn, không hề nghĩ tới nguyện vọng và sự an sinh của dân chúng Miền Nam, nhà vua chỉ thấy có tự ái của nhà vua, chỉ biết mạnh tay sát phạt để thỏa mãn lòng tự ái của mình. Người ta thường cho Minh Mạng là người học rộng biết nhiều, thấm nhuần đạo lý Nho giáo. Nhưng trong vụ án này, người ta không thấy lòng nhân, chữ nghĩa, cũng như chữ trí của nhà vua.

Người ta thấy ông là một kẻ tiểu nhân hơn là người quân tử. Đem 1831 người, kể cả đàn bà và trẻ con, ra chém và chôn chung trong một cái hầm lớn rồi gọi là "Mã Ngụy" thì thật là một hành động hết sức phi nhân. Đức Tả Quân là ân nhân của Nguyễn Ánh và gia đình Chúa Nguyễn, là đệ nhất khai quốc công thần của Nhà Nguyễn, là một vị Tổng Trấn giỏi nhất. được dân chúng thương yêu nhất, đáng lẽ Minh Mạng phải xem Đức Tả Quân như một người cha, phải hãnh diện có được một người bề tôi giỏi giắn trung thành, phải kính nể một công thần quá cố, đằng này Minh Mạng lại dùng lời lẽ khiếm nhả, kém nhân từ, hài tội và trừng phạt Đức Tả Quân một cách nhỏ nhen hèn mọn.)

Cũng từ đó những người dân từ mọi nơi của Gia Định xưa (từ Phan Thiết đến Cà Mau) đã đến nơi đây dâng hoa, đốt hương cho Đức Thượng Công. Không ngày nào hương khói ở đây không nghi ngút. Rồi khi đêm xuống không khí ở đây âm u rùng rợn, người ta nghe thấy tiếng ma khóc, tiếng người ngựa rầm rộ đi. Dân cư ở quanh vùng ban đêm không ai dám đến gần, người đi qua đường phải lánh xa chỗ ấy.

Người ta đồn Ngài rất linh hiển. Một lần nọ có một đoàn rước sắc thần đi ngang qua lăng miếu Đức Thượng Công, chiêng trống ầm ĩ mà không cử người vào bái yết Đức Ông, thế là cả người lẫn kiệu của đám rước tự nhiên bị quật ngã giữa đường. Sau đó có người chợt nhớ ra vội hướng vào lăng Ông khấn vái tạ lỗi rồi thì đoàn rước mới được đi qua bình an. Những người làm việc cho chính quyền, có đầu óc vô thần, tỏ vẻ xấc láo với thần linh trước miếu thờ Đức Thượng Công đều bị Ngài trừng phạt nặng nề.

Ngày nay trong dân gian ai cũng nghe nói đến sự hiển linh của Ngài. Ngài luôn luôn trừng phạt những kẻ gian, kẻ trộm cướp, kẻ xấc láo vô lễ, kẻ thề thốt man trá trước lăng miếu của Ngài. Người ta hay nói đến những trường hợp bị "Ông vật", "Ông bẻ cổ" hay "Ông bắt hộc máu," để chỉ những trừng phạt đó. Trước đây các cơ quan hay hãng sở có vụ án bí ẩn không tìm ra manh mối thì người ta thường đưa các đương sự đến "Lăng Ông" cho thề trước đền thờ Ngài. Ngược lại nhiều người thường dân làm ăn lương thiện hay đến cầu xin Ngài giúp cho họ sự bình yên, thành công trong việc làm, thi cử đổ đạt, thành tựu trong việc cưới xin, bệnh hoạn chống khỏi, vv hầu hết đều được Ngài chứng tri giúp đỡ.

Tiếng đồn về việc Đức Thượng Công hiển linh thường hay thi ân, giáng họa được truyền tụng mỗi lúc một lan xa trong dân chúng từ xưa đến giờ và mãi mãi về sau này.
 

LỜI KẾT

Nếu người dân Đồng Nai Cửu Long xưa kia may mắn có được một nhà cai trị khôn ngoan, nhân đức, sáng suốt, biết thương dân thương nước như Đức Thượng Công khi Ngài còn tại thế và làm Tổng Trấn Gia Định thành, thì ngày nay dân chúng Miền Nam cũng vô cùng hãnh diện và may mắn có một vị thần bảo hộ hết sức hiển linh như Đức Tả Quân. Tiếc rằng dân Việt Nam nói chung không được cái may mắn đó vì triều đình Minh Mạng cũng như đa số các đại thần của triều đình này không có được cái khôn ngoan nhân đức và lòng thương nước thương dân của Ngài "Chưởng Tả Quân Bình Tây Tướng Quân Quận Công".

Nếu như triều đình và các đại thần của triều đình này cũng khôn ngoan, thấy xa, hết lòng vì dân vì nước, áp dụng chính sách cai trị khôn khéo, cởi mở của Đức Thượng Công đã áp dụng trong Miền Nam thì cả nước Việt Nam đã sớm trở thành một nước tiến bộ hùng cường như Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ XX rồi, và người dân Việt Nam đã được ấm no hạnh phúc như những người dân trong các xã hội tiến bộ khác từ lâu. Người đời sau nếu thật lòng thương dân thương nước, nếu thật lòng muốn cho xã hội tiến bộ, dân chúng ấm no hạnh phúc, thì nên học hỏi chính sách cai trị khôn ngoan sáng suốt cởi mở của Đức Thượng Công. Ngài thật vô cùng xứng đáng làm tấm gương cho người làm chính trị sau này, xứng đáng được sự nhớ ơn đời đời cũng như sự tin tưởng phụng thờ và sùng bái ngàn năm của người dân Nam Việt vậy.
 
Ts  Nguyễn Thanh Liêm

(nguyên là Thứ Trưởng Giáo Dục Việt Nam Cộng Hoà)
Lê Văn Duyệt Foundation, Nam California

 


Posted on 02 Feb 2011
TOP
back to Audio FreeViet INDEX
RSS  FreeVietNews-Audio
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Cách Mạng Tháng 8-1945
  • THƯƠNG TIẾC VIỆT DZŨNG!
  • Giỗ Nguyễn Chí Thiện: 1 Năm
  • Hiệp thông yểm trợ Gx Mỹ Yên!
  • Collection 2_ Sinh Hoat Ca (32)
  • Collection 1_ Sinh Hoat Ca (40)
  • Ủng hộ sự can trường bất khuất của TS Cù Huy Hà Vũ!
  • Phương Uyên & Nguyên Kha: chống Đảng Cộng Sản!
  • 28 AUDIO Nhận Định đầu năm Quý Tỵ 2013 từ Hoa Kỳ
  • Mặc Giao: Bầu cử tự do, công bằng, và lương thiện!
  • Bác sĩ Cấn Thị Bích Ngọc: Đoàn Én đem lại mùa Xuân!
  • Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu: Cương quyết bảo vệ giang sơn Việt Nam!
  • 70 NĂM TÌNH CA VIỆT NAM (1930 - 2000)
  • Công Giáo Miền Bắc đồng loạt chống nhà nước VC!
  • Mãi mãi dòng thơ HOA ĐỊA NGỤC
  • Tôi Phải Sống -- Hồi ký đời tù của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
  • Huỳnh Thục Vy: Biểu tình là thể hiện tâm tư yêu nước!
  • Giám Mục Nguyễn văn Long: Không để sự Ác hoành hành
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Ý nghĩa của sự Dấn Thân!
  • Tiến sĩ Nguyễn văn Lương: HẠN CHẾ DU LỊCH & GỞI TIỀN
  • TỘI ÁC KINH KHỦNG của Đảng Cộng Sản Trung Quốc!
  • Bác sĩ Cấn Thị Bích Ngọc: Quả là Quốc Nhục!!
  • Buồm cao ghi dấu can trường
  • 4 cuốn Sách Pháp viết về 30-4-1975: Pierre Darcourt, Jean Lartéguy, Olivier Todd, Vanuxem
  • AUDIO Hội Luận PALTALK mỗi tối Chủ Nhật 7-10pm PST
  • Đoàn văn Vươn: Quyền Tự Vệ chính đáng!
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
  • Mặc Giao: Thêm ý chí và lòng cương quyết!
  • Mậu Thân và nỗi đau của Huế
  • VIỆT KHANG: Lòng nào làm ngơ trước NGOẠI XÂM?
  • 33 BÀI NHẬN ĐỊNH & CHÚC TẾT ĐỒNG BÀO VIỆT NAM
  • THÁI HÀ đấu tranh quyết liệt!
  • GM Nguyễn Thái Hợp: Biết Vận dụng Sức Mạnh quần chúng!
  • LM Nguyễn văn Khải: giáo dân xông vào nơi hiểm nguy!
  • Mặc Giao: Con thú điên cuồng ở chân tường!
  • Tiến sĩ Trần An Bài: Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam !
  • SƠN HÀ NGUY BIẾN -- XUỐNG ĐƯỜNG CỨU NƯỚC!
  • Nhà văn Chu Tất Tiến: Yêu Nước và Cứu Nước!
  • Tiến sĩ Hà văn Hải: Cuộc cách mạng của nông dân Việt Nam
  • Luật sư Nguyễn Hữu Thống: Giải Thể Chế Độ Cộng Sản
  • Tập trung cầu nguyện phản đối VC giam tù & khủng bố dân
  • Mặc Giao: Hội đủ điều kiện nổi dậy ở VIỆT NAM chưa?
  • Quyền lực của Nhân Dân, Sức Mạnh của Giới Trẻ!
  • Trần Phong Vũ: Từ Bắc Phi đến Việt Nam
  • Hòa Thượng Thích Quảng Độ & Radio Phật Giáo & Quê Mẹ
  • 26 lời kêu gọi cứu nước + chúc Tết đồng bào Việt Nam
  • Tiến sĩ Trần An Bài: Mọi chế độ độc tài đều bị đạp đổ!
  • Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm: Đoàn kết đòi quyền sống!
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Tôn Giáo, nền văn minh tình thương!
  • TS Mai Thanh Truyết: Lửa Thiêng giúp dân Biểu Tình!
  • Mục sư Phạm Hữu Nhiên: Một Tương Lai đầy Hy Vọng!
  • Tiến sĩ Lê Minh Nguyên: Vượt Sợ Hãi để làm Cách Mạng!
  • Hiền Tài Phạm Văn Khảm: Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh chúc Têt
  • Giáo sư Lê Tinh Thông: Thắp sáng lửa đấu tranh ở Việt Nam!
  • Mặc Giao: Tạo điều kiện & nắm cơ hội để vùng dậy!
  • Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu: mong Việt Nam đổi mới, có Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ, ấm no hạnh phúc
  • Tù nhân dưới chế độ Việt Cộng bị hành hạ kinh khiếp
  • Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra đi + Nỗi lòng của giáo dân Hà Nội
  • Đất Nước tôi màu thắm bên bờ đại dương (Việt+English)
  • Chúng tôi đau trong ngực mỗi người bạn Ba Lan
  • Các audio: chinhnghiavietnamconghoa.org
  • AUDIO BOOK-- Trại Kiên Giam của Nguyễn Chí Thiệp
  • Professor Linvingston Voorhis: Những khác biệt giữa chủ nghĩa cộng sản Âu Châu và Á Châu
  • Giáo sư Lưu Trung Khảo: Lạc Quan, Tin Tưởng, Hy Vọng
  • GS Nguyễn Quốc Khải: Hải ngoại cần góp sức nhiều hơn!
  • Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm: 35 năm khốn khổ tủi nhục của dân tộc Việt Nam
  • Tiến sĩ Nguyễn văn Canh: Hồ Sơ Hoàng Sa Trường Sa và Chủ Quyền Dân Tộc
  • Giáo sư Nguyễn Thanh Giàu: Chúng ta phải hết sức giúp đỡ!
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Lưu truyền mãi với Sử Sách!
  • Trần Phong Vũ: Khối 8406, con đường đấu tranh quyết liệt và cụ thể
  • Mặc Giao: Đừng đòi hỏi họ phải là những chính trị gia chuyên nghiệp
  • Hữu Loan: Nhà Thơ bất khuất của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm
  • Về Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền
  • Muôn nghìn đời dạt dào Chính Khí Việt!
  • Giáo sư Lưu Trung Khảo: Tẩy chay hàng hóa Trung Quốc!
  • Hải Triều: Cứ làm hết mình (5/2007)
  • Giáo sư Lưu Trung Khảo: Hồn Nước
  • Tiến sĩ Hà văn Hải: Khi Nước mất, chúng ta sẽ mất tất cả!
  • MỪNG TẾT CANH DẦN 2010: NHẠC XUÂN & GIA CHÁNH
  • Tiến sĩ Mai Thanh Truyết: Phải trang bị hành trang để tự cứu mình!
  • Giáo sư Nguyễn Thanh Giàu: Chúc dân Việt có Tự Do Công Lý
  • Đức Giám Mục Mai Thanh Lương: Tại Quê Nhà dân Việt chúng ta vẫn đói khổ
  • Trần Phong Vũ: Cầu chúc Chân Cứng Đá Mềm!
  • Lm Anphong Trần Đức Phương: Đem yêu thương vào nơi oán thù
  • Nhà văn Mặc Giao: Hãy đánh động lòng Trời và lòng người trong năm Canh Dần!
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Quốc Gia Dân Tộc đắm chìm trong khổ ải thì lấy Đạo mà cứu Đời
  • Luật sư Nam Thị Hồng Vân: Chúng ta quyết tâm đứng lên bảo vệ lãnh thổ!
  • Hòa Thượng Thích Thiện Tâm: Suy nghĩ về hiện tình Đất Nước
  • Di Ngôn của Đức Ông Trần Văn Hoài (Tết 1999)
  • Cụ Nguyễn Kim Như: Chúng ta phải suy nghĩ và tích cực hơn! (2007)
  • Đặng Tấn Hậu: Tẩy Chay Hàng Hóa Trung Cộng!
  • Cố Giám Mục Lê Đắc Trọng: Nghĩ về Chủ nghĩa Cộng sản
  • Trần Phong Vũ: Cuộc Cách Mạng bằng Lời Cầu Nguyện tại Việt Nam
  • Linh mục Phan văn Lợi: Ta sinh ra làm người đứng thẳng!
  • Giáo sư Lưu Trung Khảo: Văn Hóa Việt khác văn hóa Tàu!
  • Hòa Thượng Thích Chánh Lạc: Nên đặt Tổ Quốc ViệtNam và 85 triệu dân lên trên hết
  • Trồng Thánh Giá khắp nơi-- Bài giảng của Lm Phạm Minh Triệu
  • Thỉnh Nguyện Thư vận động Chính Quyền & Quốc Hội Mỹ
  • Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất: Đạo đức &Tôn giáo!
  • Văn Phòng II Viện Hóa Đạo: Hiểm họa mất nước!
  • Hội Ngộ Dân Chúa 2011


    Các Đài Phát Thanh Việt Ngữ
    hướng về Việt Nam:

    » VOA: 5:30 giờ sáng ||  8 giờ tối  ||  10 giờ khuya  (chương trình trong ngày) hay các chương trình lưu trữ.
    » BBC phát thanh từ Luân Đôn: 9:30 tối
    » RFI (Radio France Internationale) LIVE 9:00 tối hay các chương trình lưu trữ
    » RFA: 6:30-7:30 sáng || 9-10 giờ tối LIVE
    hay các chương trình lưu trữ trong 7 ngày qua
    » VERITAS - Chân Lý Á Châu
    » Đài Phật Giáo Việt Nam

    Các đài phát thanh từ Hoa Kỳ:

    » Radio Bolsa
    (6-12pm-- 6-10pm / Mon-Fri)
    - Nam Calif. LIVE
    - Bắc Calif. LIVE
    » Little Saigon Radio
    - Nam Calif. LIVE 
    - Houston LIVE
    » Việt Nam Hải Ngoại LIVE
    » Saigon Radio Hải Ngoại LIVE


    « FreeVietNews.com


  •  



     


    Radio Việt Ngữ

    Các Đài Phát Thanh Việt Ngữ hướng về Việt Nam:

    .

     Các đài phát thanh từ Hoa Kỳ:

    • Radio Bolsa - LIVE
      (6-12pm-- 6-10pm / Mon-Fri)
    • Little Saigon Radio
      - Nam Calif. LIVE -- Houston LIVE
    • Việt Nam Hải Ngoại LIVE
    • Saigon Radio Hải Ngoại (4-10pm / Mon-Fri) LIVE
      Services | © 2008 - 2014