
Trong một ngôi nhà cũ ở miền Đông Boston một người đàn ông cao tuổi, lưng còng xuống, cặm cụi chăm sóc những cây phong lan quý hiếm trong văn phòng tồi tàn của mình. Chú chó Sally giống Labrador của ông nằm trên sàn giữa đống giấy tờ tài liệu nghiên cứu dõi mắt nhìn theo khi ông đi qua.
Tiến sĩ Gene Sharp chính là người nay được công nhận là tác giả chiến lược đằng sau cuộc lật đổ chính phủ Ai Cập.
Ông Gene Sharp là chuyên gia hàng đầu thế giới về cách mạng bất bạo động. Tác phẩm của ông đã được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ, và các cuốn sách của ông được bí mật chuyền qua biên giới trốn tránh cảnh sát mật ẩn ở khắp nơi trên thế giới.
Con đường dẫn tới cách mạng

- Phát triển một chiến lược để giành tự do và một tầm nhìn xã hội mà bạn muốn
- Vượt qua nỗi sợ hãi bằng những hành động kháng cự nhỏ bé
- Sử dụng màu sắc và biểu tượng để thể hiện tình đoàn kết kháng chiến
- Học từ các ví dụ trong lịch sử về thành công của các phong trào bất bạo động
- Sử dụng "vũ khí" bất bạo động
- Xác định các trụ cột của chế độ độc tài và phát triển một chiến lược phá hoại từng trụ cột đó
- Dùng các hành vi đàn áp, tàn nhẫn của chế độ như một công cụ để tuyển mộ người tham gia phong trào của mình
- Cách ly hoặc loại bỏ khỏi phong trào những người sử dụng hoặc chủ trương bạo lực
Khi ông Slobodan Milosevic ở Serbia và ông Viktor Yanukovych ở Ukraine bị sụp đổ trong các cuộc cách mạng màu tràn qua Đông Âu, các phong trào dân chủ này đều bày tỏ lòng biết ơn trước đóng góp của ông Sharp, nhưng ông vẫn còn ít được biết đến với công chúng.
Bất chấp những thành công này và cả một đề cử giải Nobel Hòa bình vào năm 2009, ông vẫn phải đương đầu với những khó khăn về tài chính thường xuyên, và bị cáo buộc là người của một tổ chức mà thực chất là CIA đứng đằng sau. Viện Albert Einstein đặt trụ sở ở tầng trệt nhà ông thực sự được vận hành bởi sức mạnh và nhân cách của Giám đốc điều hành rất trung thành của ông, Jamila Raqib.
Vào năm 2009 tôi bắt đầu quay một phim tài liệu theo dõi những ảnh hưởng mà tác phẩm của Gene Sharp đem lại. Tôi đã đi từ ngôi nhà trên tầng chót với những cây phong lan thanh bình của ông, qua bốn lục địa và cuối cùng tới Quảng Tahrir, nơi tôi ngủ cùng với những người biểu tình đã đọc tác phẩm của ông bằng đèn pin dưới bóng những chiếc xe tăng.
Gene Sharp không phải là Che Guevara, nhưng ông có thể có ảnh hưởng nhiều hơn bất cứ nhà lý luận chính trị nào khác cùng thế hệ mình.
Thông điệp chính của ông, đó là sức mạnh của chế độ độc tài xuất phát từ sự sẵn sàng vâng lời của những người mà họ chi phối - và rằng nếu người dân có thể phát triển những kỹ thuật để không cho chế độ có được sự đồng ý của mình thì chế độ đó sẽ sụp đổ.
Trong nhiều thập niên qua, người dân sống dưới các chế độ độc tài đã thực hiện một cuộc hành hương đến với Gene Sharp để được tư vấn. Bằng những viết lách của mình, ông đã giúp hàng triệu người trên thế giới giành được tự do mà không cần tới bạo lực. "Ngay khi bạn chọn chiến đấu dùng bạo lực tức là bạn đã lựa chọn chiến đấu chống lại vũ khí tốt nhất mà đối thủ của bạn có, mà bạn phải thông minh hơn thế chứ", ông quả quyết.
"Mọi người có thể hơi ngạc nhiên khi họ đến đây, tôi không nói cho họ biết phải làm gì. Họ phải học làm thế nào để cuộc đấu tranh bất bạo động có hiệu quả với họ vì thế họ phải tự làm điều đó."
Bốc lửa
Để làm điều đó, ông Gene Sharp cung cấp trong các cuốn sách của ông một danh sách 198 "vũ khí bất bạo động", từ việc sử dụng màu sắc và biểu tượng tới các đám tang giả và các cuộc tẩy chay.
Được thiết kế để trở thành công cụ tương đương với vũ khí quân sự, đây là những kỹ thuật được tập hợp từ một nghiên cứu có tính pháp y về phản khang và thách thức đối với chế độ độc tài qua suốt bề dày lịch sử.
"Những vũ khí bất bạo động là rất quan trọng bởi vì chúng cung cấp cho người ta một sự thay thế", ông nói. "Nếu người dân không có những công cụ này, nếu họ không thể nhìn thấy rằng họ rất mạnh, thì mỗi lần như vậy họ sẽ lại quay về với bạo lực và chiến tranh."
Sau khi cuộc nổi dậy Màu Xanh ở Iran năm 2009 nhiều người trong số những người biểu tình đã bị cáo buoojc tại các phiên xử họ đã sử dụng hơn 100 trong số 198 phương pháp của Sharp.
Cuộc đời bất bạo động
- Sinh tháng 1 năm 1928 tại Ohio
- Bị bỏ tù chín năm 1953-4 vì phản đối việc bắt nhập ngũ của thanh niên trong Chiến tranh Triều Tiên
- Albert Einstein viết lời tựa cho cuốn sách đầu tiên của ông - Gandhi Wields the Weapon of Moral Power: Three Case Histories, xuất bản vào năm 1960
- Luận văn tiến sĩ triết học tại Đại học Oxford D năm 1968 của ông, Chính trị của Đấu tranh bất bạo động, là cơ sở cho một cuốn sách với tiêu đề tương tự, được xuất bản năm 1973
- Giáo sư (nay là giáo sư danh dự) của Khoa Khoa học chính trị tại Đại học Massachusetts từ năm 1972, trong khi đồng thời giữ vị trí nghiên cứu tại Đại học Harvard
- Thành lập Viện Albert Einstein vào năm 1983, một tổ chức phi lợi nhuận thúc đẩy việc sử dụng bất bạo động trong xung đột trên thế giới
Tác phẩm được dịch và phân tán nhiều nhất của ông, cuốn Từ Độc Tài đến Dân Chủ, được viết cho phong trào dân chủ Miến Điện vào năm 1993, sau khi bà Aung San Suu Kyi bị cầm tù.
Bởi vì ông không có kiến thức chuyên môn về đất nước này ông đã viết một hướng dẫn lật đổ chế độ độc tài nói chung. Nhưng điểm yếu của Sharp đã trở thành sức mạnh của cuốn sách. Nó cho phép cuốn sách dễ dàng được dịch và áp dụng ở bất kỳ nước nào trên thế giới, vượt qua biên giới văn hóa và tôn giáo.
Cuốn sách bốc lửa theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen.
Từ Miến Điện, người ta truyền miệng qua Thái Lan tới Indonesia, nơi nó được sử dụng chống lại các chế độ độc tài quân sự ở đó. Thành công của cuốn sách giúp làm sụp đổ chính quyền của ông Milosevic ở Serbia vào năm 2000 và đã đẩy nó vào sử dụng trên toàn Đông Âu, Nam Mỹ và Trung Đông.
Khi nó tới Nga, dịch vụ tình báo Nga đã càn quét nhà và các cửa hàng bán sách này bị đốt cháy rụi một cách bí ẩn.
Người Iran trở nên lo lắng đến mức họ phát một bộ phim hoạt hình tuyên truyền trên TV nhà nước về ông Gene Sharp âm mưu lật đổ chính phủ Iran từ Nhà Trắng.
Tổng thống Hugo Chavez đã dùng bài phát biểu hàng tuần trên truyền hình của mình để cảnh báo đất nước ông rằng ông Sharp là một mối đe dọa đến an ninh quốc gia Venezuela.
Những bản sao bằng tiếng Ả Rập
Vào thời điểm tôi đến Quảng trường Tahrir, vào ngày 2 tháng Hai, nhiều người được đào tạo theo sách của Sharp đã bị giam giữ. Những người khác bị các cơ quan tình báo theo dõi chặt chẽ và các nhà báo đến thăm họ bị cảnh sát mật giam giữ nhiều giờ đồng hồ. Thiết bị quay của tôi đã bị tịch thu ngay khi tôi hạ cánh.
Khi tôi cuối cùng gặp được một trong những người tổ chức biểu tình ông đã từ chối quay phim ông nói về Sharp. Ông sợ rằng việc biết ở phạm vi rộng hơn những ảnh hưởng của Hoa Kỳ sẽ gây bất ổn cho phong trào, nhưng ông khẳng định rằng cuốn sách đã được phân phát rộng rãi bằng tiếng Ả Rập.
"Một trong những điểm chính mà chúng tôi sử dụng là ý tưởng của Sharp để xác định các trụ cột hỗ trợ cho một chế độ," ông nói. "Nếu chúng tôi có thể xây dựng mối quan hệ với quân đội, trụ cột lớn nhất của hỗ trợ ông Mubarak, để có được họ về phía chúng tôi, thì chúng tôi biết ông sẽ nhanh chóng đi tới hồi kết thúc."
Đêm đó khi tôi nằm ngủ tại một góc của Quảng trường Tahrir một số người biểu tình đã đến cho tôi xem các tin nhắn văn bản mà họ nói là từ quân đội, nói với họ rằng quân đội sẽ không nổ súng. "Chúng tôi biết họ và chúng tôi biết nay họ đang đứng về phía chúng tôi," họ nói.
Một trong những người biểu tình, Mahmoud, được trao các bản sao giấy tờ chuyền tay gồm danh sách 198 phương pháp nhưng ông không biết về nguồn gốc của những phương pháp này. Ông tự hào mô tả bao nhiêu biện pháp này đã được sử dụng ở Ai Cập, nhưng ông chưa bao giờ nghe nói về Gene Sharp.
Khi tôi chỉ ra rằng các loại vũ khí bất bạo động đó là tác phẩm của một học giả người Mỹ, ông phản đối mạnh mẽ. "Đây là một cuộc cách mạng Ai Cập", ông nói. "Chúng tôi đã không bị người Mỹ bảo phải làm gì."
Và tất nhiên đó là chính là những gì Sharp mong muốn.
Phim tài liệu của Ruaridh Arrow "Gene Sharp: How to Start a Revolution" (Gene Sharp: Cách khởi sự cách mạng), sẽ được trình chiếu vào mùa xuân 2011)
-------------
(bài đọc thêm)

Người Việt khác người Nhật
Ngô Nhân Dụng
Sau khi đọc tin, coi hình ảnh hoặc chứng kiến thái độ bình tĩnh của người Nhật Bản sau cuộc động đất và sóng thần vừa qua, chúng ta phải công nhận dân Nhật có những đức tính mà mình phải học. Thái độ khiêm cung này rất cần thiết; vì nếu mình không nhìn thấy, không biết thán phục những cái hay của người khác thì cũng không biết tự sửa chữa những cái dở của mình.
Nhưng không thể so sánh Việt Nam với Nhật Bản hay với bất cứ nước nào, để nói dân tộc này hơn hay kém một dân tộc khác. Người mình có những ưu điểm khác với người Nhật, cũng như người Nhật có những nhược điểm khác với mình.
Chúng ta có thể nhìn lại với con mắt quân bình, không thiên kiến, để thấy không phải cái gì mình cũng nên giống như người Nhật Bản. Có thể rút kinh nghiệm vụ động đất vừa qua để thấy xã hội Nhật Bản có một tinh thần khắc kỷ và trật tự rất mạnh; nhưng ngược lại họ quá cứng rắn, có khi thành cố chấp. Trong khi cũng phải công nhận dân Việt mình thì có tính mềm dẻo, linh động nhiều khi quá đáng, cần phải tránh.
Tuần báo Economist tường thuật sau trận động đất và sóng thần đánh vào làng Kesennuma, nơi có hơn 25 ngàn người chết hoặc mất tích, cho thấy guồng máy chính quyền Nhật Bản quá cứng nhắc. Vì động đất người dân phải xếp hàng chờ đợi mua xăng; trong khi, tuy các nhà máy lọc dầu gia tăng hoạt động, số cung cấp xăng dầu không giảm đến mức quá thiếu thốn; nhưng chính việc áp dụng luật lệ cũng làm cảnh thiếu xăng trầm trọng hơn.
Một điều luật ở Nhật bắt các trạm xăng phải dự trữ một số lượng đủ cung cấp cho 70 ngày. Ngay trong cảnh mới động đất xong, các trạm xăng khi thấy số dự trữ xuống tới mức 70 ngày cũng ngưng bán. Tất nhiên người tiêu thụ ở Nhật bình thản chấp nhận cảnh khan hiếm xăng do luật lệ gây ra như thế; vì bản chất họ luôn luôn trọng kỷ luật. Nhưng người ngoài thì ai cũng thấy trong hoàn cảnh khẩn cấp thì bảo vệ một điều luật như vậy là cố chấp! Phải đợi 10 ngày sau, chính phủ trung ương mới cho phép các trạm xăng chỉ giữ một khoảng dự trữ cho 45 ngày mà thôi!

Có thể nói hệ thống chính trị nước Nhật được xây dựng rất kiên cố, xã hội quá trật tự, không uyển chuyển để thích ứng với cơn nguy biến. Ngay khi bại trận, họ đã xóa bỏ chế độ quân phiệt độc tài, nhưng cả xã hội và hệ thống hành chánh vẫn tổ chức theo lối hàng dọc từ trên xuống dưới. Mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế đều đặt dưới sự điều hành của ba thế lực trong xã hội. Ðó là guồng máy hành chánh, các ngân hàng lớn, và các đại công ty. Chưa kể, một đảng chính trị gần như nắm độc quyền trong hơn nửa thế kỷ, vì đảng Tự do Dân chủ liên kết được cả ba thế lực trên.
Người dân Nhật thản nhiên chấp nhận tình trạng đó từ năm 1947 khi bản Hiến Pháp dân chủ được áp dụng. Nhờ đảng Tự do Dân chủ và các đồng minh của họ trong guồng máy hành chánh và giới tài phiệt đã mang lại cuộc sống thịnh vượng, với những người lãnh đạo có tư cách đáng kính trọng cho nên dân Nhật vẫn chấp nhận.
Nhưng một hệ thống chính trị tập trung và chỉ huy như vậy chứa sẵn mối rủi ro, nếu dân trí không cao hoặc nếu người cai trị không lương thiện. Thói quen răm rắp tuân theo lệnh trên của người dân và quyền hành tập trung vào guồng máy hành chánh đó không còn thích hợp khi phải đối phó với những biến cố bất ngờ lớn.
Người Nhật Bản đã nhìn thấy nhược điểm đó một lần trong vụ động đất ở Kobe năm 1995. Năm đó, chính phủ Nhật lúng túng và chậm chạp trước tai biến lớn lao (phải công bằng mà nói thêm rằng chính phủ Mỹ cũng lúng túng như vậy trong thời gian bão Katrina). Cuộc động đất Kobe đã khiến nhiều người Nhật cảm thấy mất lòng tin vào khả năng của họ.
Năm nay chính phủ Naoto Kan đã phản ứng rất nhanh trong việc trấn an tinh thần dân chúng. Các công chức bộ Kinh Tế, Thương Mại và Công Nghệ làm việc ngày đêm, có lúc làm việc trong bóng tối để tiết kiệm điện. Nhưng guồng máy hành chánh vẫn chạy theo thói quen cố hữu.
Một nghị sĩ đảng đối lập, ông Kouta Matsuda đã cố gắng đi cấp cứu vùng Miyagi mà ông là đại biểu. Vốn là một nhà kinh doanh thành công, ông Matsuda đã lái một chiếc xe tải nhỏ 4 tấn chở phẩm vật tới giúp các cử tri của mình. Nhưng cảnh sát không cho phép ông lái chiếc xe đó trên con đường dành cho xe tải. Bởi vì đã có lệnh con đường đó được dành riêng cho các xe cấp cứu. Ông cho biết tại Miyagi còn rất nhiều thực phẩm nhưng thiếu một hệ thống phân phối hữu hiệu.
Sau đó, ông Matsuda đã mượn môt chiếc máy bay trực thăng chở thức ăn, thuốc men và dụng cụ để sạc điện cho máy điện thoại di động tới Miyagi; nhưng cảnh sát không cho phép máy bay đáp xuống. Cũng vì đã có lệnh cấm. Ông bèn xin phép được thả các phẩm vật từ máy bay xuống đất; lại bị từ chối, vì làm như vậy là trái luật lệ, mặc dù chiếc trực thăng bay là là chỉ cách mặt đất có một mét!
Người Nhật rất trọng kỷ luật. Một chuyến xe lửa phải ngưng chạy trong 16 tiếng đồng hồ, nhưng tất cả các hành khách vẫn bình tĩnh và lễ độ; các phòng vệ sinh vẫn sạch sẽ không một vết nhơ. Ðức tính kỷ luật của cả một dân tộc rất đáng kính phục. Nhưng thi hành luật lệ một cách cứng nhắc thì không nên, sẽ trở thành cố chấp.
Người Việt Nam trái lại; có thói quen sống linh động, “chín bỏ làm mười.” Nhưng biến báo, uyển chuyển thái quá thì có khi sẽ thành vô kỷ luật.
Giữa hai thói xấu, tính cứng nhắc và thiếu kỷ luật, chúng ta không thể nói thói nào xấu hơn. Nhưng người ta chỉ phạm lỗi cứng nhắc hoặc cố chấp khi phải đối phó với những hoàn cảnh bất thường. Nghĩa là những trường hợp hiếm hoi. Trong hoàn cảnh bình thường, giữ đúng kỷ luật thì không gọi là cố chấp nữa. Còn thói “biến báo” có khi bất chấp kỷ luật thì nếu đã tập nhiễm sẽ khó bỏ; có thể sẽ trở thành một thói xấu thường xuyên, xã hội sẽ khó sống hạnh phúc.
Tại sao người Nhật với người Việt mình
khác nhau như vậy?
Những thói quen có tính cách tập thể này chắc đã thành hình suốt chiều dài lịch sử mỗi dân tộc. Trong hơn một ngàn năm gần đây, lớp người được kính trọng nhất trong xã hội Việt Nam là các nhà Nho. Ở Nhật Bản, lớp người ưu tú là những võ sĩ, đẳng cấp bushi xuất hiện từ thời đại Bình An (Heian, 794-1185). Năm 1185 Tướng quân Minamoto Yoritomo biến tầng lớp Samurai thành một định chế chính thức. Họ cũng được rèn luyện theo luân lý Nho giáo giống như các nhà Nho Việt Nam; nhưng người Nhật lấy các võ sĩ làm gương. Nho giáo truyền vào nước Nhật qua ngả Hàn Quốc.
Năm 285, Vua Keun Ch'ogo thuộc triều đại Paekche đã cử một nhà Nho là Wang In đem 10 chương trong sách Luận Ngữ và cuốn Nhất Thiên Tự (Senjimon) sang Nhật Bản. Nho giáo được đưa sang Việt Nam sớm hơn; chính thức bắt đầu từ thời Sĩ Nhiếp (187-226).
Cùng học một hệ thống đạo lý nhưng ở nước Nhật thì đẳng cấp võ sĩ là tiêu biểu cho nền đạo đức, nhấn mạnh đến lòng trung thành tuyệt đối với chủ nhân, tức là các sứ quân; trong khi đó ở nước ta chính các nhà Nho, tức là những văn nhân, là lớp người chuyên chở đạo lý.
Văn khác với võ; người Nhật cương còn người mình nhu. Vì kỷ luật là điều kiện sống còn của các người ra chiến trận, còn các nhà văn cần được tự do, và nghĩ đến tình hơn lý, trọng những cá tính đặc thù hơn tính chất đồng nhất của tập thể. Dân tộc nào cũng cần biết khai triển những ưu điểm của nền văn hóa mình trong khi phải học hỏi người khác.
Khung cảnh thiên nhiên có thể thay đổi lối sống. Khổng Tử đã nhận xét về ảnh hưởng của địa dư trên tính khí con người: “Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường dã; quân tử cư chi. Nhẩm kim cách, tử chi bất yếm, bắc phương chi cường dã; nhi cường giả cư chi” (Dạy dỗ người với lòng khoan nhu; không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của người phương Nam; người quân tử theo đó. Nằm ngủ với áo giáp, binh khí; chết cũng không sợ, đó là sức mạnh của người phương Bắc; người hùng mạnh theo đó, Trung Dung, chương 10).
Trong câu trên Khổng Tử nói đến những giống dân không phải người Hán sống ở phía Nam Trường Giang và phía Bắc vùng châu thổ Hoàng Hà. Dân Nhật Bản có sức mạnh của người phương Bắc, người Việt Nam có sức mạnh của người phương Nam.
Nhu quá thành vô kỷ luật, cương qua thành cố chấp. Mỗi dân tộc Việt và Nhật có nhiều ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Cả hai nước Việt Nam và Nhật Bản đều chịu ảnh hưởng của luân lý Nho giáo cũng như dân Hàn Quốc; và mỗi nước đã phát triển trên những con đường khác nhau.
Chúng ta không nên thấy những thói quen xấu của người Việt Nam gần đây, mà nghĩ rằng đó là những tật xấu có từ lâu, do bản tính dân tộc. Thực ra đại đa số những thói xấu như sống vị kỷ, vô kỷ luật, trọng tiền tài; đến cảnh quan chức tham nhũng, vô trách nhiệm, khinh dân, như chúng ta đang chứng kiến trong xã hội hiện nay đều là do ngoại cảnh hoặc gây ra, hoặc đẩy lên đến mức độ quá cao, quá lộ liễu. Vì thượng bất chính, hạ tất loạn, điều này ai cũng biết.
Nhật Bản là một nước dân chủ, tinh thần võ sĩ và luân lý Nho giáo vẫn tồn tại mặc dù chế độ chính trị thay đổi. Nhưng truyền thống của dân Nhật cũng đưa tới những nhược điểm trong hệ thống chính trị, hiện rõ qua vụ động đất vừa qua. Nổi bật nhất là trong vụ nhà máy điện nguyên tử Daiichi.
Như trên đã nói, hệ thống chính trị Nhật Bản tuy là dân chủ nhưng vẫn quá tập trung. Ðặc biệt là giới tư bản nắm guồng máy tài chánh, kinh tế, cộng tác quá chặt chẽ với hệ thống hành chánh. Người Nhật đoàn kết và tin cẩn nhau, nhìn ai cũng thấy người ta lương thiện, chính trực, ai cũng trọng công ích, có tinh thần trách nhiệm; đó là một ưu điểm tập thể nhờ truyền thống võ sĩ đạo.
Nhưng khi những công chức có nhiệm vụ kiểm soát giới quản lý trong lãnh vực tư mà tin tưởng quá đáng vào những người mình phải kiểm soát, thì họ rất dễ phạm những sai lầm. Tình trạng cộng tác mật thiết đó khiến trong hệ thống bị thiếu thói quen chất vấn, tranh luận, thói quen nghi ngờ, phải kiểm tra và tái kiểm tra.
Khi nhà quản lý bỏ qua không quan tâm đến những báo động về mối rủi ro mà giới công chức đồng ý một cách dễ dàng thì công chúng sẽ lãnh hậu quả xấu. Mặc dù giới công chức Nhật không cấu kết với giới quản lý kinh doanh, nhưng họ có thể làm không tròn nhiệm vụ kiểm soát chỉ vì hai bên đoàn kết và tin cẩn nhau quá đáng!
Từ mười năm qua nhiều chuyên gia độc lập đã báo động công ty điện lực TEPCO, chủ nhân nhà máy Daiichi rằng các lò nguyên tử ở đó, do các kỹ sư Mỹ thiết kế từ nửa thế kỷ trước, đã lỗi thời, Nhưng các báo động đó bị bỏ qua. Các chuyên viên ở nhà máy đã không thực hiện đủ những cuộc thanh tra kỹ thuật định kỳ bắt buộc, kể cả lần trước ngày động đất hai tuần.
Khi động đất xẩy ra, các lò nguyên tử đang giữ chứa nhiều thỏi nguyên liệu hạt nhân đã dùng rồi, nhiều hơn con số tối đa được giữ. Một tháng trước ngày động đất, các công chức đã chấp thuận lời yêu cầu của công ty TEPCO triển hạn việc sử dụng sáu lò nguyên tử thêm 10 năm nữa mặc dù đã có những báo động là sức chịu đựng quá nặng nề rồi.
Không ai nghi ngờ giới công chức Nhật Bản đã dễ dãi với công ty điện lực vì được hối lộ. Tuy nhiên, trong hệ thống điều hành kinh tế cũng như chính trị một quốc gia, sau khi tạo ra những định chế cân bằng để tự kiểm soát thì vẫn còn phải tạo thêm thói quen chất vấn, tranh luận với nhau, chứ không thể nhân danh tình đoàn kết mà hoàn toàn tin tưởng nhau. Ðây là một vấn đề văn hóa chứ không còn là chính trị nữa.
Tất nhiên, dù hệ thống chính trị nước Nhật có nhược điểm như thế, nó cũng trăm lần tốt hơn một hệ thống chính trị hoàn toàn dựa trên tham nhũng và tinh thần bè đảng, bất chấp công ích và đạo lý. Nhưng xin đừng ai nghĩ rằng tình trạng xấu xa tàn tệ đó là do bản chất của người Việt Nam tạo ra! Không người Việt Nam nào chấp nhận tình trạng đó. Khi so sánh với nước ngoài, ai cũng cảm thấy nhục nhã.
Ngô Nhân Dụng

Một vài ý kiến tham luận vào
"Nhận định tình hình đất nước hiện nay".
(ngày 4 tháng 6 năm 2011 tại Little Saigon)
1- NHỮNG ÁP LỰC DO BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ
Dân số Việt Nam tháng 11-2010 là 89.033.000, thành phần gồm có:
- lực lượng lao động 48%
- dưới 15 tuổi 44%
- trên 65 tuổi 14%
Chỉ số lão hóa hiện nay ở Việt nam 36% (so với Singapour 85%, Thái lan 52%)
Tăng Trưởng Dân Số
Dự báo của US Census Bureau và Thống Kê VN thì dân số sẽ tăng lên :
- năm 2030 ước lượng là 104.148.000 (bình tuyển giữa 103.117.000 và 107.808.000).
- năm 2050 ước lượng là 111.829.000 (bình tuyển giữa 108.707.000 và 119.852.000).
Theo dự báo này, trong hai hay bốn thập niên nữa, tiên liệu sẽ có nhiều biến đổi:
- Sinh xuất giảm, lớp tuổi học sinh sẽ giảm, tuổi lao động tăng, tuổi già tăng, biểu đồ dân số sẽ không có hình
tháp nhọn, mà giống hình cái chum (lu nước).
- Lớp tuổi tiểu học hiện nay là 6,9 triệu sẽ giảm xuống 6,5 triệu vào năm 2020 và 6,3 vào năm 2030.
- Lớp tuổi trung học hiện nay là 9,1 triệu sẽ giảm mạnh hơn.
- Lớp tuổi đại học giảm 24% vào năm 2030, nhưng tỷ lệ đi học đại học tăng thêm.
Hiện nay đầu tư giáo dục ở Việt Nam là 2,1%, so với tỷ lệ thế giới 5,4%.
- Lực lượng lao động tăng cả về tuyệt đối lẫn tương đối, có thể lên đến 65% dân số
- Lớp tuổi già tăng thêm, tốc độ lão hóa nhanh hơn tốc độ dân số. Theo quy định của Liên Hiêp Quốc một dân số có tuổi vàng cao hơn 10% là một dân số già.
Hệ quả của những biến động dân số này sẽ gây ra áp lực lớn trên nhiều vấn đề quan trọng: lương thực cho người nghèo, giải quyết việc làm cho giới lao động, bảo đảm an sinh xã hội, y tế cho mọi lớp tuổi, thuốc men, mức sống cho người già và đầu tư nâng cao phẩm chất giáo dục v.v...
Dân số 2010 Dự báo dân số 2050
2- MỨC SỐNG NGƯỜI DÂN
VÀ TÌNH TRẠNG NGHÈO ĐÓI
Theo thống kê của Việt Nam (có sự cộng tác của UNDP Liên Hiệp Quốc), năm 2008 trung bình một tháng mỗi người:
THU NHẬP
được 995.200 đồng (thành thị: 1.605.200, nông thôn: 762.200)
Tiền lương, tiền công 345.500
Nông nghiệp 202.300
Lâm nghiệp 6.900
Thủy sản 29.900
Công nghiệp 50.400
Xây dựng 5.300
Thương nghiệp 94.900
Dịch vụ 74.900
Khác 57.700
CHI TIÊU
mất 792.500 đồng (thành thị 1.245.300, nông thôn 619.500), chia ra như sau:
Ăn, uống, hút 373.400
Tiêu dùng khác 331.500
Ngoại khoản 87.600
CHI TIÊU Y TẾ
và chăm sóc sức khỏe hàng tháng (2008) của một nhân khẩu:
Cả nước 45.100 Thành thị 63.900 Nông thôn 38.000
Khám chữa bệnh 32.900 44.800 28.400
Mua thuốc 9.600 14.900 7.500
Dụng cụ 600 1.100 400
Bảo hiểm 2.100 3.100 1.700
TÌNH TRẠNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM
Việt Nam đã ký vào Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc (tháng 9-2000) theo đó mục tiêu đầu tiên trong 8 mục tiêu nhằm kết thúc vào năm 2015 là xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói.
Thống kê Việt Nam năm 2008 cho biết tỷ lệ hộ nghèo là 13,4 % (cả nước: 8,7; thành thị 6,7; nông thôn16,1), tỷ lệ nghèo chung là 14,5% (thành thị 3,3, nông thôn 18,7)
Chuẩn nghèo thế giới quy định thu nhập bình quân một người mỗi năm là 730 USD trong khi đó thu nhập trung bình hàng năm của người Việt Nam vẫn dưới tiêu chuẩn đó, dù có điều chỉnh về giá trị so sánh tương đương vẫn chưa qua được tiêu chuẩn nghèo. Trước kia Việt Nam đã định chuẩn nghèo, bình quân mổi tháng 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở thành thị. Tháng 9 -2005, Bộ Lao động Thương Binh và Xã Hội áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 đã tăng lên 270.000 đồng/người/tháng và 350.000 đồng/người/tháng tương ứng với nông thôn và thành thị.
**
Hy vọng những dữ liệu bên trên có thể góp phần vào việc thảo luận về "nhận định tình hình đất nước hiện nay".
Phạm Hữu Trác
(Mặc Giao)
6-2011

NHẬN ÐỊNH
VỀ TÌNH HÌNH ÐẤT NƯỚC HIỆN NAY
Mặc Giao
Nếu kể những điều tích cực đang xảy ra tại Việt Nam, chúng ta có thể kể trong vài phút. Nhưng nếu nói tới những điều tiêu cực, chúng ta có thể nói cả ngày vẫn chưa hết và sẽ làm người nghe phải than: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Vì vậy chúng tôi chỉ trình bầy những gì chúng tôi nghĩ là cần phải nói.
1. Một nền kinh tế vô định hướng
Chúng ta nhìn nhận Việt Nam đã đạt một số tiến bộ về kinh tế từ năm 1986, khi Ðại Hội 6 của đảng Cộng Sản Việt Nam chọn Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và quyết định áp dụng kinh tế thị trường, mở cửa cho tư bản ngoại quốc đến đầu tư. Ðể thực hiện điều này, nhà nước Việt Nam đã phải ban hành một số luật lệ và áp dụng một số biện pháp mới khả dĩ đáp ứng nhu cầu giao lưu quốc tế và tạo một bộ mặt coi được cho “quan trên trông xuống, người ta trông vào”.
Từ đó, đời sống của dân chúng cũng đỡ bị bóp nghẹt, không còn nạn tem phiếu, xếp hàng cả ngày, ngăn sông cấm chợ. Kinh tế tự do như một giòng nước tìm chỗ chảy, chỗ nào không bị be bờ là nước sẽ tràn tới. Vì vậy, sự tiến bộ tương đối về kinh tế trong gần ba thập niên qua là điều tất nhiên.
Lợi tức thường niên tính theo đầu người từ 300 Mỹ kim cách đây 25 năm đã tăng lên 1,200 Mỹ kim trong năm nay (theo Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng), dù còn thua rất xa những nước lân bang như Thái Lan, Mã Lai, Singapore (1). Một số chính phủ và nhân vật chính trị cổ võ quan điểm nên giúp các chế độ độc tài phát triển kinh tế. Một khi kinh tế khá lên, tự do và dân chủ cũng sẽ triển nở, vì lúc đó dân chúng sẽ đòi thỏa mãn những nhu cầu khác ngoài nhu cầu cơm áo. Luận điểm này đã được chứng minh ngược lại với các trường hợp Trung Hoa và Việt Nam. Nó chỉ còn giá trị biện minh cho sự cộng tác với những chế độ đàn áp con người.
Áp dụng kinh tế thị trường là đi ngược điểm cốt lõi của chủ thuyết cộng sản, theo đó quyền tư hữu không được công nhận, tài sản do mọi người làm ra phải được tập trung trong sự quản trị của nhà nước vô sản chuyên chính và sẽ được phân phối theo nhu cầu. Vì vậy, để khỏi mang tiếng hoàn toàn đánh mất lập trường cơ bản, kinh tế thị trường được gắn thêm cái đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghiã”.
Nếu xã hội chủ nghiã được hiểu là thực thi tình đoàn kết liên đới (solidarity) theo chế độ dân chủ xã hội (social democracy) như ở các nước Bắc Âu: người giầu giúp người nghèo, người khỏe mạnh giúp người đau ốm, người trẻ nuôi người già, người có việc nuôi người thất nghiệp, nhà nước chỉ đóng vai trò điều hành và phân phối một cách trong sáng, thì đó là điều vạn phúc cho dân. Thế nhưng định hướng xã hội chủ nghiã trong ý nghĩ và hành động của cộng sản Việt Nam chỉ là “quốc doanh chủ đạo”.
Những công ty nhà nước nắm hết những ngành sản xuất và doanh thương quan trọng. Tại những quốc gia dân chủ bình thường, những công ty quốc doanh chỉ được duy trì một cách hạn chế để làm đầu tầu kéo chính sách kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn cho việc cung cấp những dịch vụ có lợi ích công cộng hay thiết yếu cho an ninh quốc phòng (bưu điện, giao thông, dầu khí, điện nước …). Nhà nước cộng sản Việt Nam có giảm bớt một số công ty quốc doanh qua biện pháp cổ phần hóa, nhưng vẫn giữ lại nhiều công ty không thuộc lãnh vực phục vụ công ích và an ninh quốc gia.
Thêm vào đó, dưới trào Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, những tập đoàn doanh thương nhà nước có tầm vóc bao trùm với số vốn khổng lồ được thành lập, như Vinashin (kỹ nghệ tầu thủy), công ty tài chánh ALC II (lease financing, cho vay tài khoản tạo mãi thiết bị sản xuất). Các tập đoàn này được đặt trực thuộc thủ tướng. Việc giữ lại cái đuôi định hướng xã hội chủ nghiã với những đại công ty và tập đoàn kinh tế còn có những tính toán không thể nói ra:
Rút tiền từ các công ty để tài trợ cho đảng cộng sản,
Làm giầu cá nhân qua những món tiền đi đêm
khi ký hợp đồng và chia chác hoa hồng,
Gài người thân tín vào các chức vụ chỉ huy
các công ty để nắm luôn quyền lực kinh tế.
Tư lợi thì như thế, nhưng trách nhiệm thì vô can. Công ty nào lỗ vốn đã có tiền của quốc gia đắp bù. Vinashin nợ 80,000 tỷ đồng VN trước khi tái cơ cấu, trong số nợ này 750 triệu Mỹ kim là trái phiếu chính phủ (VNExpress 24-5-2011). Vinashin không có tiền trả nợ và lãi định kỳ cho các ngân hàng quốc tế khiến nhà nước phải ứng thêm 500 triệu Mỹ kim. ALC II lỗ 3,004 tỷ đồng VN trong năm 2009, và đến cuối năm 2010 công ty này vừa lỗ vừa làm thất thoát tới 4,000 tỷ đồng (theo Ban Kiểm Toán công ty ALC tháng 10, 2010). Tổng công ty xăng dầu lỗ 3,600 tỷ trong 3 tháng (2).
Lối làm ăn phản kinh tế này chứng tỏ những người cầm quyền không dám tiến thẳng tới nền kinh tế thị trường tự do, vì chưa dám lột bỏ nhãn hiệu xã hội chủ nghiã (dù nội dung đã khác hết rồi), sợ “diễn biến hòa bình” xảy ra và vì còn muốn tiếp tục thủ lợi qua chính sách kinh tế nhập nhằng này, đúng như Hà Sĩ Phu nhận định: “Ðổi mới là lọc lấy cái béo bở, còn tự do dân chủ thì vứt bỏ…Làm kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã chính là đứa con lai láu cá đó. Trong cách tính toán ấy làm gì có dân?” (Chia Tay Ý Thức Hệ).
Trong khi đó việc để cho hàng lậu tràn ngập thị trường nội địa, đặc biệt xuất phát từ Trung Quốc, gây thất thâu cho ngân sách quốc gia và giết chết nhiều ngành công nghệ bản xứ. Nạn nhân viên thuế vụ kiếm tiền riêng trong việc thỏa hiệp với người đóng thuế cũng gây thiệt hại cho công qũy những số tiền khổng lồ không ai ước lượng nổi.
Làm kinh tế như thế thì sớm muộn cũng dẫn đến phá sản. Hậu qủa trông thấy là đồng bạc VN mất giá 20% trong vòng ba năm nay, chính phủ VN nợ ngoại quốc 29 tỷ Mỹ kim, mỗi năm phải trả tiền lời 4 tỷ Mỹ kim. Chỉ trong tháng 5-2011, nhập cảng nhiều hơn xuất cảng 1.7 tỷ Mỹ kim, ngoại tệ dự trữ chỉ còn 12,2 tỷ (theo Tổng Cục Thống Kê), không đủ trả tiền lời và mua hàng nhập cảng cho năm nay, trong đó có những nguyên liệu cần thiết cho các nhà máy. Chắc chắn nhà nước sẽ phải đi vay nợ thêm, dù số nợ công đã tăng tương đương 52,6% tổng sản lượng nội địa (GDP).
Hệ thống ngân hàng rối loạn. Ngân hàng nhỏ vay tiền ngân hàng lớn của nhà nước với lãi xuất 20% để chi phí cấp thời và cho vay lại với lãi xuất 14% theo luật định (đài BBC 23-5-2011, theo hãng tin tài chánh Bloomberg). Nợ xấu không có khả năng trả lên tới 60% (3). Lối làm kinh tế giật gấu vá vai và “mì ăn liền” kiểu này sẽ tạo nguy cơ phá sập nền kinh tế còn non nớt.
Tệ hại hơn cả là nạn vật giá leo thang. Giá tiêu thụ tăng 17,51% trong tháng 4 và 19,78% trong tháng 5-2011 so với cùng thời gian hai tháng này năm trước (theo Bloomberg), khiến đời sống của những người có lợi tức thấp càng thêm cơ cực. Nhà nước tìm cách giảm lạm phát bằng việc tăng lãi xuất cho vay để hạn chế khối tiền tệ lưu hành.
Giải pháp này chẳng những không hữu hiệu với hoàn cảnh Việt Nam hiện tại mà còn gây khó khăn cho các cơ sở doanh thương ít vốn, khiến các cơ sở này phải thu hẹp hoạt động, sa thải nhân công, làm cho kinh tế trì trệ thêm. Kinh tế Việt Nam đang đi theo đường nào và sẽ đi về đâu?
2. Một đất nước bị bán rẻ,
bị khai thác và tàn phá
Bổn phận đầu tiên của những người có trách nhiệm quản trị đất nước là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ quốc gia và bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Những người cầm quyền cộng sản VN đã làm gì?
- Họ đã nhượng một phần lãnh thổ và lãnh hải cho cộng sản Trung Hoa để đổi lấy sự ủng hộ chính trị cho riêng đảng cộng sản của họ. Ðược đà, cộng sản Trung Hoa đã leo thang đòi chủ quyền đảo và biển từ Hoàng Sa cho tới hết Trường Sa theo hình lưỡi bò do họ tự vẽ. Ngoài những lời phản đối lấy lệ, cộng sản VN không có một hành động cụ thể nào, kể cả hành động pháp lý hòa bình nhất, để bảo vệ những gì đã mất hay đe dọa bị mất.
Ngay khi những chiếc tầu của Trung Quốc xâm nhập hải phận VN để vét hải sản (mỗi ngày có từ 100 đến 200 tầu đánh cá Trung Quốc xâm nhập và khai thác biển VN) hay kéo tầu, bắt giết ngư dân VN, nhà cầm quyền VN chẳng những không có biện pháp bảo vệ lãnh hải và công dân của mình mà còn không dám gọi đích danh đó là tầu của Trung Quốc, chỉ dám nói “những tầu lạ”.
Thái độ thuần phục và sợ hãi của nhà cầm quyền VN đã khuyến khích Trung Quốc leo thang trong hành động xâm lăng để tự xác nhận toàn thể vùng biển vẽ hình lưỡi bò là của họ:

* Ngày 26-5-2011, khi tầu Bình Minh 02 của Tập Ðoàn Dầu Khí VN đang khảo sát địa chấn trong lãnh hải VN cách mũi Ðại Lãnh, tỉnh Phú Yên 116 hải lý, nằm sâu trong giới hạn 200 hải lý thềm lục địa theo Công Ước Luật Biển năm 1982 do Liên Hiệp Quốc ấn định, ba tầu hải giám của Trung Quốc kéo đến hăm dọa và cắt đứt những dây cáp thăm dò. Trước việc xâm lăng trắng trợn như thế, lần đầu tiên Bộ Ngoại Giao cộng sản VN phải lên tiếng phản đối Trung Quốc một cách mạnh mẽ và đòi bồi thường.
Trung Quốc trả lời một cách phách lối: “Những gì mà các cơ quan liên quan của Trung Quốc đã làm là các hoạt động giám sát và thực thi luật pháp hoàn toàn bình thường ở khu vực biển thuộc thẩm quyền tài phán của Trung Quốc” (Phát ngôn viên Khương Tử Du của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc. Theo TTXVN).
* Ngày 31-5-2011, ba tầu quân sự của Trung Quốc đã nổ súng uy hiếp, ngăn cản bốn tầu đánh cá của ngư dân Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, trên vùng biển thuộc chủ quyền VN, gần đảo Ðá Ðông, thuộc quần đảo Trường Sa. Ngư dân đã phải quay mũi tầu trốn chạy.
* Ngày 9-06-2011, 3 tầu Trung Quốc lại cắt dây cáp thăm dò của tầu Viking 2 do Petro Vietnam thuê ngay ở ngoài khơi Vũng Tàu.
Vấn đề đặt ra là hải quân VN ở đâu mà để tầu Trung Quốc tự do ra vào lãnh hải VN như vào ao nhà của họ? Hoặc Hải Quân VN có mặt tại đó nhưng không dám phản ứng vì chưa nhận được “lệnh của Bộ Chính Trị”? Sau những lời phản đối, cộng sản VN sẽ làm gì, hay lại để cho mọi chuyện đi vào quên lãng, và chờ lên tiếng phản đối khi có vụ khác xảy ra? Thái độ nhu nhược này phải được coi như hành động đồng lõa, đầu hàng và bán nước, một tội mà nhân dân Việt Nam, dù thuộc bất cứ lập trường chính trị nào, không thể tha thứ.

- Họ đã cho Trung Quốc băm vằm lãnh thổ, khai thác bauxite tại cao nguyên Trung phần, gây ô nhiễm môi trường, cho chuyên viên và thợ thuyền người Hoa đến đóng chốt tại những địa điểm có tính cách chiến lược và an ninh quốc phòng. Họ còn cho người nước ngoài thuê dài hạn 50 năm những khu rừng đầu nguồn thuộc 18 tỉnh trải dài từ Bắc xuống Nam, chiếm 1% diện tích lãnh thổ. Rừng cho thuê bị đốn cây có sẵn để trồng những loại cây khác theo ý muốn của người thuê. Các chính quyền địa phương tại những tỉnh ven biển cũng bắt chước trung ương khoanh biển và bờ biển cho các công ty ngoại quốc thuê để xây khách sạn, lập bãi tắm riêng, nuôi cấy thủy sản trong những vùng biển rộng hàng ngàn mẫu tây, đe dọa thay đổi sinh thái của toàn thể vùng biển Việt Nam (4).
- Họ đã rút ruột những công trình xây cất khiến giá thành cao và phẩm chất kém. Cụ thể là những công trình mới được xây nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long, như công viên Hòa Bình và đại lộ Thăng Long, tốn kém hàng tỷ Mỹ kim nhưng đã lún lở, bong nứt, đọng nước ngay khi lễ hội vừa xong. Nguyên nhân là những người có quyền đã ăn chịu với nhà thầu, mọi công đoạn đều có đút lót, chia chác, khiến số tiền thực sự dành cho công trình còn lại không bao nhiêu. Hậu qủa tự nhiên là những công trình được thực hiện bôi bác bằng những vật liệu kém, thiếu tiêu chuẩn, sẽ chóng hư hỏng.
- Họ để mặc cho các công ty kỹ nghệ tự do tháo nước thải đầy hóa chất độc hại xuống các giòng nước, tự do xả khói độc lên bầu trời, gây ô nhiễm môi trường và tàn phá sức khỏe của người dân. Công ty Vedan đã biến sông Thị Vải thành một giòng nước độc. Có những làng ở miền Bắc chìm trong tang thương vì có rất nhiều dân làng đã chết vì bệnh ung thư do khói độc và nước thải của những xưởng kỹ nghệ gần đó gây ra. Nếu tình trạng này tiếp tục, chỉ trong một thời gian ngắn nữa, đất nước Việt Nam sẽ biến thành đất chết.
Ðất nước bị bán rẻ, bị khai thác, bị bòn rút, bị bỏ mặc cho bọn con buôn vô lương tâm tàn phá, chỉ vì lợi riêng của những người cầm quyền cộng sản.
3. Một dân tộc bị bóc lột và trấn áp
Dân tộc VN đã trở thành công cụ cho đảng cộng sản thực hiện giấc mơ quyền lực, không đếm xỉa tới xương máu của nhân dân và tài nguyên của quốc gia. Họ cũng dùng dân Việt để thử nghiệm việc áp dụng chủ thuyết cộng sản: hận thù giai cấp, cải cách ruộng đất, quản lý bao tử, kiểm soát ý nghĩ và kiểm soát cả niềm tin. Khi thất bại và tình thế đòi hỏi, họ đổi sang đường lối gọi là cởi mở với chiêu bài kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã, vừa để giải quyết vấn đề kinh tế, vừa để bọn họ có cơ hội làm ăn, vơ vét theo kiểu mới. Vì thế, nhiều tệ nạn phát sinh và được tự do phát triển
- Nạn tham nhũng đã lan tràn và luồn lách vào mọi tế bào xã hội, không chỉ riêng trong guồng máy công quyền. Lớn tham nhũng lớn, nhỏ tham nhũng nhỏ, dân cũng tham nhũng với nhau. Muốn được việc phải có qùa cáp hay phong bì lót tay. Xin việc, xin học đều phải hối lộ. Muốn con được điểm tốt thì phải biếu xén thầy cô, cho con học thêm tại nhà thầy cô. Người lớn bị cướp tiền. Trẻ con bị cướp tuổi thơ, không còn giờ vui chơi, mơ mộng. Tệ nạn tham nhũng không thể chữa nếu không thay đổi cơ chế chính trị và không có quyết tâm diệt tham nhũng và làm gương từ cấp cầm quyền thượng tầng.
- Thiếu vắng những biện pháp giáo dục, y tế và xã hội nhằm phục vụ đại đa số nhân dân. Giáo dục công nhưng không miễn phí, mỗi trường tự ý đặt ra những lệ phí bắt phụ huynh phải trả. Học sinh khi thi tốt nghiệp trung học phổ thông cũng phải đóng tiền ủng hộ nhà trường trước khi rời trường. Nhiều gia đình không kham nổi đành cho con nghỉ học. Con số trẻ em bỏ học và thất học gia tăng.
Dịch vụ y tế đã biến thành dịch vụ làm tiền. Bệnh nặng hay nhẹ đều phải có tiền mới được chữa trị. Nhà nước mới gia tăng lệ phí trên 350 dịch vụ y tế. Người bệnh không có tiền mà lết đến nhà thương sẽ bị chửi bới và xua đuổi như ăn mày, chỉ còn nước về nhà chờ chết. Những gia đình nghèo, những người góa bụa, những trẻ em không người nuôi dậy, những người già cả không ai phụng dưỡng sống lây lất, nhà nước không nhòm ngó tới. Nhiều tổ chức từ thiện trong và ngoài nước đã phải làm thay những việc đáng lẽ nhà nước phải làm.
- Tước đoạt quyền công dân và những tự do căn bản trong đó có tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do bầu những người đại diện để điều khiển đất nước được ghi rõ trong Hiến Pháp nhưng trên thực tế bị cấm đoán triệt để. Ai xử dụng quyền chính đáng của mình sẽ bị vu oan, bị khép vào tội vi phạm an ninh quốc gia và bị xử theo điều 88 Luật Hình Sự.
Một thứ quyền cao trọng nhất thuộc phần tâm linh của con người, tự do tôn giáo, cũng bị cấm đoán dưới nhiều hình thức tinh vi. Dẹp được giáo hội nào thì dẹp luôn. Không dẹp được thì dùng biện pháp chia để trị bằng cách lập ra giáo hội mới, xúi bẩy phân chia giáo hội chính truyền thành nhiều phe phái (Phật Giáo), lập những ban trị sự giáo hội gồm những tay sai cộng sản (Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài), tìm thỏa hiệp với các vị lãnh đạo tinh thần bằng chính sách cây gậy và củ cà rốt (Công Giáo).

Cộng sản và tôn giáo là hai đối thủ không đội trời chung. Ngay lúc trời yên gió lặng, hai bên cũng chỉ đối xử với nhau bằng mặt, không bằng lòng. Tín đồ các tôn giáo là những khối quần chúng có một niềm tin khó lay chuyển và dễ nghe lời các vị lãnh đạo tinh thần.
Vì vậy, muốn làm suy yếu khối quần chúng tín đồ thì phải xé nát khối này thành nhiều mảnh và phải nắm được các chức sắc của các giáo hội. Mỗi giáo hội được cư xử và đàn áp một cách khác nhau, tất cả đều nhắm mục tiêu vô hiệu hóa sức mạnh của khối quần chúng các tôn giáo.
- Ðối xử tàn ác với dân: tệ nạn cướp đất, cướp ruộng, đuổi nhà, bồi thường với giá rẻ và bán lại với giá gấp trăm đã tạo ra từng đoàn lũ dân oan, bỏ công ăn việc làm, dẫn nhau đi khiếu kiện từ Sài Gòn ra Hà Nội mà không được ai tiếp xúc và giải quyết. Những người lên tiếng một cách hòa bình đòi tự do, dân chủ, nhân quyền bị đánh đập, vu oan, bắt nhốt, đưa ra tòa và bỏ tù.
Những vụ đàn áp trắng trợn nhất mới xảy ra vào tháng 4-2011 cho Luật sư Lê Quốc Quân, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Luật sư Cù Huy Hà Vũ. Blogger Nguyễn Văn Hải, tức Ðiếu Cầy, đã hết hạn tù một năm nay nhưng vẫn bị giam và thân nhân không biết hiện ông bị giam ở đâu. Ngày 30 tháng 5 vừa qua, Tòa án tỉnh Bến Tre xử 7 công dân vô tội và lên án tổng cộng 60 năm tù, cả tù ở lẫn tù tại gia.
Người bị nặng nhất là một phụ nữ, bà Trần Thị Thủy, lãnh 8 năm tù và 3 năm quản chế. Họ chỉ có “tội” đòi tự do tôn giáo và khiếu oan vì bị cướp tài sản nhưng bị kết án về tội “lật đổ chế độ” chiếu điều 79 Luật Hình Sư. Cộng sản còn có thói quen “ăn thịt” chính những đứa con của mình: Nguyễn Hộ, Trần Ðộ, Hoàng Minh Chính và mới đây Vi Ðức Hồi.
Nhà cầm quyền VN cũng ra lệnh cho nhân viên công lực thẳng tay bạo hành và tàn sát dân lành. Họ đánh đập giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân lòi mắt, bể đầu, gẫy tay tại Tam Tòa, Ðồng Chiêm, Loan Lý, Cồn Dầu. Chỉ trong bốn tháng đầu năm 2011, đã có 5 người dân vô tội bị công an đánh chết chỉ vì vi phạm luật giao thông hay những tranh chấp bình thường.
Tổng số dân lành bị công an đánh chết hay chết tại đồn công an đã lên tới 25 người trong mấy năm qua. Vào tháng 4 vừa qua, chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền, vợ nạn nhân Nguyễn Công Nhật ở Bình Dương còn bị một sĩ quan công an gọi điện thoại tống tình, đòi chị dâng hiến thân xác để đánh đổi sự an toàn cho chồng, trong khi chồng chị đã chết một cách mờ ám ở đồn công an. Thật không còn hành động nào tàn ác và đê tiện hơn!
Tội nghiệp cho dân Việt Nam! Họ được những người mệnh danh là đầy tớ nhân dân đối xử như quân thù, muốn bắt, muốn đánh, muốn giết lúc nào tùy ý. Dân Việt Nam đang bị cai trị bởi những kẻ không còn tình người, tuy cùng giòng máu nhưng hung ác và nhẫn tâm hơn những tên thực dân ngoại chủng cướp nước ngày xưa.
Mặc Giao
Hội Ngộ Dân Chúa
Tháng Sáu 2011
LỮ GIANG NGUYỄN CẦN LEO THANG
ĐÁNH PHÁ NHỮNG NGƯỜI CHỐNG CỘNG
Mặc Giao
Ông Nguyễn Cần, bút hiệu Lữ Giang và Tú Gàn, là một cây viết gây nhiều dấu hỏi trong làng văn trận bút ở hải ngoại, đặc biệt tại vùng Orange county, tiểu bang California, Hoa Kỳ, nơi có số người Việt tỵ nạn cộng sản đông nhất.
Trước 1975, tôi chỉ nghe loáng thoáng về một thẩm phán Nguyễn Cần nào đó ở Gia Định, đã từng tu học ở tiểu chủng viện Huế rồi ra ngang. Đến năm 2000, nhân tình cờ có mặt tại Little Saigon, đúng lúc Cha Nguyễn Văn Lý phát động cuộc đấu tranh “Tự Do Tôn Giáo hay là chết”, tôi được rủ đến dự một phiên họp tại văn phòng của Luật sư Phổ với những anh em quan tâm tới sự việc này và muốn tìm những biện pháp ủng hộ cuộc đấu tranh của Cha Lý.
Phiên họp có khoảng 20 người và lần đầu tiên tôi được gặp ông Nguyễn Cần trong số những người tham dự. Trong phiên họp, ông Nguyễn Cần nói rất ít và không phát biểu một ý kiến nào có thể gây tranh cãi. Tôi tưởng ông đồng ý với anh em có mặt về những hành động ủng hộ Cha Lý như đã đề ra. Tôi đã lầm.
Sau buổi họp, trong khi anh em tổ chức những cuộc hội thảo, những buổi cầu nguyện, viết những bài báo, vận động các đoàn thể ra tuyên ngôn để cùng với Cha Lý tại Nguyệt Biều đấu tranh cho tự do tôn giáo, thì ông Nguyễn Cần tung ra những bài tố cáo Cha Lý có vợ con, là một linh mục thuộc thành phần bất hảo mà tòa Tổng Giám Mục Huế không muốn bênh vực khi Cha Lý đang bị cộng sản quản chế tại họ đạo nhỏ bé Nguyệt Biều. Đọc những bài này, tôi có cảm tưởng bị xối nước lạnh. Và từ đó tôi có những hoài nghi rất lớn mỗi khi đọc cho biết hay nghe về ông Nguyễn Cần.
Mấy năm sau, ông Nguyễn Cần tung ra phóng ảnh một thư viết tay nói là của Cha Lý đang trong tù với nội dung ăn năn hối cải về những hành động đòi tự do tôn giáo và chống đối nhà cầm quyển cộng sản, đồng thời ca tụng Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản hết lời. Ông Nguyễn Cần còn viết thêm lời bình luận mạt sát Cha Lý, cho rằng chuyện này đương nhiên phải xảy ra vì bản chất của Cha Lý là bất nhất, hèn yếu và…khật khùng.
Tới lúc đó, tôi chưa bao giờ muốn đối thoại hay tranh luận với ông Nguyễn Cần. Nhưng lần này thấy ông đã đi qúa trớn, đạp người ngã ngựa xuống bùn đen, phán đoán một tu sĩ giống như ông là bố nuôi và là “cha linh hồn” của “tập tu” Nguyễn Văn Lý. Vì vậy tôi cảm thấy không thể im lặng được nữa.
Tôi đã viết một bài phản bác những luận điệu và thái độ của ông Nguyễn Cần. Tôi cho rằng trong khi còn phải kiểm chứng một cách khoa học xem lá thư nói là của Cha Lý có thực sự do Cha Lý viết hay do cộng sản giả mạo để tự đề cao và gây rối loạn hàng ngũ đấu tranh đòi tự do tôn giáo, chúng ta không nên bình luận theo chiều hướng có lợi cho cộng sản và mạt sát Cha Lý. Giả dụ bức thư này qủa thực do Cha Lý viết, chúng ta cũng phải tìm hiểu xem Cha Lý viết tự nguyện hay viết dưới áp lực và đe dọa.
Theo luật thông thường, mọi lời khai dưới sự đe dọa đều được coi như vô giá trị. Hơn nữa, trước khi đi tù, Cha Lý đã công khai nói với thân nhân và dư luận đại ý: “Xin đừng tin bất cứ lời khai báo hay nhận tội nào mà tôi nói hay viết khi tôi bị cầm tù”. Ông Nguyễn Cần không có phản biện nào về bài viết của tôi, dù bài viết này đã được phổ biến rộng rãi.
Đến khi tôi viết một bài phê bình cuộc bầu cử quốc hội cộng sản, cho đó là một cuộc bầu cử phường tuồng và những đại biểu quốc hội chỉ là những tay sai của đảng cộng sản, ông Nguyễn Cần mượn cơ hội viết vài hàng chỉ trích vu vơ mang tính cách trả thù trên web của ông, đại ý: ai phê bình quốc hội cộng sản thì còn được, ông Mặc Giao mà cũng dám phê bình à? Hồi xưa các ông là gì của chế độ Thiệu? Nói thẳng ra là ông muốn chửi chúng tôi là những dân biểu “gia nô” thời Đệ II Cộng Hòa. Danh từ “gia nô” thường được cộng sản và những người đối lập cực đoan dùng để nhục mạ những người cộng tác hăng hái với chế độ VNCH.
Chúng tôi không động lòng vì lời xách mé thiếu đẳng cấp này. Trong sinh hoạt chính trị có dân chủ và tự do thì phải có phe cầm quyền và phe đối lập. Mọi người được tự do sắp hàng và tranh cãi nhưng không được quyền nhục mạ người khác. Đang phải chiến đấu một mất một còn với cộng sản mà không cộng tác với chính quyền chống cộng thì cộng tác với ai? chẳng lẽ với bọn xôi thịt hay với cộng sản như những dân biểu hai mang nằm vùng Lý Qúy Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức…? Chẳng lẽ đi chống một tổng thống do dân bầu để đưa một người không ai bầu lên làm tổng thống để ông ấy đầu hàng cộng sản trong 48 giờ?
Vì vậy chúng tôi chẳng có mặc cảm gì khi cộng tác với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Một người bạn của tôi đã nói một câu chí lý: “Làm “gia nô” cho quốc gia còn hơn làm “gia cầm” cho cộng sản”. Tôi có nhắn nhe cho ông Nguyễn Cần là nếu ông ấy muốn tranh luận với tôi thì hãy ra mặt viết bài đàng hoàng, không nên nấp trong xó ném đá như vậy. Ông ấy không trả lời. Tôi cũng quên luôn, không quan tâm gì tới ông ấy nữa.
Bỗng thời gian gần đây, ông Nguyễn Cần lại mở chiến dịch tấn công Linh Muc Phan Văn Lợi và Linh Mục Nguyễn Văn Khải thuộc Dòng Chúa Cứu Thế VN. Ai cũng biết LM Phan Văn Lợi bị quản thúc tại gia vì đã tích cực ủng hộ Cha Lý trong công cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền, đã cùng Cha Lý và một vài nhà đấu tranh khác thành lập Khối 8406, luôn luôn lên tiếng và hành động theo mục tiêu đã đề ra.
Sở dĩ cộng sản chưa bắt Cha Lợi vì họ chủ trương đánh rắn thì đánh đằng đầu. Nắm đầu “rắn” Nguyễn Văn Lý đã đủ rồi. Bắt thêm một linh mục nữa cũng chẳng ích gì hơn mà lại gây thêm nhiều phiền toái. Vậy mà ông Nguyễn Cần tìm mọi cơ hội để triệt hạ uy tín của LM Phan Văn Lợi. Ông đánh vào điểm cốt lõi của một linh mục, coi chức linh mục của Cha Lợi là giả mạo, tự nhận, là linh mục chui, không được các cấp giáo quyền công nhận. Bằng chứng là LM Phan Văn Lợi không có tên trong danh sách các linh mục của giáo phận Bắc Ninh (nơi chịu chức) và tổng giáo phận Huế (nơi cư ngụ), là linh mục “homeless” (vô gia cư) không được các giám mục liên hệ giao công tác mục vụ.
Những tố cáo đầy tính xuyên tạc này đã được Cha Lợi và những sự kiện thực tế trả lời. Cha Lợi được chính cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận phong chức linh mục khi Hồng Y bị quản thúc ở ngoài Bắc. Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã yêu cầu cố Hồng Y Phạm Đình Tụng, lúc đó là giám mục Bắc Ninh, nhận tân linh mục Phan Văn Lợi vào hàng linh mục của địa phận Bắc Ninh. Hồng Y Tụng đã chấp thuận. Cố Giám Mục Nguyễn Quang Tuyến của giáo Phận Bắc Ninh cũng xác nhận việc này qua một thư thăm hỏi và chúc Xuân gửi vào Huế cho LM Lợi.
Sống dưới sự kiểm soát và cấm đoán của cộng sản thì phải tìm cách xoay sở, tránh né mới mong thực hiện được điều mình muốn. Như vậy, là linh mục chui, theo nghiã không được cộng sản công nhận, có gì là xấu? Còn ngoan cố phủ nhận quyết định và hành động của những vị chủ chăn cao cấp, trong đó có cả vị đang được cứu xét phong á thánh (Hồng Y Nguyễn Văn Thuận), như ông Nguyễn Cần và một vài người theo đuôi đang làm có phải là cách hành xử của những con người lương thiện hay không?
Việc LM Phan Văn Lợi không có tên trong danh sách linh mục của các giáo phận Bắc Ninh và Huế là điều dễ hiểu. LM Lợi hiện không làm việc ở Bắc Ninh, cũng không phục vụ cho tổng giáo phận Huế thì làm sao có thể để tên linh mục vào danh sách được? Hai giáo phận này có muốn xử dụng LM Lợi trong công tác mục vụ cũng không thể được, vì linh mục đang chịu lệnh quản chế của nhà nước cộng sản.
Ngoài ra, theo Giáo sư Nguyễn Học Tập, muốn biết LM Phan Văn Lợi có bị Giáo Hội VN và Tòa Thánh Vatican coi là linh mục hợp lệ hay không thì hãy nhìn vào việc Linh mục Lợi cử hành thánh lễ hàng ngày từ mấy chục năm nay: “Một khi Tòa Thánh biết Linh mục Lợi là “linh mục chui, dổm, giả hiệu”, chắc chắn Tòa Thánh sẽ ra sắc lệnh cấm tức khắc, vì đây là hành vi “phạm thánh” (sacrilège)…và nếu “linh mục chui, dổm, giả hiệu” cứ ương ngạnh, bất tuân, Tòa Thánh sẽ không ngần ngại ra sắc lệnh “dứt phép thông công” (anathema sit).
Trái lại, nếu Tòa Thánh không trả lời và không có thái độ dứt khoát như vừa kể, thì chúng ta nên hiểu Tòa Thánh có lý do của mình và Linh mục Phan Văn Lợi có chức thánh, là “Thừa tác viên” chính thức của Giáo Hội, có tên trong danh sách chính thức của giáo phận Bắc Ninh, của Tòa Thánh hay không cũng vậy”. Lý thuyết và thực tế đã đã rõ ràng như thế, tại sao ông Nguyễn Cần vẫn còn tiếp tục cãi chầy cãi cối để phủ nhận chức linh mục của Cha Lợi? Tại sao ông thâm thù LM Lợi và LM Lý tới thế? Ông kiên trì đánh hai linh mục này giùm ai?
Trận đánh LM Phan Văn Lợi chưa chấm dứt, ông Nguyễn Cần mở thêm mặt trận tấn công LM Nguyễn Văn Khải. Cần phải nã đại pháo gấp vào mục tiêu Nguyễn Văn Khải vì nhu cầu thời sự. LM Nguyễn Văn Khải đang du học ở Roma, nhân kỳ nghỉ hè, ông được mời đi nhiều nơi ở châu Âu và tại Hoa Kỳ để chủ trì những buổi cầu nguyện và nói chuyện về tình hình đất nước và giáo hội VN.
LM Khải rất trẻ, 41 tuổi, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, thi hành công tác mục vụ tại giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, đã tham gia tích cực các cuộc cầu nguyện hòa bình để đòi đất Tòa Khâm Sứ cũ, giữ đất của giáo xứ và tu viện Thái Hà, giữ Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ở lại Hà Nội. Bằng đó thứ “tội” đã khiến linh mục trở thành mục tiêu cần phải triệt hạ của cộng sản và của…ông Nguyễn Cần.
Ông Nguyễn Cần mới cho phổ biến một bài viết trên mạng, tựa đề “Công Giáo VN tuyệt vọng?” dưới bút hiệu Lữ Giang. Bài viết có hai phần. Phần đầu rất ngắn, kể lại lời phỏng vấn LM Khải của hai ký giả thuộc hãng thông tấn Ý CNA ngày 16-7-2011. Phần hai dài gấp 10 lần, tác giả tấn công LM Khải trên mọi bình diện, từ lời ăn tiếng nói đến thái độ chống hàng giáo phẩm VN và chống cả Tòa Thánh Vatican.
Trả lời câu hỏi của hai ký giả về tình hình Giáo Hội CGVN, LM Nguyễn Văn Khải đã nói: “Chính quyền sử dụng tất cả các lực lượng tùy ý họ, gồm các phương tiện truyền thông nhà nước, bộ máy chính trị, pháp luật và hệ thống giáo dục công cộng để ngăn chặn sự phát triển của Giáo Hội CG bằng mọi giá. Người CG ở mọi miền VN được xem là công dân hạng hai, bị phân biệt đối xử tồi tệ trong đối xử pháp lý”. Sau khi trích dẫn câu trả lời này, tác giả Lữ Giang mỉa mai: “Đọc bài này chúng tôi có cảm tưởng như Giáo Hội Việt Nam đang ở trong các thập niên 1960, 1970 và 1980…”.
Như vậy là ông muốn nói tình hình Giáo Hội CGVN đã được tự do hơn nhiều, được cải thiện rất nhiều, không còn giống như trước nữa. Do đó những lời tố cáo của LM Khải là dối trá, không đúng sự thật. Có sai sự thật không khi TGM Ngô Quang Kiệt bị các cơ quan truyền thông bóp méo lời nói, công khai xỉ nhục trên báo, trên đài trong nhiều tuần, bị công an giả côn đồ dọa giết, bị nhà cầm quyền đòi đuổi khỏi Hà Nội? Có sai sự thật không khi giáo dân vô tội bị đánh đập đổ máu, ngất xỉu, bằng dùi cui, roi điện, bị đưa ra tòa và nhận những bản án đã định sẵn? LM Khải nói không đúng sự thật hay Lữ Giang bẻ cong ngòi bút, để bênh ai?
Ở phần hai của bài viết, tác giả kể “thành tích chống cộng” của LM Khải. Đã chống cộng và “giữ vai trò xung kích rất táo bạo”, LM Khải còn “đứng hàng đầu trong việc chống lại giáo quyền”, đặc biệt chống cả Vatican trong việc không tuân lệnh đuổi TGM Ngô Quang Kiệt đi khỏi Hà Nội và đưa GM Nguyễn Văn Nhơn về thay thế. Sao ông Nguyễn Cần ghét bỏ những người chống cộng đến thế? Chống cộng có sai trái không và có gì đáng xấu hổ không?
LM Cao Phương Kỷ đã phát biểu tại cuộc Hội Ngộ Dân Chúa là “chính Đức Mẹ Fatima chống cộng đấy. Đức Mẹ ra lệnh cho ba em phổ biến mệnh lệnh cầu nguyện cho nước Nga cộng sản trở lại”. Còn việc chống lại giáo quyền và Vatican thì đúng là chuyện bé xé ra to. Có mặt với giáo dân để chia sẻ tâm tình, nỗi bức xúc và những thỉnh nguyện của họ mà bị kết án là chống giáo quyền và chống Tòa Thánh thì đúng là suy diễn và luận tội kiểu cộng sản: Ai nói khác ta và không làm giống ta là mắc tội phá hoại an ninh quốc gia chiếu điều 88 luật Hình sự và phạm tội lật đổ chế độ chiếu điều 79!
Kế đến, tác giả Lữ Giang đánh LM Khải về những lời liên quan đến việc bổ nhiệm tân Giám Mục Nguyện Thái Hợp. Trả lời phỏng vấn của ký giả Trần Văn, LM Khải cho biết: “sự bổ niệm cha Nguyễn Thái Hợp, dòng Đaminh làm giám mục giáo phận Vinh gây ngạc nhiên cho nhiều người trong Giáo hội…khách quan mà thấy thì Ngài là người rất thân thiện với các cán bộ chính quyền nhà nước VN. Ngài cũng được coi là là người rất gắn bó đối với những linh mục bị coi là “yêu nước” khác trên đất nước này. Cụ thể là ở Sài Gòn… Người ta nhận thấy cha Nguyễn Thái Hợp theo xu hướng thân thiện với chính quyền cộng sản và theo xu hướng thỏa hiệp với chính quyền này để tồn tại hay là… thế nào đấy!”.
Để chứng minh “SỰ THẬT HOÀN TOÀN TRÁI NGƯỢC”, Lữ Giang ghi lại lời thuật về lễ tấn phong giám mục “hoành tráng” cho LM Nguyễn Thái Hợp tại nhà thờ chính tòa Xã Đoài ngày 23-7-2010, theo đó trên 13,000 đại biểu chính thức từ 19 giáo hạt, 180 giáo xứ trong khắp giáo phận đã qui tụ đông đảo, chưa kể lượng giáo dân đã tràn ngập tòa Giám Mục, nhà thờ chính tòa và các khu vực lân cận. Chủ tịch Hội Đồng GM và nhiếu giám mục cũng có mặt. Ý tác giả muốn nói là tân GM Nguyễn Thái Hợp rất được hâm mộ, không bị nghi ngờ như LM Khải phát biểu.
Lấy số người dự lễ để chứng minh “sự thật hoàn toàn trái ngược” là lý sự cùn. Có lễ tấn phong giám mục mới thì lẽ tự nhiên đại diện các giáo hạt, các giáo xứ phải có mặt, dù thích hay không thích, giáo dân kéo đến để tò mò coi mặt chủ chăn mới và cầu nguyện cho vị này mỗi ngày một tốt hơn. Đại đa số giáo dân chưa biết thành tích của tân giám mục, nên đi dự lễ không thắc mắc.
Dù vậy số người tham dự có đạt con số 200,000 như trong lễ cầu nguyện cho Tam Tòa bị bách hại không? Những nhận định của LM Khải về GM Nguyễn Thái Hợp đều không sai, xét một cách khách quan. Không thân thiện với nhà nước sao được mời dậy học và thuyết trình trong các cuộc hội thảo lớn mãi tận Hà Nội? Không gắn bó với những linh mục “yêu nước” sao thường đi lại và tổ chức những cuộc hội thảo, tọa đàm chung với những người này? Không cộng tác với nhà nước sao không dám nói một lời gì có thể làm mất lòng nhà nước, dù để chống bất công và bênh những người cô thế?
Chúng ta không kết án ai nhưng có quyền đặt nghi vấn qua những lời nói và việc làm của người ấy. Chúng ta hy vọng GM Nguyễn Thái Hợp, tân Chủ Tịch UB Công Lý và Hòa Bình của GH/CGVN, sẽ tranh đấu cho công lý và đem lại hòa bình, trước tiên cho tâm hồn của anh chị em giáo dân VN.
Một việc khác liên hệ tới tư cách con người và tư cách tu hành của LM Nguyễn Văn Khải, đó là việc bị bề trên tối cao của Dòng chế tài, theo lời tác giả Lữ Giang. Lữ Giang viết: “Dĩ nhiên, những việc LM Khải làm như đã nói trên (chống hàng giáo phẩm VN và chống Tòa Thánh chú thích của người viết bài này), đã được tường trình đầy đủ, Linh Mục Michael Brehl, Bề Trên Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế ở Roma (tô đậm), đã ra lệnh cho LM Khải phải rời Việt Nam qua Roma”… Thật sự LM Khải đã bị triệu dụng qua Roma vì chống đối Giáo Hội”.
Tác giả Lữ Giang đã võ đoán và làm như ngồi chồm hổm ngay giữa văn phòng của LM Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế ở La Mã để biết tường tận lệnh phạt LM Khải phải rời VN. Bị phạt phải rời VN là điều cái cột đèn cũng muốn. Lại được đi Roma du học sau khi bị cộng sản cấm nhiều năm là sướng muốn chết! Bị triệu dụng mà được một linh mục quen đường đi nước bước dẫn đi theo đường bộ qua Lào, sang Thái Lan, được nhà dòng Chúa Cứu Thế ở Bangkok chăm sóc, lo visa và vé máy bay sang Roma an toàn. Sao có tội mà được thương đến thế?
Bị gọi đi hỏi tội mà lại được tự do đi khắp Âu, Mỹ để trình bầy thực trạng Giáo Hội VN và những thủ đoạn đàn áp tôn giáo của cộng sản. Sao Tòa Thánh và nhà dòng mâu thuẫn đến thế? Phải chăng tác giả Lữ Giang dựng chuyện phong thần, biến “cục cưng” của Tòa Thánh và của Dòng Chúa Cứu Thế thành “tội phạm”?
Chúng tôi chưa có đủ bằng cớ để quyết đoán ông Nguyễn Cần có làm việc cho cộng sản VN hay không. Nhưng qua những bài viết của ông, ai cũng thấy rõ ràng ông bênh cộng sản, làm lợi cho cộng sản, đánh phá những người chống cộng. Ông đánh phá những người chống cộng bằng giọng thù hằn, cay độc. LM Lý bị ông coi là khật khùng. LM Lợi bị ông gọi là linh mục chui, linh mục “homeless”. Linh mục Khải bị ông coi là tội phạm bị triệu giải về Roma.
Những anh em viết văn, viết báo chống cộng được ông đặt tên là “nhóm Giao Điểm Công Giáo”. Ý muốn nói nhóm này chống cộng qúa khích, giống như nhóm Giao Điểm chuyên đánh phá Công Giáo một cách hung hãn. Ông gây thù chuốc oán, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Đồng bệnh với những người cầm quyền ở Hà Nội.
Vậy tại sao vẫn còn có người đọc ông? Điều này không lạ. Một số người đọc ông để, qua ông, người ta biết phản ứng của cộng sản ra sao. Ông khôn khéo đánh lừa được một số người bằng cách thỉnh thoảng viết vài hàng phê bình cộng sản cách vô hại rồi lại chuyển sang chê bai những người chống cộng. Người ta cũng đọc ông vì tính tò mò, thích phản biện, thích những chuyện giật gân “sensational”, nhất là ông có tài bới móc, dựng chuyện, lấy trong Google và Wikipedia những chi tiết về người, sự việc, lời trích dẫn để kể chuyện láo mà cứ như chuyện thật.
Thật ra chúng ta phải căn cứ vào ý tưởng, lập trường để thẩm định đúng giá trị của một bài viết, không nên mờ mắt vì những chi tiết có dụng ý dẫn người đọc vào những nhận định sai lạc. Ngoài ra ông còn hay dậy thiên hạ là đừng quậy làm chi cho mệt, “Anh Hai” Hoa Kỳ đã tính toán cả rồi. Việc gì cũng không qua khỏi mắt và bàn tay sắp đặt của Anh Hai.
Đúng là ông Nguyễn Cần có dự mưu ru ngủ những nạn nhân cộng sản, khuyên họ an phận chấp nhận thực trạng, có quậy phá cách mấy cũng chẳng đi đến đâu, sau khi đã bôi đen và làm suy yếu hàng ngũ chống cộng. Ông làm việc này với mục đích gì? cho ai? Đó là thắc mắc lớn mà nhiều người muốn được giải đáp.
















