Mặc Giao: Hội đủ điều kiện nổi dậy ở VIỆT NAM chưa?

Ông Mặc Giao là một trong những huynh trưởng đầu tiên của Phong Trào Thanh Sinh Công Việt Nam, nguyên là dân biểu Quốc Hội, Tổng Thư Ký Hạ Nghị Viện, Sứ thần ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa tại Paris (Pháp) trước 1975.

Đồng tác giả cuốn "30 năm Công Giáo Việt Nam dưới chế độ cộng sản", và tác giả sách khảo luận "Một cái nhìn khác về văn hóa Việt Nam". Hiện nay, ông là Chủ tịch Ủy Ban Canada Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam.


ĐÃ HỘI ĐỦ KIỀU KIỆN

CHO MỘT CUỘC NỔI DẬY

Ở VIỆT NAM CHƯA?

(bấm nghe âm thanh)
http://audio.freevietnews.com/20110603_macgiao.m3u

Mặc Giao

       Chuyện thời sự trên đầu môi vào lúc này là cuộc nổi dậy thành công của nhân dân các nước Tunisia và Ai Cập, cũng như những cuộc biểu tình chống độc tài lây lan sang các nước Algeria, Yemen, Bahrain, Iran, Libya, đe dọa Saudi Arabica, Jordan và Syria. Những cuộc nổi dậy của nhân dân các xứ này xảy ra bất ngờ, lan rộng bất ngờ và cũng thành công bất ngờ. Quả thật đây là một hiện tượng, một biến cố lớn của lịch sử nhân loại vào tiền bán thế kỷ 21. Bộ mặt của vùng đất này trên thế giới sẽ thay đổi và sẽ có thể kéo theo những thay đổi trên những vùng đất khác.

Tuy nhiên, việc gì cũng có nhân có quả. Người dân các nước nói trên đã bị đàn áp, bóc lột, tước đoạt nhân phẩm và quyền làm người suốt một thời gian dài. Họ đã im lặng chịu đựng. Đôi khi bực bội vùng lên, nhưng chưa đồng loạt, nên dễ bị dập tắt. Dù vậy sự bất mãn, căm phẫn vẫn còn đó, mỗi ngày mỗi tăng thêm. Đến lúc không thể chịu đựng được nữa, niềm phẫn nộ đã vỡ òa và quét sạch những chế độ gian tham, tàn ác, dù đầy tiền bạc và súng đạn trong tay. Con giun bị xéo lắm cũng quằn, huống chi con người.

Trước những biến cố này, nhiều người “hồ hởi” cho rằng phong trào nhân dân vùng dậy sẽ lan tới Việt Nam và kêu gọi dân ta hãy đứng lên hưởng ứng. Có người lại bi quan cho rằng cuộc đấu tranh tương tự chưa thể xảy ra tại nước ta, vì tình hình các nước có biến cố không giống tình hình Việt Nam.

       Điểm tương đồng quan trọng nhất giữa những nước có biến động và Việt Nam là những nước này bị cai trị bởi một chế độ độc tài, độc tài cá nhân, độc tài đảng phái, độc tài gia đình, độc tài quân chủ. Bản chất của mọi chế độ độc tài là áp bức người dân, tước đoạt mọi quyền tự do và quyền công dân của họ, vơ vét tài nguyên quốc gia và tài sản tư nhân để làm giầu cho một đảng, một gia đình, một cá nhân và đám bầy tôi. Lòng tham quyền và tiền nảy sinh tham nhũng, sự tàn ác, những mánh khóe bóc lột.

Hậu quả là đại đa số nhân dân sống trong nghèo khổ, xã hội chậm tiến, văn hóa suy đồi, trong khi những kẻ giầu có bất chính sống xa hoa, phè phưỡn trên sự đau khổ của những người khác. Đó là mầm bất ổn của xã hội, là nguyên nhân của những cuộc vùng dậy để dân đòi lại quyền lợi và nhân phẩm. Tại những quốc gia có tự do, dân chủ, không có tình trạng này, dù đôi khi dân chúng xuống đường hàng ngàn hàng vạn người để phản đối chính phủ hoặc đòi hỏi những quyền lợi cá biệt của từng giới. Có giải tán biểu tình, có bắt nhốt những phần tử qúa khích phá hoại, nhưng luôn luôn kết thúc trong hòa bình và chính phủ biết lắng nghe ý nguyện của dân.


Video biểu tình của các dân tộc
ở Đông Âu, Á Châu, Trung Đông
 http://www.freevietnews.com/tintuc/detail.php?subaction=showfull&id=1298709632&archive=&start_from=&ucat=&

 

      Sự khác biệt nổi bật nhất giữa Việt Nam và các chế độ độc tài khác là quyền lực ở những nước kia thường được thâu tóm trong tay một cá nhân với những tay chân dễ sai khiến và với một chính đảng bù nhìn được dựng lên để làm bình phong. Nói chung là đám tay chân lo suy tôn lãnh tụ và bảo vệ lẫn nhau chỉ vì muốn giữ những đặc quyền, đặc lợi. Trong khi chế độ cộng sản Việt Nam do một đảng độc tôn nắm giữ, có chủ thuyết, có bài bản và kinh nghiệm cướp chính quyền, giữ chính quyền và khủng bố dân chúng để không ai dám chống lại.

 






Thêm vào đó, những con người cộng sản lại độc ác, mất nhân tính, coi đồng bào của mình như kẻ thù, đầy đọa trong lao tù, đánh đập, giết chóc không nương tay. Staline đã giết hàng triệu người Nga khi đầy họ đi khổ sai ở vùng giá lạnh Sibérie. Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh tàn sát hàng ngàn sinh viên Trung Quốc trên quảng trường Thiên An Môn. Hồ Chí Minh cũng gây ra cái chết của hàng trăm ngàn nông dân trong những đợt cải cách ruộng đất… Vì vậy nhiều người bi quan cho rằng dân chúng sống dưới chế độ cộng sản khó vùng dậy vì sợ hãi và vì kỹ thuật khủng bố, đàn áp qúa  tinh vi và dã man.

Nếu nhìn một cách khách quan, sự so sánh trên có phần đúng. Nhưng người ta sẽ giải thích ra sao sự tan rã của những chế độ cộng sản vô cùng hùng mạnh và gian ác ở Đông Âu, đứng đầu là Liên Xô? Liên Xô là nước cầm đầu khối cộng sản thế giới, là thánh địa để các nước cộng sản khác đến học hỏi và xin trợ giúp, là một cường quốc có binh hùng tướng mạnh, võ khí tối tân hiện đại không thua Hoa Kỳ, có guồng máy gián điệp và công an chìm KGB khổng lồ với kỹ thuật tân tiến bậc nhất thế giới.

 

     





 

Vậy mà chế độ Liên Xô đã sụp đổ vì sự phẫn nộ của nhân dân Nga, không phải vì ông Gorbatchev. Ông này chỉ muốn áp dụng chính sách cởi mở và đổi mới để cứu vãn nền kinh tế Liên Xô đang trên đường xuống dốc, không hề có ý định giải tán đảng cộng sản. Nhưng khi cánh cửa hé mở, nhân dân tràn tới đạp tung. Rồi như nước vỡ bờ, họ cuốn trôi luôn căn nhà chế độ.Guồng máy kềm kẹp, đàn áp của các nước cộng sản khác, Đông Đức, Bulgaria, Roumania, cũng tinh vi và tàn ác không kém Liên Xô. Nhưng khi nhân dân phẫn nộ vùng lên, không có gì cưỡng lại nổi. Công an bất lực, lo chạy trốn. KGB lo thủ tiêu tài liệu rồi lặn sâu. Quân đội khoanh tay đứng nhìn, không can thiệp. Ông Gorbatchev không còn cách nào giữ đảng ngoài việc giao quyền cho ông Boris Yeltsin, để ông này theo ý nhân dân giải thể chế độ cộng sản.

       Điều đáng quan ngại đối với trường hợp Việt Nam là dân ta vốn có tính thụ động, ít quan tâm tới việc chung, chỉ chú ý đến cái lợi trước mắt cho riêng mình và cho những người thân của mình. Dân Việt có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm, nhưng lại ngoan ngoãn đối với những người cầm quyền bản xứ, cam lòng chịu phận “con sâu cái kiến”, dù luôn bị “quan tha nha bắt”.

 Những người cộng sản hiểu tâm lý này của dân Việt. Họ áp dụng triệt để chính sách được gán là của Hoa Kỳ “cây gậy và củ cà rốt”. Họ vừa hăm dọa, giữ dân trong sự sợ hãi thường xuyên, vừa đưa mồi ra nhử. Họ cũng áp dụng chính sách này với các đoàn thể và tôn giáo. Họ làm cho dân nhụt hết ý chí, đa số chỉ lo kiếm tiền và hưởng thụ, không nghĩ gì đến đất nước, đến công ích xã hội.

 Giới trẻ thì thả cửa ăn chơi sa đọa trong một xã hội vô luân lý. Các tôn giáo thì bể thành nhiều mảnh do âm mưu chia rẽ và phá hoại của cộng sản. Phật Giáo thành 3 mảnh, Cao Đài, Hòa Hảo mỗi đạo thành hai mảnh, Tin Lành thành nhiều mảnh, Công Giáo tuy chỉ có một mảnh rưỡi (nửa mảnh là Ủy Ban Đoàn Kết CGVN) nhưng hàng giáo phẩm thân thiện cộng tác với nhà cầm quyền theo kiểu “úm ba la hai ta cùng lợi”. Trông chờ nhân dân vùng dậy có vẻ khó.

 

     





Tuy khó khăn như vậy, chúng ta cũng không mất niềm hy vọng. Khó thì phải kiên trì hơn. Khó thì cần nhiều thời giờ hơn để hội đủ những điều kiện cho một cuộc đấu tranh dứt điểm. Dân Việt Nam vẫn chưa mất hết ý chí quật cường. Trí thức Việt Nam vẫn còn những bộ óc biết suy nghĩ. Tuổi trẻ Việt Nam chưa đánh mất nhiệt tâm yêu nước và yêu tự do công lý. Bằng cớ là càng ngày càng có nhiều lời nói và hành động công khai phê phán và chống đối chế độ. Những cá nhân lãnh đạo cũng bị chỉ đích danh với những lỗi lầm và yếu kém của họ. Sự sợ hãi vẫn còn nhưng càng ngày càng giảm bớt. Nhà cầm quyền có thể bắt vài chục người hay một trăm người chống đối nổi bật nhất nhưng không thể bắt hết hàng triệu người âm thầm hay công khai chống chế độ.

       Chúng ta hãy thử nhìn tương quan lực lượng giữa nhân dân Việt Nam và guồng máy cầm quyền tại Việt Nam để dự đoán những gì có thể xảy ra khi một cuộc vùng dậy bộc phát


* Phiá nhân dân:

Không phải tất cả 86 triệu người Việt Nam đều tích cực chống đối cộng sản và sẵn sàng tham gia một cuộc vùng dậy. Nhưng thực tế, tuyệt đại đa số dân Việt Nam đã chán chế độ cộng sản lắm rồi. Họ hoan nghênh bất cứ một sự thay đổi nào, dù chưa chắc họ sẽ tham gia việc tạo nên sự thay đổi. Có thể coi họ như một đa số thầm lặng, không hành động nhưng sẽ đi theo.










Mọi biến cố chỉ có thể xảy ra khi có một thiểu số năng động, tức là những thành phần tham gia trực tiếp biến cố. Chế độ Hosni Mubarak sụp đổ không cần 80 triệu dân Ai Cập xuống đường. Chỉ cần vài trăm ngàn đến cao điểm một triệu người tại quảng trường Tahrir ở thủ đô Cairo, vài chục ngàn ở Alexandrie và Port Said. Đám đông sẽ lôi kéo đám đông. Khi cao trào nổi lên, những người khác sẽ đi theo.

 

      Những thành phần dân chúng có thể tham gia một cuộc đấu tranh vùng dậy:

-        Giới trẻ, giới sinh viên

-        Nạn nhân bị cướp đất, cướp nhà
(dân oan khiếu kiện)

-        Nông dân bị cướp đất canh tác

-        Công nhân bị bóc lột

-        Tín đồ các tôn giáo (quan trọng nhất)

Giới trẻ đã có nhiều dịp thao tác trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Dân oan đã có kinh nghiệm đấu tranh trường kỳ. Công nhân đã có kinh nghiệm tổ chức đình công. Nông dân đã có kinh nghiệm đấu tranh giữ đất như ở Cồn Dầu (Đà Nẵng), Vụ Bản (Nam Định). Tín đồ các tôn giáo đã có kinh nghiệm đấu tranh đòi tự do tôn giáo, đòi đất đai và cơ sở bị chiếm hữu. Đây là những lực lượng sung kích đầu tiên.

 

     





Dù đã có lực lượng quần chúng nhưng vấn đề quan trọng là ai sẽ phát động cuộc đấu tranh? Có thể một tổ chức, một đoàn thể hay một nhóm công dân sẽ làm việc này. Nhưng cũng rất có thể một biến cố nhỏ hay một hành động đàn áp vô ý thức của nhà cầm quyền sẽ châm mồi cho đám cháy lớn. Cuộc cách mạng Hoa Nhài ở Tunisia bùng lên từ việc tự thiêu của Mohamed Bouazizi, một thanh niên thất nghiệp đi làm chui, không thể chịu nhục vì bị một nữ cảnh sát viên chửi rủa, đánh đập khi xét giấy tờ.

 






Cuộc vùng dậy ở Ai Cập khởi đầu bằng việc đàn áp một số không đông những người biểu tình ôn hòa, trong số đó anh Khalid Sayid bị cảnh sát đánh chết. Việc này khiến anh Wael Ghonim phẫn nộ. Anh Wael Ghonim là một thanh niên 30 tuổi, có tài đặc biệt về kỹ nghệ thông tin, đang giữ chức giám đốc điều hành (executive manager) của công ty Google ở Dubai. Anh bắt đầu cuộc đấu tranh ôn hòa bằng kỹ thuật computer. Anh lập hàng loạt twitter, blog, website, mở facebook có tên “Tất cả chúng tôi là Khalid Sayid” để truyền những bản tin và những hình ảnh đàn áp. Anh thông báo ngày giờ, địa điểm tập họp. Đám đông cứ việc làm theo những thông tin của anh, chẳng cần theo một lãnh tụ chính trị hay tôn giáo nào. Những lãnh tụ này mấy ngày sau mới lẽo đẽo theo đám đông đi biểu tình để kiếm điểm.


      






Kỹ thuật thông tin hiện đại là một đe dọa sinh tử cho những chế độ độc tài. Họ không còn có thể bóp méo thông tin và bưng bít nhân dân được nữa. Những tội ác của họ được phơi bầy. Kế hoạch và ngày giờ đấu tranh lật đổ họ được thông báo cho hàng ngàn hàng vạn người cùng một lúc. Dù họ biết cũng trở tay không kịp. Có thể kỹ thuật thông tin liên lạc qua computer ở Tunisia và Ai Cập phát triển hơn ở Việt, nhưng số lượng người dùng computer ở Việt Nam cũng không phải nhỏ, có thể ước lượng hàng triệu.

 Chúng tôi biết một tổ chức người Việt ở Hoa Kỳ có ba triệu địa chỉ email tại Việt Nam, một cá nhân ở Úc có vài chục ngàn địa chỉ. Họ vẫn thường xuyên gửi tin tức, hình ảnh và những bài viết về những địa chỉ này. Tường lửa do nhà cầm quyền dựng lên bị vượt qua dễ dàng đối với những người muốn vượt. Kỹ thuật thông tin qua computer chắc chắn là một lợi khí cho cuộc đấu tranh chống cộng của nhân dân Việt Nam.

 

      *Phiá guồng máy cầm quyền:

 Dĩ nhiên guồng máy cầm quyền hiện có nhiều lợi thế. Họ có 3 triệu đảng viên, có tiền, có chính quyền, công an và quân đội. Tuy nhiên trong cái mạnh vẫn có cái yếu:

      - Trong số 3 triệu đảng viên, có bao nhiêu người trung thành với đảng, sẵn sàng hy sinh vì đảng đến giọt máu cuối cùng? Có bao nhiêu người vào đảng vì lý tưởng cộng sản hay chỉ vì cơ hội tiến thân và kiếm tiền? Có bao nhiêu đảng viên đang uất ức, bất mãn vì không được ban bổng lộc, chức tước như họ mong muốn? Có bao nhiêu đảng viên đã phản tỉnh về sự sai lầm của đảng nhưng chưa dám rút chân ra vì còn bị kềm kẹp trong guồng máy và còn dính dáng tới quyền lợi?

Chưa kể những đảng viên lão thành như ông Nguyễn Văn An, cựu chủ tịch Quốc Hội, nguyên ủy viên trung ương đảng, cũng như nhiều đảng viên tai mắt khác, đã công khai phê phán đảng, đòi cải tổ tận gốc rễ, nhiều người thẳng thừng đòi dẹp bỏ chế độ cộng sản. Chắc chắn đảng không phải là một khối thuần nhất và không phải là một khối sức mạnh vô địch có thể đập tan mọi cuộc nổi dậy chống đảng. Người ta nghĩ rằng nếu có một biến cố xảy ra, sẽ có vô số đảng viên mau lẹ nhảy tầu để khỏi bị đắm chung.

       - Tiền và chính quyền chỉ được xử dụng khi có lãnh đạo. Khi lãnh đạo bị cô lập, chính quyền sẽ tê liệt. Nhân viên chính quyền các cấp bất cứ ở đâu, bất cứ thời nào cũng có truyền thống án binh bất động, khoanh tay ngồi chờ khi có biến động dẫn đến việc thay đổi quyền hành. Họ muốn được vô can và chờ nhận lệnh khi tình hình ngã ngũ.

 

      - Công an là lực lượng chính bảo vệ chế độ. Nhân viên công an được tuyển chọn trong hàng ngũ thân tín và trung thành, được đãi ngộ đặc biệt và được giao quyền sinh sát. Vì vậy người chỉ huy công an mới hiệu triệu thuộc cấp bằng bằng khẩu hiệu “Còn đảng còn mình”.

Điều này có nghiã nếu không bảo vệ đảng, để đảng mất là mình cũng tiêu luôn. Chỉ biết có đảng thôi, không cần biết tới đất nước và đồng bào. Công an ý thức rất rõ là họ đã gây nhiều ân oán với nhân dân, bị nhân dân thù ghét. Khi có cơ hội, dân sẽ “hỏi thăm sức khỏe” của công an trước tiên.

Do đó, khi được hiếp đáp dân thì công an hùng hổ ra tay, khi có tiếng nổ lớn như ở Sài Gòn ngày nào là công an trốn biệt, sợ bóng viá biến cố, sợ nhân dân hỏi nợ. Bất cứ một cuộc đấu tranh vùng dậy nào cũng sẽ bị công an đàn áp. Máu sẽ phải đổ. Nhiều hay ít là do mệnh lệnh của những người nắm quyền, và cũng do chiến thuật đấu tranh của nhân dân. Vùng dậy ít nơi, người tham dự không đông, công an dễ đánh đập, bắn giết, bắt nhốt.


 




Nhưng nếu sự việc xảy ra nhiều nơi cùng một lúc với số người tham dự đông đảo, công an sẽ bị phân tán lực lượng và sẽ bị số đông áp đảo, tràn ngập. Sự thiệt hại về phiá nhân dân sẽ rất ít. Khi máu đã đổ, máu sẽ gọi máu. Quần chúng sẽ phẫn nộ, sẽ nôn nóng trả thù. Dù có hàng sư đoàn công an cũng không thể đương đầu với hàng trăm ngàn, hàng triệu người đang say sưa khí thế đấu tranh và căm phẫn trước việc đồng bào bị tàn sát. Diễn tiến này luôn luôn xảy ra cùng một bài bản ở khắp nơi có những cuộc vùng dậy.

      - Khi công an đã bất lực trong việc đàn áp nhân dân, quân đội sẽ được gọi tới. Nếu một quân đội sẵn sàng bắn giết dân lành không một tấc sắt trên tay theo lệnh đảng như ở Thiên An Môn thì đảng đã thành công trong việc biến quân đội thành cầm thú, tàn sát đồng loại không gớm tay. Nhưng không phải lúc nào cũng xảy ra như vậy. Toàn thể lực lượng quân sự hùng mạnh của Khối Varsovie đã khoanh tay đứng nhìn dân chúng đấu tranh lật đổ hàng loạt chính phủ cộng sản. Nhiều tướng lãnh Liên Xô đã từ chức hoặc tuyên bố không tuân lệnh bộ quốc phòng và ra lệnh cho lính không được bắn vào dân.

Chúng ta đừng quên rằng, cũng như ở Việt Nam, quân đội của các quốc gia cộng sản này bị hệ thống quân ủy của đảng kiểm soát và điều động, quyền của một chính ủy nhiều khi còn lớn hơn quyền một chỉ huy trưởng. Vậy mà quân đội vẫn không theo lệnh đảng. Tại Tunisia, quân đội đã đứng ngoài vòng tranh chấp. Quân đội Ai Cập được lệnh đưa chiến xa đến bố trí ở quảng trường Tahrir. Quân đội đã thi hành lệnh, nhưng án binh bất động, binh lính nắm tay múa hát với người biểu tình.

Sau chiến thắng, quân đội Ai Cập lãnh nhiệm vụ giữ an ninh và tạm thời điều hành quốc gia trong 6 tháng để tổ chức một cuộc bầu cử tự do. Qua những tiền lệ trên, không ai dám tin chắc quân đội “nhân dân” Việt Nam sẽ giết dân theo lệnh đảng. Điều cần là chúng ta phải tiến hành ngay công tác vận động quân đội để họ nhận thức rõ rệt rằng quân đội có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và nhân dân, không phải là công cụ của một đảng, nên không thể chiã súng bắn vào đồng bào, trong đó có cha mẹ, anh em, bạn bè của mình.

  

           



Cuộc tranh đấu của dân Việt Nam có hai lợi điểm khác mà dân Tunisia và Ai Cập không có: Một là lực lượng chống cộng của người Việt ở hải ngoại, dù chưa quy tụ thành một mối, rất mạnh, đấu tranh kiên trì không mệt mỏi suốt 36 năm qua, đã tiếp tay yểm trợ anh chị em đấu tranh cho dân chủ trong nước qua nhiều đường dây và nhiều hình thức mà cộng sản không kiểm soát nổi.

Hai là dân Việt Nam, kể cả nhiều đảng viên cộng sản, có một mục tiêu tranh đấu chung rất rõ rệt: đó là chống lại những người bán nước, dâng đất, dâng biển cho ngoại bang, cắt những phần đất mầu mỡ và có địa thế chiến lược của tổ quốc cho kẻ thù truyền kiếp thuê để khai thác. Ngoài những tội khác, tội này rất dễ gây căm phẫn trong nhân dân và dễ khích động tuổi trẻ tràn đầy nhiệt huyết yêu nước đứng lên hỏi tội thủ phạm.

       Dể kết luận, tôi nhận thấy những yếu tố cho một cuộc nổi dậy tiêu diệt độc tài tại Việt Nam đã hội đủ, dù vẫn còn nhiều khó khăn. Những tổ chức trong nước, những đường dây nối kết từ ngoài vào trong, nếu chưa đến lúc kết hợp thành một, hãy tìm cách phối hợp với nhau trong những công tác cụ thể, đồng bộ thực hiện một chiến dịch chung, nắm bắt cơ hội hay tạo ra cơ hội để châm ngòi cho cuộc nổi dậy bùng lên.


 





Hãy chuẩn bị việc hướng dẫn cuộc nổi dậy đi đến thành công mong muốn, ngăn chặn những phần tử cộng sản trá hình và những nhóm hoạt đầu lợi dụng để hướng lái cuộc đấu tranh theo mục tiêu riêng của họ.

Hãy hòa mình với cao trào nhân dân vùng dậy tiêu diệt độc tài áp bức ở Bắc Phi và Trung Đông để giải phóng dân tộc Việt Nam.

Hãy rút kinh nghiệm từ những cuộc đấu tranh này để thực hiện cho chính mình. Thế giới đang ngạc nhiên và ủng hộ cao trào tự giải phóng đang diễn ra. Những tính toán của các cường quốc cũng phải nhường bước trước ý chí của nhân dân các nước này.

Không một nước nào bênh vực những chế độ độc tài đang dẫy chết. Nhân loại đang dành cảm tình cho những dân tộc dám vùng lên để tự cứu mình. Dân tộc Việt Nam đừng bỏ lỡ cơ hội.

 Mặc Giao
http://audio.freevietnews.com/20110603_macgiao.m3u

Ông Mặc Giao là một trong những huynh trưởng đầu tiên của Phong Trào Thanh Sinh Công Việt Nam, nguyên là dân biểu Quốc Hội, Tổng Thư Ký Hạ Nghị Viện, Sứ thần ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa tại Paris (Pháp) trước 1975.  Đồng tác giả cuốn "30 năm Công Giáo Việt Nam dưới chế độ cộng sản", và tác giả sách khảo luận "Một cái nhìn khác về văn hóa Việt Nam". Hiện nay, ông là Chủ tịch Ủy Ban Canada Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam.


 





Từ Độc tài tới Dân chủ

Gene Sharp

Trong một ngôi nhà cũ ở miền Đông Boston một người đàn ông cao tuổi, lưng còng xuống, cặm cụi chăm sóc những cây phong lan quý hiếm trong văn phòng tồi tàn của mình. Chú chó Sally giống Labrador của ông nằm trên sàn giữa đống giấy tờ tài liệu nghiên cứu dõi mắt nhìn theo khi ông đi qua.

Tiến sĩ Gene Sharp chính là người nay được công nhận là tác giả chiến lược đằng sau cuộc lật đổ chính phủ Ai Cập.

Ông Gene Sharp là chuyên gia hàng đầu thế giới về cách mạng bất bạo động. Tác phẩm của ông đã được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ, và các cuốn sách của ông được bí mật chuyền qua biên giới trốn tránh cảnh sát mật ẩn ở khắp nơi trên thế giới.

Con đường dẫn tới cách mạng

  • Phát triển một chiến lược để giành tự do và một tầm nhìn xã hội mà bạn muốn
  • Vượt qua nỗi sợ hãi bằng những hành động kháng cự nhỏ bé
  • Sử dụng màu sắc và biểu tượng để thể hiện tình đoàn kết kháng chiến
  • Học từ các ví dụ trong lịch sử về thành công của các phong trào bất bạo động
  • Sử dụng "vũ khí" bất bạo động
  • Xác định các trụ cột của chế độ độc tài và phát triển một chiến lược phá hoại từng trụ cột đó
  • Dùng các hành vi đàn áp, tàn nhẫn của chế độ như một công cụ để tuyển mộ người tham gia phong trào của mình
  • Cách ly hoặc loại bỏ khỏi phong trào những người sử dụng hoặc chủ trương bạo lực

Khi ông Slobodan Milosevic ở Serbia và ông Viktor Yanukovych ở Ukraine bị sụp đổ trong các cuộc cách mạng màu tràn qua Đông Âu, các phong trào dân chủ này đều bày tỏ lòng biết ơn trước đóng góp của ông Sharp, nhưng ông vẫn còn ít được biết đến với công chúng.

Bất chấp những thành công này và cả một đề cử giải Nobel Hòa bình vào năm 2009, ông vẫn phải đương đầu với những khó khăn về tài chính thường xuyên, và bị cáo buộc là người của một tổ chức mà thực chất là CIA đứng đằng sau. Viện Albert Einstein đặt trụ sở ở tầng trệt nhà ông thực sự được vận hành bởi sức mạnh và nhân cách của Giám đốc điều hành rất trung thành của ông, Jamila Raqib.

Vào năm 2009 tôi bắt đầu quay một phim tài liệu theo dõi những ảnh hưởng mà tác phẩm của Gene Sharp đem lại. Tôi đã đi từ ngôi nhà trên tầng chót với những cây phong lan thanh bình của ông, qua bốn lục địa và cuối cùng tới Quảng Tahrir, nơi tôi ngủ cùng với những người biểu tình đã đọc tác phẩm của ông bằng đèn pin dưới bóng những chiếc xe tăng.

Gene Sharp không phải là Che Guevara, nhưng ông có thể có ảnh hưởng nhiều hơn bất cứ nhà lý luận chính trị nào khác cùng thế hệ mình.

Thông điệp chính của ông, đó là sức mạnh của chế độ độc tài xuất phát từ sự sẵn sàng vâng lời của những người mà họ chi phối - và rằng nếu người dân có thể phát triển những kỹ thuật để không cho chế độ có được sự đồng ý của mình thì chế độ đó sẽ sụp đổ.

Trong nhiều thập niên qua, người dân sống dưới các chế độ độc tài đã thực hiện một cuộc hành hương đến với Gene Sharp để được tư vấn. Bằng những viết lách của mình, ông đã giúp hàng triệu người trên thế giới giành được tự do mà không cần tới bạo lực. "Ngay khi bạn chọn chiến đấu dùng bạo lực tức là bạn đã lựa chọn chiến đấu chống lại vũ khí tốt nhất mà đối thủ của bạn có, mà bạn phải thông minh hơn thế chứ", ông quả quyết.

"Mọi người có thể hơi ngạc nhiên khi họ đến đây, tôi không nói cho họ biết phải làm gì. Họ phải học làm thế nào để cuộc đấu tranh bất bạo động có hiệu quả với họ vì thế họ phải tự làm điều đó."

Bốc lửa

Để làm điều đó, ông Gene Sharp cung cấp trong các cuốn sách của ông một danh sách 198 "vũ khí bất bạo động", từ việc sử dụng màu sắc và biểu tượng tới các đám tang giả và các cuộc tẩy chay.

Được thiết kế để trở thành công cụ tương đương với vũ khí quân sự, đây là những kỹ thuật được tập hợp từ một nghiên cứu có tính pháp y về phản khang và thách thức đối với chế độ độc tài qua suốt bề dày lịch sử.

"Những vũ khí bất bạo động là rất quan trọng bởi vì chúng cung cấp cho người ta một sự thay thế", ông nói. "Nếu người dân không có những công cụ này, nếu họ không thể nhìn thấy rằng họ rất mạnh, thì mỗi lần như vậy họ sẽ lại quay về với bạo lực và chiến tranh."

Sau khi cuộc nổi dậy Màu Xanh ở Iran năm 2009 nhiều người trong số những người biểu tình đã bị cáo buoojc tại các phiên xử họ đã sử dụng hơn 100 trong số 198 phương pháp của Sharp.

Cuộc đời bất bạo động

  • Sinh tháng 1 năm 1928 tại Ohio
  • Bị bỏ tù chín năm 1953-4 vì phản đối việc bắt nhập ngũ của thanh niên trong Chiến tranh Triều Tiên
  • Albert Einstein viết lời tựa cho cuốn sách đầu tiên của ông - Gandhi Wields the Weapon of Moral Power: Three Case Histories, xuất bản vào năm 1960
  • Luận văn tiến sĩ triết học tại Đại học Oxford D năm 1968 của ông, Chính trị của Đấu tranh bất bạo động, là cơ sở cho một cuốn sách với tiêu đề tương tự, được xuất bản năm 1973
  • Giáo sư (nay là giáo sư danh dự) của Khoa Khoa học chính trị tại Đại học Massachusetts từ năm 1972, trong khi đồng thời giữ vị trí nghiên cứu tại Đại học Harvard
  • Thành lập Viện Albert Einstein vào năm 1983, một tổ chức phi lợi nhuận thúc đẩy việc sử dụng bất bạo động trong xung đột trên thế giới

Tác phẩm được dịch và phân tán nhiều nhất của ông, cuốn Từ Độc Tài đến Dân Chủ, được viết cho phong trào dân chủ Miến Điện vào năm 1993, sau khi bà Aung San Suu Kyi bị cầm tù.

Bởi vì ông không có kiến thức chuyên môn về đất nước này ông đã viết một hướng dẫn lật đổ chế độ độc tài nói chung. Nhưng điểm yếu của Sharp đã trở thành sức mạnh của cuốn sách. Nó cho phép cuốn sách dễ dàng được dịch và áp dụng ở bất kỳ nước nào trên thế giới, vượt qua biên giới văn hóa và tôn giáo.

Cuốn sách bốc lửa theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen.

Từ Miến Điện, người ta truyền miệng qua Thái Lan tới Indonesia, nơi nó được sử dụng chống lại các chế độ độc tài quân sự ở đó. Thành công của cuốn sách giúp làm sụp đổ chính quyền của ông Milosevic ở Serbia vào năm 2000 và đã đẩy nó vào sử dụng trên toàn Đông Âu, Nam Mỹ và Trung Đông.

Khi nó tới Nga, dịch vụ tình báo Nga đã càn quét nhà và các cửa hàng bán sách này bị đốt cháy rụi một cách bí ẩn.

Người Iran trở nên lo lắng đến mức họ phát một bộ phim hoạt hình tuyên truyền trên TV nhà nước về ông Gene Sharp âm mưu lật đổ chính phủ Iran từ Nhà Trắng.

Tổng thống Hugo Chavez đã dùng bài phát biểu hàng tuần trên truyền hình của mình để cảnh báo đất nước ông rằng ông Sharp là một mối đe dọa đến an ninh quốc gia Venezuela.

Những bản sao bằng tiếng Ả Rập

Vào thời điểm tôi đến Quảng trường Tahrir, vào ngày 2 tháng Hai, nhiều người được đào tạo theo sách của Sharp đã bị giam giữ. Những người khác bị các cơ quan tình báo theo dõi chặt chẽ và các nhà báo đến thăm họ bị cảnh sát mật giam giữ nhiều giờ đồng hồ. Thiết bị quay của tôi đã bị tịch thu ngay khi tôi hạ cánh.

Khi tôi cuối cùng gặp được một trong những người tổ chức biểu tình ông đã từ chối quay phim ông nói về Sharp. Ông sợ rằng việc biết ở phạm vi rộng hơn những ảnh hưởng của Hoa Kỳ sẽ gây bất ổn cho phong trào, nhưng ông khẳng định rằng cuốn sách đã được phân phát rộng rãi bằng tiếng Ả Rập.

"Một trong những điểm chính mà chúng tôi sử dụng là ý tưởng của Sharp để xác định các trụ cột hỗ trợ cho một chế độ," ông nói. "Nếu chúng tôi có thể xây dựng mối quan hệ với quân đội, trụ cột lớn nhất của hỗ trợ ông Mubarak, để có được họ về phía chúng tôi, thì chúng tôi biết ông sẽ nhanh chóng đi tới hồi kết thúc."

Đêm đó khi tôi nằm ngủ tại một góc của Quảng trường Tahrir một số người biểu tình đã đến cho tôi xem các tin nhắn văn bản mà họ nói là từ quân đội, nói với họ rằng quân đội sẽ không nổ súng. "Chúng tôi biết họ và chúng tôi biết nay họ đang đứng về phía chúng tôi," họ nói.

Một trong những người biểu tình, Mahmoud, được trao các bản sao giấy tờ chuyền tay gồm danh sách 198 phương pháp nhưng ông không biết về nguồn gốc của những phương pháp này. Ông tự hào mô tả bao nhiêu biện pháp này đã được sử dụng ở Ai Cập, nhưng ông chưa bao giờ nghe nói về Gene Sharp.

Khi tôi chỉ ra rằng các loại vũ khí bất bạo động đó là tác phẩm của một học giả người Mỹ, ông phản đối mạnh mẽ. "Đây là một cuộc cách mạng Ai Cập", ông nói. "Chúng tôi đã không bị người Mỹ bảo phải làm gì."

Và tất nhiên đó là chính là những gì Sharp mong muốn.

Phim tài liệu của Ruaridh Arrow "Gene Sharp: How to Start a Revolution" (Gene Sharp: Cách khởi sự cách mạng), sẽ được trình chiếu vào mùa xuân 2011)

-------------

(bài đọc thêm)








Người Việt khác người Nhật

Ngô Nhân Dụng


Sau khi đọc tin, coi hình ảnh hoặc chứng kiến thái độ bình tĩnh của người Nhật Bản sau cuộc động đất và sóng thần vừa qua, chúng ta phải công nhận dân Nhật có những đức tính mà mình phải học. Thái độ khiêm cung này rất cần thiết; vì nếu mình không nhìn thấy, không biết thán phục những cái hay của người khác thì cũng không biết tự sửa chữa những cái dở của mình.

Nhưng không thể so sánh Việt Nam với Nhật Bản hay với bất cứ nước nào, để nói dân tộc này hơn hay kém một dân tộc khác. Người mình có những ưu điểm khác với người Nhật, cũng như người Nhật có những nhược điểm khác với mình.

Chúng ta có thể nhìn lại với con mắt quân bình, không thiên kiến, để thấy không phải cái gì mình cũng nên giống như người Nhật Bản. Có thể rút kinh nghiệm vụ động đất vừa qua để thấy xã hội Nhật Bản có một tinh thần khắc kỷ và trật tự rất mạnh; nhưng ngược lại họ quá cứng rắn, có khi thành cố chấp. Trong khi cũng phải công nhận dân Việt mình thì có tính mềm dẻo, linh động nhiều khi quá đáng, cần phải tránh.

Tuần báo Economist tường thuật sau trận động đất và sóng thần đánh vào làng Kesennuma, nơi có hơn 25 ngàn người chết hoặc mất tích, cho thấy guồng máy chính quyền Nhật Bản quá cứng nhắc. Vì động đất người dân phải xếp hàng chờ đợi mua xăng; trong khi, tuy các nhà máy lọc dầu gia tăng hoạt động, số cung cấp xăng dầu không giảm đến mức quá thiếu thốn; nhưng chính việc áp dụng luật lệ cũng làm cảnh thiếu xăng trầm trọng hơn.

Một điều luật ở Nhật bắt các trạm xăng phải dự trữ một số lượng đủ cung cấp cho 70 ngày. Ngay trong cảnh mới động đất xong, các trạm xăng khi thấy số dự trữ xuống tới mức 70 ngày cũng ngưng bán. Tất nhiên người tiêu thụ ở Nhật bình thản chấp nhận cảnh khan hiếm xăng do luật lệ gây ra như thế; vì bản chất họ luôn luôn trọng kỷ luật. Nhưng người ngoài thì ai cũng thấy trong hoàn cảnh khẩn cấp thì bảo vệ một điều luật như vậy là cố chấp! Phải đợi 10 ngày sau, chính phủ trung ương mới cho phép các trạm xăng chỉ giữ một khoảng dự trữ cho 45 ngày mà thôi!







Có thể nói hệ thống chính trị nước Nhật được xây dựng rất kiên cố, xã hội quá trật tự, không uyển chuyển để thích ứng với cơn nguy biến. Ngay khi bại trận, họ đã xóa bỏ chế độ quân phiệt độc tài, nhưng cả xã hội và hệ thống hành chánh vẫn tổ chức theo lối hàng dọc từ trên xuống dưới. Mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế đều đặt dưới sự điều hành của ba thế lực trong xã hội. Ðó là guồng máy hành chánh, các ngân hàng lớn, và các đại công ty. Chưa kể, một đảng chính trị gần như nắm độc quyền trong hơn nửa thế kỷ, vì đảng Tự do Dân chủ liên kết được cả ba thế lực trên.

Người dân Nhật thản nhiên chấp nhận tình trạng đó từ năm 1947 khi bản Hiến Pháp dân chủ được áp dụng. Nhờ đảng Tự do Dân chủ và các đồng minh của họ trong guồng máy hành chánh và giới tài phiệt đã mang lại cuộc sống thịnh vượng, với những người lãnh đạo có tư cách đáng kính trọng cho nên dân Nhật vẫn chấp nhận.

Nhưng một hệ thống chính trị tập trung và chỉ huy như vậy chứa sẵn mối rủi ro, nếu dân trí không cao hoặc nếu người cai trị không lương thiện. Thói quen răm rắp tuân theo lệnh trên của người dân và quyền hành tập trung vào guồng máy hành chánh đó không còn thích hợp khi phải đối phó với những biến cố bất ngờ lớn.

Người Nhật Bản đã nhìn thấy nhược điểm đó một lần trong vụ động đất ở Kobe năm 1995. Năm đó, chính phủ Nhật lúng túng và chậm chạp trước tai biến lớn lao (phải công bằng mà nói thêm rằng chính phủ Mỹ cũng lúng túng như vậy trong thời gian bão Katrina). Cuộc động đất Kobe đã khiến nhiều người Nhật cảm thấy mất lòng tin vào khả năng của họ.

Năm nay chính phủ Naoto Kan đã phản ứng rất nhanh trong việc trấn an tinh thần dân chúng. Các công chức bộ Kinh Tế, Thương Mại và Công Nghệ làm việc ngày đêm, có lúc làm việc trong bóng tối để tiết kiệm điện. Nhưng guồng máy hành chánh vẫn chạy theo thói quen cố hữu.

Một nghị sĩ đảng đối lập, ông Kouta Matsuda đã cố gắng đi cấp cứu vùng Miyagi mà ông là đại biểu. Vốn là một nhà kinh doanh thành công, ông Matsuda đã lái một chiếc xe tải nhỏ 4 tấn chở phẩm vật tới giúp các cử tri của mình. Nhưng cảnh sát không cho phép ông lái chiếc xe đó trên con đường dành cho xe tải. Bởi vì đã có lệnh con đường đó được dành riêng cho các xe cấp cứu. Ông cho biết tại Miyagi còn rất nhiều thực phẩm nhưng thiếu một hệ thống phân phối hữu hiệu.

Sau đó, ông Matsuda đã mượn môt chiếc máy bay trực thăng chở thức ăn, thuốc men và dụng cụ để sạc điện cho máy điện thoại di động tới Miyagi; nhưng cảnh sát không cho phép máy bay đáp xuống. Cũng vì đã có lệnh cấm. Ông bèn xin phép được thả các phẩm vật từ máy bay xuống đất; lại bị từ chối, vì làm như vậy là trái luật lệ, mặc dù chiếc trực thăng bay là là chỉ cách mặt đất có một mét!

Người Nhật rất trọng kỷ luật. Một chuyến xe lửa phải ngưng chạy trong 16 tiếng đồng hồ, nhưng tất cả các hành khách vẫn bình tĩnh và lễ độ; các phòng vệ sinh vẫn sạch sẽ không một vết nhơ. Ðức tính kỷ luật của cả một dân tộc rất đáng kính phục. Nhưng thi hành luật lệ một cách cứng nhắc thì không nên, sẽ trở thành cố chấp.

Người Việt Nam trái lại; có thói quen sống linh động, “chín bỏ làm mười.” Nhưng biến báo, uyển chuyển thái quá thì có khi sẽ thành vô kỷ luật.

Giữa hai thói xấu, tính cứng nhắc và thiếu kỷ luật, chúng ta không thể nói thói nào xấu hơn. Nhưng người ta chỉ phạm lỗi cứng nhắc hoặc cố chấp khi phải đối phó với những hoàn cảnh bất thường. Nghĩa là những trường hợp hiếm hoi. Trong hoàn cảnh bình thường, giữ đúng kỷ luật thì không gọi là cố chấp nữa. Còn thói “biến báo” có khi bất chấp kỷ luật thì nếu đã tập nhiễm sẽ khó bỏ; có thể sẽ trở thành một thói xấu thường xuyên, xã hội sẽ khó sống hạnh phúc.

Tại sao người Nhật với người Việt mình
khác nhau như vậy?

Những thói quen có tính cách tập thể này chắc đã thành hình suốt chiều dài lịch sử mỗi dân tộc. Trong hơn một ngàn năm gần đây, lớp người được kính trọng nhất trong xã hội Việt Nam là các nhà Nho. Ở Nhật Bản, lớp người ưu tú là những võ sĩ, đẳng cấp bushi xuất hiện từ thời đại Bình An (Heian, 794-1185). Năm 1185 Tướng quân Minamoto Yoritomo biến tầng lớp Samurai thành một định chế chính thức. Họ cũng được rèn luyện theo luân lý Nho giáo giống như các nhà Nho Việt Nam; nhưng người Nhật lấy các võ sĩ làm gương. Nho giáo truyền vào nước Nhật qua ngả Hàn Quốc.

Năm 285, Vua Keun Ch'ogo thuộc triều đại Paekche đã cử một nhà Nho là Wang In đem 10 chương trong sách Luận Ngữ và cuốn Nhất Thiên Tự (Senjimon) sang Nhật Bản. Nho giáo được đưa sang Việt Nam sớm hơn; chính thức bắt đầu từ thời Sĩ Nhiếp (187-226).

Cùng học một hệ thống đạo lý nhưng ở nước Nhật thì đẳng cấp võ sĩ là tiêu biểu cho nền đạo đức, nhấn mạnh đến lòng trung thành tuyệt đối với chủ nhân, tức là các sứ quân; trong khi đó ở nước ta chính các nhà Nho, tức là những văn nhân, là lớp người chuyên chở đạo lý.

Văn khác với võ; người Nhật cương còn người mình nhu. Vì kỷ luật là điều kiện sống còn của các người ra chiến trận, còn các nhà văn cần được tự do, và nghĩ đến tình hơn lý, trọng những cá tính đặc thù hơn tính chất đồng nhất của tập thể. Dân tộc nào cũng cần biết khai triển những ưu điểm của nền văn hóa mình trong khi phải học hỏi người khác.

Khung cảnh thiên nhiên có thể thay đổi lối sống. Khổng Tử đã nhận xét về ảnh hưởng của địa dư trên tính khí con người: “Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường dã; quân tử cư chi. Nhẩm kim cách, tử chi bất yếm, bắc phương chi cường dã; nhi cường giả cư chi” (Dạy dỗ người với lòng khoan nhu; không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của người phương Nam; người quân tử theo đó. Nằm ngủ với áo giáp, binh khí; chết cũng không sợ, đó là sức mạnh của người phương Bắc; người hùng mạnh theo đó, Trung Dung, chương 10).

Trong câu trên Khổng Tử nói đến những giống dân không phải người Hán sống ở phía Nam Trường Giang và phía Bắc vùng châu thổ Hoàng Hà. Dân Nhật Bản có sức mạnh của người phương Bắc, người Việt Nam có sức mạnh của người phương Nam.

Nhu quá thành vô kỷ luật, cương qua thành cố chấp. Mỗi dân tộc Việt và Nhật có nhiều ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Cả hai nước Việt Nam và Nhật Bản đều chịu ảnh hưởng của luân lý Nho giáo cũng như dân Hàn Quốc; và mỗi nước đã phát triển trên những con đường khác nhau.

Chúng ta không nên thấy những thói quen xấu của người Việt Nam gần đây, mà nghĩ rằng đó là những tật xấu có từ lâu, do bản tính dân tộc. Thực ra đại đa số những thói xấu như sống vị kỷ, vô kỷ luật, trọng tiền tài; đến cảnh quan chức tham nhũng, vô trách nhiệm, khinh dân, như chúng ta đang chứng kiến trong xã hội hiện nay đều là do ngoại cảnh hoặc gây ra, hoặc đẩy lên đến mức độ quá cao, quá lộ liễu. Vì thượng bất chính, hạ tất loạn, điều này ai cũng biết.

Nhật Bản là một nước dân chủ, tinh thần võ sĩ và luân lý Nho giáo vẫn tồn tại mặc dù chế độ chính trị thay đổi. Nhưng truyền thống của dân Nhật cũng đưa tới những nhược điểm trong hệ thống chính trị, hiện rõ qua vụ động đất vừa qua. Nổi bật nhất là trong vụ nhà máy điện nguyên tử Daiichi.

Như trên đã nói, hệ thống chính trị Nhật Bản tuy là dân chủ nhưng vẫn quá tập trung. Ðặc biệt là giới tư bản nắm guồng máy tài chánh, kinh tế, cộng tác quá chặt chẽ với hệ thống hành chánh. Người Nhật đoàn kết và tin cẩn nhau, nhìn ai cũng thấy người ta lương thiện, chính trực, ai cũng trọng công ích, có tinh thần trách nhiệm; đó là một ưu điểm tập thể nhờ truyền thống võ sĩ đạo.

Nhưng khi những công chức có nhiệm vụ kiểm soát giới quản lý trong lãnh vực tư mà tin tưởng quá đáng vào những người mình phải kiểm soát, thì họ rất dễ phạm những sai lầm. Tình trạng cộng tác mật thiết đó khiến trong hệ thống bị thiếu thói quen chất vấn, tranh luận, thói quen nghi ngờ, phải kiểm tra và tái kiểm tra.

Khi nhà quản lý bỏ qua không quan tâm đến những báo động về mối rủi ro mà giới công chức đồng ý một cách dễ dàng thì công chúng sẽ lãnh hậu quả xấu. Mặc dù giới công chức Nhật không cấu kết với giới quản lý kinh doanh, nhưng họ có thể làm không tròn nhiệm vụ kiểm soát chỉ vì hai bên đoàn kết và tin cẩn nhau quá đáng!

Từ mười năm qua nhiều chuyên gia độc lập đã báo động công ty điện lực TEPCO, chủ nhân nhà máy Daiichi rằng các lò nguyên tử ở đó, do các kỹ sư Mỹ thiết kế từ nửa thế kỷ trước, đã lỗi thời, Nhưng các báo động đó bị bỏ qua. Các chuyên viên ở nhà máy đã không thực hiện đủ những cuộc thanh tra kỹ thuật định kỳ bắt buộc, kể cả lần trước ngày động đất hai tuần.

Khi động đất xẩy ra, các lò nguyên tử đang giữ chứa nhiều thỏi nguyên liệu hạt nhân đã dùng rồi, nhiều hơn con số tối đa được giữ. Một tháng trước ngày động đất, các công chức đã chấp thuận lời yêu cầu của công ty TEPCO triển hạn việc sử dụng sáu lò nguyên tử thêm 10 năm nữa mặc dù đã có những báo động là sức chịu đựng quá nặng nề rồi.

Không ai nghi ngờ giới công chức Nhật Bản đã dễ dãi với công ty điện lực vì được hối lộ. Tuy nhiên, trong hệ thống điều hành kinh tế cũng như chính trị một quốc gia, sau khi tạo ra những định chế cân bằng để tự kiểm soát thì vẫn còn phải tạo thêm thói quen chất vấn, tranh luận với nhau, chứ không thể nhân danh tình đoàn kết mà hoàn toàn tin tưởng nhau. Ðây là một vấn đề văn hóa chứ không còn là chính trị nữa.

Tất nhiên, dù hệ thống chính trị nước Nhật có nhược điểm như thế, nó cũng trăm lần tốt hơn một hệ thống chính trị hoàn toàn dựa trên tham nhũng và tinh thần bè đảng, bất chấp công ích và đạo lý. Nhưng xin đừng ai nghĩ rằng tình trạng xấu xa tàn tệ đó là do bản chất của người Việt Nam tạo ra! Không người Việt Nam nào chấp nhận tình trạng đó. Khi so sánh với nước ngoài, ai cũng cảm thấy nhục nhã.

Ngô Nhân Dụng


 


Một vài ý kiến tham luận vào
"Nhận định tình hình đất nước hiện nay".


(ngày 4 tháng 6 năm 2011 tại Little Saigon)

 
1- NHỮNG ÁP LỰC DO BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ


Dân số Việt Nam tháng 11-2010 là 89.033.000, thành phần gồm có:
- lực lượng lao động 48%
- dưới 15 tuổi 44%
- trên 65 tuổi 14%
Chỉ số lão hóa hiện nay ở Việt nam 36% (so với Singapour 85%, Thái lan 52%)


Tăng Trưởng Dân Số


Dự báo của US Census Bureau và Thống Kê VN thì dân số sẽ tăng lên :
- năm 2030 ước lượng là 104.148.000 (bình tuyển giữa 103.117.000 và 107.808.000).
- năm 2050 ước lượng là 111.829.000 (bình tuyển giữa 108.707.000 và 119.852.000).
Theo dự báo này, trong hai hay bốn thập niên nữa, tiên liệu sẽ có nhiều biến đổi:
- Sinh xuất giảm, lớp tuổi học sinh sẽ giảm, tuổi lao động tăng, tuổi già tăng, biểu đồ dân số sẽ không có hình
tháp nhọn, mà giống hình cái chum (lu nước).
- Lớp tuổi tiểu học hiện nay là 6,9 triệu sẽ giảm xuống 6,5 triệu vào năm 2020 và 6,3 vào năm 2030.
- Lớp tuổi trung học hiện nay là 9,1 triệu sẽ giảm mạnh hơn.
- Lớp tuổi đại học giảm 24% vào năm 2030, nhưng tỷ lệ đi học đại học tăng thêm.


Hiện nay đầu tư giáo dục ở Việt Nam là 2,1%, so với tỷ lệ thế giới 5,4%.
- Lực lượng lao động tăng cả về tuyệt đối lẫn tương đối, có thể lên đến 65% dân số
- Lớp tuổi già tăng thêm, tốc độ lão hóa nhanh hơn tốc độ dân số. Theo quy định của Liên Hiêp Quốc một dân số có tuổi vàng cao hơn 10% là một dân số già.
Hệ quả của những biến động dân số này sẽ gây ra áp lực lớn trên nhiều vấn đề quan trọng: lương thực cho người nghèo, giải quyết việc làm cho giới lao động, bảo đảm an sinh xã hội, y tế cho mọi lớp tuổi, thuốc men, mức sống cho người già và đầu tư nâng cao phẩm chất giáo dục v.v...
Dân số 2010 Dự báo dân số 2050


2- MỨC SỐNG NGƯỜI DÂN
VÀ TÌNH TRẠNG NGHÈO ĐÓI


Theo thống kê của Việt Nam (có sự cộng tác của UNDP Liên Hiệp Quốc), năm 2008 trung bình một tháng mỗi người:


THU NHẬP
được 995.200 đồng (thành thị: 1.605.200, nông thôn: 762.200)
Tiền lương, tiền công 345.500
Nông nghiệp 202.300
Lâm nghiệp 6.900
Thủy sản 29.900
Công nghiệp 50.400
Xây dựng 5.300
Thương nghiệp 94.900
Dịch vụ 74.900
Khác 57.700


CHI TIÊU
mất 792.500 đồng (thành thị 1.245.300, nông thôn 619.500), chia ra như sau:
Ăn, uống, hút 373.400
Tiêu dùng khác 331.500
Ngoại khoản 87.600


CHI TIÊU Y TẾ
và chăm sóc sức khỏe hàng tháng (2008) của một nhân khẩu:
Cả nước 45.100 Thành thị 63.900 Nông thôn 38.000
Khám chữa bệnh 32.900 44.800 28.400
Mua thuốc 9.600 14.900 7.500
Dụng cụ 600 1.100 400
Bảo hiểm 2.100 3.100 1.700


TÌNH TRẠNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM
Việt Nam đã ký vào Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc (tháng 9-2000) theo đó mục tiêu đầu tiên trong 8 mục tiêu nhằm kết thúc vào năm 2015 là xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói.
Thống kê Việt Nam năm 2008 cho biết tỷ lệ hộ nghèo là 13,4 % (cả nước: 8,7; thành thị 6,7; nông thôn16,1), tỷ lệ nghèo chung là 14,5% (thành thị 3,3, nông thôn 18,7)


Chuẩn nghèo thế giới quy định thu nhập bình quân một người mỗi năm là 730 USD trong khi đó thu nhập trung bình hàng năm của người Việt Nam vẫn dưới tiêu chuẩn đó, dù có điều chỉnh về giá trị so sánh tương đương vẫn chưa qua được tiêu chuẩn nghèo. Trước kia Việt Nam đã định chuẩn nghèo, bình quân mổi tháng 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở thành thị. Tháng 9 -2005, Bộ Lao động Thương Binh và Xã Hội áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 đã tăng lên 270.000 đồng/người/tháng và 350.000 đồng/người/tháng tương ứng với nông thôn và thành thị.

**
Hy vọng những dữ liệu bên trên có thể góp phần vào việc thảo luận về "nhận định tình hình đất nước hiện nay".
Phạm Hữu Trác
(Mặc Giao)
6-2011







NHẬN ÐỊNH
VỀ TÌNH HÌNH ÐẤT NƯỚC HIỆN NAY


 Mặc Giao

Nếu kể những điều tích cực đang xảy ra tại Việt Nam, chúng ta có thể kể trong vài phút. Nhưng nếu nói tới những điều tiêu cực, chúng ta có thể nói cả ngày vẫn chưa hết và sẽ làm người nghe phải than: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Vì vậy chúng tôi chỉ trình bầy những gì chúng tôi nghĩ là cần phải nói.

1. Một nền kinh tế vô định hướng

Chúng ta nhìn nhận Việt Nam đã đạt một số tiến bộ về kinh tế từ năm 1986, khi Ðại Hội 6 của đảng Cộng Sản Việt Nam chọn Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và quyết định áp dụng kinh tế thị trường, mở cửa cho tư bản ngoại quốc đến đầu tư. Ðể thực hiện điều này, nhà nước Việt Nam đã phải ban hành một số luật lệ và áp dụng một số biện pháp mới khả dĩ đáp ứng nhu cầu giao lưu quốc tế và tạo một bộ mặt coi được cho “quan trên trông xuống, người ta trông vào”.

Từ đó, đời sống của dân chúng cũng đỡ bị bóp nghẹt, không còn nạn tem phiếu, xếp hàng cả ngày, ngăn sông cấm chợ. Kinh tế tự do như một giòng nước tìm chỗ chảy, chỗ nào không bị be bờ là nước sẽ tràn tới. Vì vậy, sự tiến bộ tương đối về kinh tế trong gần ba thập niên qua là điều tất nhiên.

Lợi tức thường niên tính theo đầu người từ 300 Mỹ kim cách đây 25 năm đã tăng lên 1,200 Mỹ kim trong năm nay (theo Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng), dù còn thua rất xa những nước lân bang như Thái Lan, Mã Lai, Singapore (1). Một số chính phủ và nhân vật chính trị cổ võ quan điểm nên giúp các chế độ độc tài phát triển kinh tế. Một khi kinh tế khá lên, tự do và dân chủ cũng sẽ triển nở, vì lúc đó dân chúng sẽ đòi thỏa mãn những nhu cầu khác ngoài nhu cầu cơm áo. Luận điểm này đã được chứng minh ngược lại với các trường hợp Trung Hoa và Việt Nam. Nó chỉ còn giá trị biện minh cho sự cộng tác với những chế độ đàn áp con người.

Áp dụng kinh tế thị trường là đi ngược điểm cốt lõi của chủ thuyết cộng sản, theo đó quyền tư hữu không được công nhận, tài sản do mọi người làm ra phải được tập trung trong sự quản trị của nhà nước vô sản chuyên chính và sẽ được phân phối theo nhu cầu. Vì vậy, để khỏi mang tiếng hoàn toàn đánh mất lập trường cơ bản, kinh tế thị trường được gắn thêm cái đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghiã”.

Nếu xã hội chủ nghiã được hiểu là thực thi tình đoàn kết liên đới (solidarity) theo chế độ dân chủ xã hội (social democracy) như ở các nước Bắc Âu: người giầu giúp người nghèo, người khỏe mạnh giúp người đau ốm, người trẻ nuôi người già, người có việc nuôi người thất nghiệp, nhà nước chỉ đóng vai trò điều hành và phân phối một cách trong sáng, thì đó là điều vạn phúc cho dân. Thế nhưng định hướng xã hội chủ nghiã trong ý nghĩ và hành động của cộng sản Việt Nam chỉ là “quốc doanh chủ đạo”.

Những công ty nhà nước nắm hết những ngành sản xuất và doanh thương quan trọng. Tại những quốc gia dân chủ bình thường, những công ty quốc doanh chỉ được duy trì một cách hạn chế để làm đầu tầu kéo chính sách kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn cho việc cung cấp những dịch vụ có lợi ích công cộng hay thiết yếu cho an ninh quốc phòng (bưu điện, giao thông, dầu khí, điện nước …). Nhà nước cộng sản Việt Nam có giảm bớt một số công ty quốc doanh qua biện pháp cổ phần hóa, nhưng vẫn giữ lại nhiều công ty không thuộc lãnh vực phục vụ công ích và an ninh quốc gia. 

Thêm vào đó, dưới trào Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, những tập đoàn doanh thương nhà nước có tầm vóc bao trùm với số vốn khổng lồ được thành lập, như Vinashin (kỹ nghệ tầu thủy), công ty tài chánh ALC II (lease financing, cho vay tài khoản tạo mãi thiết bị sản xuất). Các tập đoàn này được đặt trực thuộc thủ tướng. Việc giữ lại cái đuôi định hướng xã hội chủ nghiã với những đại công ty và tập đoàn kinh tế còn có những tính toán không thể nói ra:

Rút tiền từ các công ty để tài trợ cho đảng cộng sản,

Làm giầu cá nhân qua những món tiền đi đêm
khi ký hợp đồng và chia chác hoa hồng,

Gài người thân tín vào các chức vụ chỉ huy
các công ty để nắm luôn quyền lực kinh tế.

Tư lợi thì như thế, nhưng trách nhiệm thì vô can. Công ty nào lỗ vốn đã có tiền của quốc gia đắp bù. Vinashin nợ 80,000 tỷ đồng VN trước khi tái cơ cấu, trong số nợ này 750 triệu Mỹ kim là trái phiếu chính phủ (VNExpress 24-5-2011). Vinashin không có tiền trả nợ và lãi định kỳ cho các ngân hàng quốc tế khiến nhà nước phải ứng thêm 500 triệu Mỹ kim. ALC II lỗ 3,004 tỷ đồng VN trong năm 2009, và đến cuối năm 2010 công ty này vừa lỗ vừa làm thất thoát tới 4,000 tỷ đồng (theo Ban Kiểm Toán công ty ALC tháng 10, 2010). Tổng công ty xăng dầu lỗ 3,600 tỷ trong 3 tháng (2).

Lối làm ăn phản kinh tế này chứng tỏ những người cầm quyền không dám tiến thẳng tới nền kinh tế thị trường tự do, vì chưa dám lột bỏ nhãn hiệu xã hội chủ nghiã (dù nội dung đã khác hết rồi), sợ “diễn biến hòa bình” xảy ra và vì còn muốn tiếp tục thủ lợi qua chính sách kinh tế nhập nhằng này, đúng như Hà Sĩ Phu nhận định: “Ðổi mới là lọc lấy cái béo bở, còn tự do dân chủ thì vứt bỏ…Làm kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã chính là đứa con lai láu cá đó. Trong cách tính toán ấy làm gì có dân?” (Chia Tay Ý Thức Hệ).

Trong khi đó việc để cho hàng lậu tràn ngập thị trường nội địa, đặc biệt xuất phát từ Trung Quốc, gây thất thâu cho ngân sách quốc gia và giết chết nhiều ngành công nghệ bản xứ. Nạn nhân viên thuế vụ kiếm tiền riêng trong việc thỏa hiệp với người đóng thuế cũng gây thiệt hại cho công qũy những số tiền khổng lồ không ai ước lượng nổi.

Làm kinh tế như thế thì sớm muộn cũng dẫn đến phá sản. Hậu qủa trông thấy là đồng bạc VN mất giá 20% trong vòng ba năm nay, chính phủ VN nợ ngoại quốc 29 tỷ Mỹ kim, mỗi năm phải trả tiền lời 4 tỷ Mỹ kim. Chỉ trong tháng 5-2011, nhập cảng nhiều hơn xuất cảng 1.7 tỷ Mỹ kim, ngoại tệ dự trữ chỉ còn 12,2 tỷ (theo Tổng Cục Thống Kê), không đủ trả tiền lời và mua hàng nhập cảng cho năm nay, trong đó có những nguyên liệu cần thiết cho các nhà máy. Chắc chắn nhà nước sẽ phải đi vay nợ thêm, dù số nợ công đã tăng tương đương 52,6% tổng sản lượng nội địa (GDP).

Hệ thống ngân hàng rối loạn. Ngân hàng nhỏ vay tiền ngân hàng lớn của nhà nước với lãi xuất 20% để chi phí cấp thời và cho vay lại với lãi xuất 14% theo luật định (đài BBC 23-5-2011, theo hãng tin tài chánh Bloomberg). Nợ xấu không có khả năng trả lên tới 60% (3). Lối làm kinh tế giật gấu vá vai và “mì ăn liền” kiểu này sẽ tạo nguy cơ phá sập nền kinh tế còn non nớt.

Tệ hại hơn cả là nạn vật giá leo thang. Giá tiêu thụ tăng 17,51% trong tháng 4 và 19,78% trong tháng 5-2011 so với cùng thời gian hai tháng này năm trước (theo Bloomberg), khiến đời sống của những người có lợi tức thấp càng thêm cơ cực. Nhà nước tìm cách giảm lạm phát bằng việc tăng lãi xuất cho vay để hạn chế khối tiền tệ lưu hành.

Giải pháp này chẳng những không hữu hiệu với hoàn cảnh Việt Nam hiện tại mà còn gây khó khăn cho các cơ sở doanh thương ít vốn, khiến các cơ sở này phải thu hẹp hoạt động, sa thải nhân công, làm cho kinh tế trì trệ thêm. Kinh tế Việt Nam đang đi theo đường nào và sẽ đi về đâu?

2. Một đất nước bị bán rẻ,
    bị khai thác và tàn phá


Bổn phận đầu tiên của những người có trách nhiệm quản trị đất nước là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ quốc gia và bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Những người cầm quyền cộng sản VN đã làm gì?

- Họ đã nhượng một phần lãnh thổ và lãnh hải cho cộng sản Trung Hoa để đổi lấy sự ủng hộ chính trị cho riêng đảng cộng sản của họ. Ðược đà, cộng sản Trung Hoa đã leo thang đòi chủ quyền đảo và biển từ Hoàng Sa cho tới hết Trường Sa theo hình lưỡi bò do họ tự vẽ. Ngoài những lời phản đối lấy lệ, cộng sản VN không có một hành động cụ thể nào, kể cả hành động pháp lý hòa bình nhất, để bảo vệ những gì đã mất hay đe dọa bị mất.

Ngay khi những chiếc tầu của Trung Quốc xâm nhập hải phận VN để vét hải sản (mỗi ngày có từ 100 đến 200 tầu đánh cá Trung Quốc xâm nhập và khai thác biển VN) hay kéo tầu, bắt giết ngư dân VN, nhà cầm quyền VN chẳng những không có biện pháp bảo vệ lãnh hải và công dân của mình mà còn không dám gọi đích danh đó là tầu của Trung Quốc, chỉ dám nói “những tầu lạ”.

Thái độ thuần phục và sợ hãi của nhà cầm quyền VN đã khuyến khích Trung Quốc leo thang trong hành động xâm lăng để tự xác nhận toàn thể vùng biển vẽ hình lưỡi bò là của họ:








* Ngày 26-5-2011, khi tầu Bình Minh 02 của Tập Ðoàn Dầu Khí VN đang khảo sát địa chấn trong lãnh hải VN cách mũi Ðại Lãnh, tỉnh Phú Yên 116 hải lý, nằm sâu trong giới hạn 200 hải lý thềm lục địa theo Công Ước Luật Biển năm 1982 do Liên Hiệp Quốc ấn định, ba tầu hải giám của Trung Quốc kéo đến hăm dọa và cắt đứt những dây cáp thăm dò. Trước việc xâm lăng trắng trợn như thế, lần đầu tiên Bộ Ngoại Giao cộng sản VN phải lên tiếng phản đối Trung Quốc một cách mạnh mẽ và đòi bồi thường.

Trung Quốc trả lời một cách phách lối: “Những gì mà các cơ quan liên quan của Trung Quốc đã làm là các hoạt động giám sát và thực thi luật pháp hoàn toàn bình thường ở khu vực biển thuộc thẩm quyền tài phán của Trung Quốc” (Phát ngôn viên Khương Tử Du của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc. Theo TTXVN).

* Ngày 31-5-2011, ba tầu quân sự của Trung Quốc đã nổ súng uy hiếp, ngăn cản bốn tầu đánh cá của ngư dân Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, trên vùng biển thuộc chủ quyền VN, gần đảo Ðá Ðông, thuộc quần đảo Trường Sa. Ngư dân đã phải quay mũi tầu trốn chạy.

* Ngày 9-06-2011, 3 tầu Trung Quốc lại cắt dây cáp thăm dò của tầu Viking 2 do Petro Vietnam thuê ngay ở ngoài khơi Vũng Tàu.

Vấn đề đặt ra là hải quân VN ở đâu mà để tầu Trung Quốc tự do ra vào lãnh hải VN như vào ao nhà của họ? Hoặc Hải Quân VN có mặt tại đó nhưng không dám phản ứng vì chưa nhận được “lệnh của Bộ Chính Trị”? Sau những lời phản đối, cộng sản VN sẽ làm gì, hay lại để cho mọi chuyện đi vào quên lãng, và chờ lên tiếng phản đối khi có vụ khác xảy ra? Thái độ nhu nhược này phải được coi như hành động đồng lõa, đầu hàng và bán nước, một tội mà nhân dân Việt Nam, dù thuộc bất cứ lập trường chính trị nào, không thể tha thứ.






- Họ đã cho Trung Quốc băm vằm lãnh thổ, khai thác bauxite tại cao nguyên Trung phần, gây ô nhiễm môi trường, cho chuyên viên và thợ thuyền người Hoa đến đóng chốt tại những địa điểm có tính cách chiến lược và an ninh quốc phòng. Họ còn cho người nước ngoài thuê dài hạn 50 năm những khu rừng đầu nguồn thuộc 18 tỉnh trải dài từ Bắc xuống Nam, chiếm 1% diện tích lãnh thổ. Rừng cho thuê bị đốn cây có sẵn để trồng những loại cây khác theo ý muốn của người thuê. Các chính quyền địa phương tại những tỉnh ven biển cũng bắt chước trung ương khoanh biển và bờ biển cho các công ty ngoại quốc thuê để xây khách sạn, lập bãi tắm riêng, nuôi cấy thủy sản trong những vùng biển rộng hàng ngàn mẫu tây, đe dọa thay đổi sinh thái của toàn thể vùng biển Việt Nam (4).

- Họ đã rút ruột những công trình xây cất khiến giá thành cao và phẩm chất kém. Cụ thể là những công trình mới được xây nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long, như công viên Hòa Bình và đại lộ Thăng Long, tốn kém hàng tỷ Mỹ kim nhưng đã lún lở, bong nứt, đọng nước ngay khi lễ hội vừa xong. Nguyên nhân là những người có quyền đã ăn chịu với nhà thầu, mọi công đoạn đều có đút lót, chia chác, khiến số tiền thực sự dành cho công trình còn lại không bao nhiêu. Hậu qủa tự nhiên là những công trình được thực hiện bôi bác bằng những vật liệu kém, thiếu tiêu chuẩn, sẽ chóng hư hỏng.

- Họ để mặc cho các công ty kỹ nghệ tự do tháo nước thải đầy hóa chất độc hại xuống các giòng nước, tự do xả khói độc lên bầu trời, gây ô nhiễm môi trường và tàn phá sức khỏe của người dân. Công ty Vedan đã biến sông Thị Vải thành một giòng nước độc. Có những làng ở miền Bắc chìm trong tang thương vì có rất nhiều dân làng đã chết vì bệnh ung thư do khói độc và nước thải của những xưởng kỹ nghệ gần đó gây ra. Nếu tình trạng này tiếp tục, chỉ trong một thời gian ngắn nữa, đất nước Việt Nam sẽ biến thành đất chết.

Ðất nước bị bán rẻ, bị khai thác, bị bòn rút, bị bỏ mặc cho bọn con buôn vô lương tâm tàn phá, chỉ vì lợi riêng của những người cầm quyền cộng sản.

3. Một dân tộc bị bóc lột và trấn áp


Dân tộc VN đã trở thành công cụ cho đảng cộng sản thực hiện giấc mơ quyền lực, không đếm xỉa tới xương máu của nhân dân và tài nguyên của quốc gia. Họ cũng dùng dân Việt để thử nghiệm việc áp dụng chủ thuyết cộng sản: hận thù giai cấp, cải cách ruộng đất, quản lý bao tử, kiểm soát ý nghĩ và kiểm soát cả niềm tin. Khi thất bại và tình thế đòi hỏi, họ đổi sang đường lối gọi là cởi mở với chiêu bài kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã, vừa để giải quyết vấn đề kinh tế, vừa để bọn họ có cơ hội làm ăn, vơ vét theo kiểu mới. Vì thế, nhiều tệ nạn phát sinh và được tự do phát triển

- Nạn tham nhũng đã lan tràn và luồn lách vào mọi tế bào xã hội, không chỉ riêng trong guồng máy công quyền. Lớn tham nhũng lớn, nhỏ tham nhũng nhỏ, dân cũng tham nhũng với nhau. Muốn được việc phải có qùa cáp hay phong bì lót tay. Xin việc, xin học đều phải hối lộ. Muốn con được điểm tốt thì phải biếu xén thầy cô, cho con học thêm tại nhà thầy cô. Người lớn bị cướp tiền. Trẻ con bị cướp tuổi thơ, không còn giờ vui chơi, mơ mộng. Tệ nạn tham nhũng không thể chữa nếu không thay đổi cơ chế chính trị và không có quyết tâm diệt tham nhũng và làm gương từ cấp cầm quyền thượng tầng.

- Thiếu vắng những biện pháp giáo dục, y tế và xã hội nhằm phục vụ đại đa số nhân dân. Giáo dục công nhưng không miễn phí, mỗi trường tự ý đặt ra những lệ phí bắt phụ huynh phải trả. Học sinh khi thi tốt nghiệp trung học phổ thông cũng phải đóng tiền ủng hộ nhà trường trước khi rời trường. Nhiều gia đình không kham nổi đành cho con nghỉ học. Con số trẻ em bỏ học và thất học gia tăng.

Dịch vụ y tế đã biến thành dịch vụ làm tiền. Bệnh nặng hay nhẹ đều phải có tiền mới được chữa trị. Nhà nước mới gia tăng lệ phí trên 350 dịch vụ y tế. Người bệnh không có tiền mà lết đến nhà thương sẽ bị chửi bới và xua đuổi như ăn mày, chỉ còn nước về nhà chờ chết. Những gia đình nghèo, những người góa bụa, những trẻ em không người nuôi dậy, những người già cả không ai phụng dưỡng sống lây lất, nhà nước không nhòm ngó tới. Nhiều tổ chức từ thiện trong và ngoài nước đã phải làm thay những việc đáng lẽ nhà nước phải làm.

- Tước đoạt quyền công dân và những tự do căn bản trong đó có tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do bầu những người đại diện để điều khiển đất nước được ghi rõ trong Hiến Pháp nhưng trên thực tế bị cấm đoán triệt để. Ai xử dụng quyền chính đáng của mình sẽ bị vu oan, bị khép vào tội vi phạm an ninh quốc gia và bị xử theo điều 88 Luật Hình Sự.

Một thứ quyền cao trọng nhất thuộc phần tâm linh của con người, tự do tôn giáo, cũng bị cấm đoán dưới nhiều hình thức tinh vi. Dẹp được giáo hội nào thì dẹp luôn. Không dẹp được thì dùng biện pháp chia để trị bằng cách lập ra giáo hội mới, xúi bẩy phân chia giáo hội chính truyền thành nhiều phe phái (Phật Giáo), lập những ban trị sự giáo hội gồm những tay sai cộng sản (Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài), tìm thỏa hiệp với các vị lãnh đạo tinh thần bằng chính sách cây gậy và củ cà rốt (Công Giáo). 






Cộng sản và tôn giáo là hai đối thủ không đội trời chung. Ngay lúc trời yên gió lặng, hai bên cũng chỉ đối xử với nhau bằng mặt, không bằng lòng. Tín đồ các tôn giáo là những khối quần chúng có một niềm tin khó lay chuyển và dễ nghe lời các vị lãnh đạo tinh thần.

Vì vậy, muốn làm suy yếu khối quần chúng tín đồ thì phải xé nát khối này thành nhiều mảnh và phải nắm được các chức sắc của các giáo hội. Mỗi giáo hội được cư xử và đàn áp một cách khác nhau, tất cả đều nhắm mục tiêu vô hiệu hóa sức mạnh của khối quần chúng các tôn giáo.

- Ðối xử tàn ác với dân: tệ nạn cướp đất, cướp ruộng, đuổi nhà, bồi thường với giá rẻ và bán lại với giá gấp trăm đã tạo ra từng đoàn lũ dân oan, bỏ công ăn việc làm, dẫn nhau đi khiếu kiện từ Sài Gòn ra Hà Nội mà không được ai tiếp xúc và giải quyết. Những người lên tiếng một cách hòa bình đòi tự do, dân chủ, nhân quyền bị đánh đập, vu oan, bắt nhốt, đưa ra tòa và bỏ tù.

Những vụ đàn áp trắng trợn nhất mới xảy ra vào tháng 4-2011 cho Luật sư Lê Quốc Quân, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Luật sư Cù Huy Hà Vũ. Blogger Nguyễn Văn Hải, tức Ðiếu Cầy, đã hết hạn tù một năm nay nhưng vẫn bị giam và thân nhân không biết hiện ông bị giam ở đâu. Ngày 30 tháng 5 vừa qua, Tòa án tỉnh Bến Tre xử 7 công dân vô tội và lên án tổng cộng 60 năm tù, cả tù ở lẫn tù tại gia.

Người bị nặng nhất là một phụ nữ, bà Trần Thị Thủy, lãnh 8 năm tù và 3 năm quản chế. Họ chỉ có “tội” đòi tự do tôn giáo và khiếu oan vì bị cướp tài sản nhưng bị kết án về tội “lật đổ chế độ” chiếu điều 79 Luật Hình Sư. Cộng sản còn có thói quen “ăn thịt” chính những đứa con của mình: Nguyễn Hộ, Trần Ðộ, Hoàng Minh Chính và mới đây Vi Ðức Hồi.

Nhà cầm quyền VN cũng ra lệnh cho nhân viên công lực thẳng tay bạo hành và tàn sát dân lành. Họ đánh đập giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân lòi mắt, bể đầu, gẫy tay tại Tam Tòa, Ðồng Chiêm, Loan Lý, Cồn Dầu. Chỉ trong bốn tháng đầu năm 2011, đã có 5 người dân vô tội bị công an đánh chết chỉ vì vi phạm luật giao thông hay những tranh chấp bình thường.

Tổng số dân lành bị công an đánh chết hay chết tại đồn công an đã lên tới 25 người trong mấy năm qua. Vào tháng 4 vừa qua, chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền, vợ nạn nhân Nguyễn Công Nhật ở Bình Dương còn bị một sĩ quan công an gọi điện thoại tống tình, đòi chị dâng hiến thân xác để đánh đổi sự an toàn cho chồng, trong khi chồng chị đã chết một cách mờ ám ở đồn công an. Thật không còn hành động nào tàn ác và đê tiện hơn!

Tội nghiệp cho dân Việt Nam! Họ được những người mệnh danh là đầy tớ nhân dân đối xử như quân thù, muốn bắt, muốn đánh, muốn giết lúc nào tùy ý. Dân Việt Nam đang bị cai trị bởi những kẻ không còn tình người, tuy cùng giòng máu nhưng hung ác và nhẫn tâm hơn những tên thực dân ngoại chủng cướp nước ngày xưa.

Mặc Giao
Hội Ngộ Dân Chúa
Tháng Sáu 2011

LỮ GIANG NGUYỄN CẦN LEO THANG
ĐÁNH PHÁ NHỮNG NGƯỜI CHỐNG CỘNG

Mặc Giao

Ông Nguyễn Cần, bút hiệu Lữ Giang và Tú Gàn, là một cây viết gây nhiều dấu hỏi trong làng văn trận bút ở hải ngoại, đặc biệt tại vùng Orange county, tiểu bang California, Hoa Kỳ, nơi có số người Việt tỵ nạn cộng sản đông nhất.

Trước 1975, tôi chỉ nghe loáng thoáng về một thẩm phán Nguyễn Cần nào đó ở Gia Định, đã từng tu học ở tiểu chủng viện Huế rồi ra ngang. Đến năm 2000, nhân tình cờ có mặt tại Little Saigon, đúng lúc Cha Nguyễn Văn Lý phát động cuộc đấu tranh “Tự Do Tôn Giáo hay là chết”, tôi được rủ đến dự một phiên họp tại văn phòng của Luật sư Phổ với những anh em quan tâm tới sự việc này và muốn tìm những biện pháp ủng hộ cuộc đấu tranh của Cha Lý.

Phiên họp có khoảng 20 người và lần đầu tiên tôi được gặp ông Nguyễn Cần trong số những người tham dự. Trong phiên họp, ông Nguyễn Cần nói rất ít và không phát biểu một ý kiến nào có thể gây tranh cãi. Tôi tưởng ông đồng ý với anh em có mặt về những hành động ủng hộ Cha Lý như đã đề ra. Tôi đã lầm.

Sau buổi họp, trong khi anh em tổ chức những cuộc hội thảo, những buổi cầu nguyện, viết những bài báo, vận động các đoàn thể ra tuyên ngôn để cùng với Cha Lý tại Nguyệt Biều đấu tranh cho tự do tôn giáo, thì ông Nguyễn Cần tung ra những bài tố cáo Cha Lý có vợ con, là một linh mục thuộc thành phần bất hảo mà tòa Tổng Giám Mục Huế không muốn bênh vực khi Cha Lý đang bị cộng sản quản chế tại họ đạo nhỏ bé Nguyệt Biều. Đọc những bài này, tôi có cảm tưởng bị xối nước lạnh. Và từ đó tôi có những hoài nghi rất lớn mỗi khi đọc cho biết hay nghe về ông Nguyễn Cần.

Mấy năm sau, ông Nguyễn Cần tung ra phóng ảnh một thư viết tay nói là của Cha Lý đang trong tù với nội dung ăn năn hối cải về những hành động đòi tự do tôn giáo và chống đối nhà cầm quyển cộng sản, đồng thời ca tụng Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản hết lời. Ông Nguyễn Cần còn viết thêm lời bình luận mạt sát Cha Lý, cho rằng chuyện này đương nhiên phải xảy ra vì bản chất của Cha Lý là bất nhất, hèn yếu và…khật khùng.

Tới lúc đó, tôi chưa bao giờ muốn đối thoại hay tranh luận với ông Nguyễn Cần. Nhưng lần này thấy ông đã đi qúa trớn, đạp người ngã ngựa xuống bùn đen, phán đoán một tu sĩ giống như ông là bố nuôi và là “cha linh hồn” của “tập tu” Nguyễn Văn Lý. Vì vậy tôi cảm thấy không thể im lặng được nữa.

Tôi đã viết một bài phản bác những luận điệu và thái độ của ông Nguyễn Cần. Tôi cho rằng trong khi còn phải kiểm chứng một cách khoa học xem lá thư nói là của Cha Lý có thực sự do Cha Lý viết hay do cộng sản giả mạo để tự đề cao và gây rối loạn hàng ngũ đấu tranh đòi tự do tôn giáo, chúng ta không nên bình luận theo chiều hướng có lợi cho cộng sản và mạt sát Cha Lý. Giả dụ bức thư này qủa thực do Cha Lý viết, chúng ta cũng phải tìm hiểu xem Cha Lý viết tự nguyện hay viết dưới áp lực và đe dọa.

Theo luật thông thường, mọi lời khai dưới sự đe dọa đều được coi như vô giá trị. Hơn nữa, trước khi đi tù, Cha Lý đã công khai nói với thân nhân và dư luận đại ý: “Xin đừng tin bất cứ lời khai báo hay nhận tội nào mà tôi nói hay viết khi tôi bị cầm tù”. Ông Nguyễn Cần không có phản biện nào về bài viết của tôi, dù bài viết này đã được phổ biến rộng rãi.

Đến khi tôi viết một bài phê bình cuộc bầu cử quốc hội cộng sản, cho đó là một cuộc bầu cử phường tuồng và những đại biểu quốc hội chỉ là những tay sai của đảng cộng sản, ông Nguyễn Cần mượn cơ hội viết vài hàng chỉ trích vu vơ mang tính cách trả thù trên web của ông, đại ý: ai phê bình quốc hội cộng sản thì còn được, ông Mặc Giao mà cũng dám phê bình à? Hồi xưa các ông là gì của chế độ Thiệu? Nói thẳng ra là ông muốn chửi chúng tôi là những dân biểu “gia nô” thời Đệ II Cộng Hòa. Danh từ “gia nô” thường được cộng sản và những người đối lập cực đoan dùng để nhục mạ những người cộng tác hăng hái với chế độ VNCH.

Chúng tôi không động lòng vì lời xách mé thiếu đẳng cấp này. Trong sinh hoạt chính trị có dân chủ và tự do thì phải có phe cầm quyền và phe đối lập. Mọi người được tự do sắp hàng và tranh cãi nhưng không được quyền nhục mạ người khác. Đang phải chiến đấu một mất một còn với cộng sản mà không cộng tác với chính quyền chống cộng thì cộng tác với ai? chẳng lẽ với bọn xôi thịt hay với cộng sản như những dân biểu hai mang nằm vùng Lý Qúy Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức…? Chẳng lẽ đi chống một tổng thống do dân bầu để đưa một người không ai bầu lên làm tổng thống để ông ấy đầu hàng cộng sản trong 48 giờ?

Vì vậy chúng tôi chẳng có mặc cảm gì khi cộng tác với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Một người bạn của tôi đã nói một câu chí lý: “Làm “gia nô” cho quốc gia còn hơn làm “gia cầm” cho cộng sản”. Tôi có nhắn nhe cho ông Nguyễn Cần là nếu ông ấy muốn tranh luận với tôi thì hãy ra mặt viết bài đàng hoàng, không nên nấp trong xó ném đá như vậy. Ông ấy không trả lời. Tôi cũng quên luôn, không quan tâm gì tới ông ấy nữa.

Bỗng thời gian gần đây, ông Nguyễn Cần lại mở chiến dịch tấn công Linh Muc Phan Văn Lợi và Linh Mục Nguyễn Văn Khải thuộc Dòng Chúa Cứu Thế VN. Ai cũng biết LM Phan Văn Lợi bị quản thúc tại gia vì đã tích cực ủng hộ Cha Lý trong công cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền, đã cùng Cha Lý và một vài nhà đấu tranh khác thành lập Khối 8406, luôn luôn lên tiếng và hành động theo mục tiêu đã đề ra.

Sở dĩ cộng sản chưa bắt Cha Lợi vì họ chủ trương đánh rắn thì đánh đằng đầu. Nắm đầu “rắn” Nguyễn Văn Lý đã đủ rồi. Bắt thêm một linh mục nữa cũng chẳng ích gì hơn mà lại gây thêm nhiều phiền toái. Vậy mà ông Nguyễn Cần tìm mọi cơ hội để triệt hạ uy tín của LM Phan Văn Lợi. Ông đánh vào điểm cốt lõi của một linh mục, coi chức linh mục của Cha Lợi là giả mạo, tự nhận, là linh mục chui, không được các cấp giáo quyền công nhận. Bằng chứng là LM Phan Văn Lợi không có tên trong danh sách các linh mục của giáo phận Bắc Ninh (nơi chịu chức) và tổng giáo phận Huế (nơi cư ngụ), là linh mục “homeless” (vô gia cư) không được các giám mục liên hệ giao công tác mục vụ.

Những tố cáo đầy tính xuyên tạc này đã được Cha Lợi và những sự kiện thực tế trả lời. Cha Lợi được chính cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận phong chức linh mục khi Hồng Y bị quản thúc ở ngoài Bắc. Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã yêu cầu cố Hồng Y Phạm Đình Tụng, lúc đó là giám mục Bắc Ninh, nhận tân linh mục Phan Văn Lợi vào hàng linh mục của địa phận Bắc Ninh. Hồng Y Tụng đã chấp thuận. Cố Giám Mục Nguyễn Quang Tuyến của giáo Phận Bắc Ninh cũng xác nhận việc này qua một thư thăm hỏi và chúc Xuân gửi vào Huế cho LM Lợi.

Sống dưới sự kiểm soát và cấm đoán của cộng sản thì phải tìm cách xoay sở, tránh né mới mong thực hiện được điều mình muốn. Như vậy, là linh mục chui, theo nghiã không được cộng sản công nhận, có gì là xấu? Còn ngoan cố phủ nhận quyết định và hành động của những vị chủ chăn cao cấp, trong đó có cả vị đang được cứu xét phong á thánh (Hồng Y Nguyễn Văn Thuận), như ông Nguyễn Cần và một vài người theo đuôi đang làm có phải là cách hành xử của những con người lương thiện hay không?

Việc LM Phan Văn Lợi không có tên trong danh sách linh mục của các giáo phận Bắc Ninh và Huế là điều dễ hiểu. LM Lợi hiện không làm việc ở Bắc Ninh, cũng không phục vụ cho tổng giáo phận Huế thì làm sao có thể để tên linh mục vào danh sách được? Hai giáo phận này có muốn xử dụng LM Lợi trong công tác mục vụ cũng không thể được, vì linh mục đang chịu lệnh quản chế của nhà nước cộng sản.

Ngoài ra, theo Giáo sư Nguyễn Học Tập, muốn biết LM Phan Văn Lợi có bị Giáo Hội VN và Tòa Thánh Vatican coi là linh mục hợp lệ hay không thì hãy nhìn vào việc Linh mục Lợi cử hành thánh lễ hàng ngày từ mấy chục năm nay: “Một khi Tòa Thánh biết Linh mục Lợi là “linh mục chui, dổm, giả hiệu”, chắc chắn Tòa Thánh sẽ ra sắc lệnh cấm tức khắc, vì đây là hành vi “phạm thánh” (sacrilège)…và nếu “linh mục chui, dổm, giả hiệu” cứ ương ngạnh, bất tuân, Tòa Thánh sẽ không ngần ngại ra sắc lệnh “dứt phép thông công” (anathema sit).

Trái lại, nếu Tòa Thánh không trả lời và không có thái độ dứt khoát như vừa kể, thì chúng ta nên hiểu Tòa Thánh có lý do của mình và Linh mục Phan Văn Lợi có chức thánh, là “Thừa tác viên” chính thức của Giáo Hội, có tên trong danh sách chính thức của giáo phận Bắc Ninh, của Tòa Thánh hay không cũng vậy”. Lý thuyết và thực tế đã đã rõ ràng như thế, tại sao ông Nguyễn Cần vẫn còn tiếp tục cãi chầy cãi cối để phủ nhận chức linh mục của Cha Lợi? Tại sao ông thâm thù LM Lợi và LM Lý tới thế? Ông kiên trì đánh hai linh mục này giùm ai?

Trận đánh LM Phan Văn Lợi chưa chấm dứt, ông Nguyễn Cần mở thêm mặt trận tấn công LM Nguyễn Văn Khải. Cần phải nã đại pháo gấp vào mục tiêu Nguyễn Văn Khải vì nhu cầu thời sự. LM Nguyễn Văn Khải đang du học ở Roma, nhân kỳ nghỉ hè, ông được mời đi nhiều nơi ở châu Âu và tại Hoa Kỳ để chủ trì những buổi cầu nguyện và nói chuyện về tình hình đất nước và giáo hội VN.

LM Khải rất trẻ, 41 tuổi, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, thi hành công tác mục vụ tại giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, đã tham gia tích cực các cuộc cầu nguyện hòa bình để đòi đất Tòa Khâm Sứ cũ, giữ đất của giáo xứ và tu viện Thái Hà, giữ Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ở lại Hà Nội. Bằng đó thứ “tội” đã khiến linh mục trở thành mục tiêu cần phải triệt hạ của cộng sản và của…ông Nguyễn Cần.

Ông Nguyễn Cần mới cho phổ biến một bài viết trên mạng, tựa đề “Công Giáo VN tuyệt vọng?” dưới bút hiệu Lữ Giang. Bài viết có hai phần. Phần đầu rất ngắn, kể lại lời phỏng vấn LM Khải của hai ký giả thuộc hãng thông tấn Ý CNA ngày 16-7-2011. Phần hai dài gấp 10 lần, tác giả tấn công LM Khải trên mọi bình diện, từ lời ăn tiếng nói đến thái độ chống hàng giáo phẩm VN và chống cả Tòa Thánh Vatican.

Trả lời câu hỏi của hai ký giả về tình hình Giáo Hội CGVN, LM Nguyễn Văn Khải đã nói: “Chính quyền sử dụng tất cả các lực lượng tùy ý họ, gồm các phương tiện truyền thông nhà nước, bộ máy chính trị, pháp luật và hệ thống giáo dục công cộng để ngăn chặn sự phát triển của Giáo Hội CG bằng mọi giá. Người CG ở mọi miền VN được xem là công dân hạng hai, bị phân biệt đối xử tồi tệ trong đối xử pháp lý”. Sau khi trích dẫn câu trả lời này, tác giả Lữ Giang mỉa mai: “Đọc bài này chúng tôi có cảm tưởng như Giáo Hội Việt Nam đang ở trong các thập niên 1960, 1970 và 1980…”.

Như vậy là ông muốn nói tình hình Giáo Hội CGVN đã được tự do hơn nhiều, được cải thiện rất nhiều, không còn giống như trước nữa. Do đó những lời tố cáo của LM Khải là dối trá, không đúng sự thật. Có sai sự thật không khi TGM Ngô Quang Kiệt bị các cơ quan truyền thông bóp méo lời nói, công khai xỉ nhục trên báo, trên đài trong nhiều tuần, bị công an giả côn đồ dọa giết, bị nhà cầm quyền đòi đuổi khỏi Hà Nội? Có sai sự thật không khi giáo dân vô tội bị đánh đập đổ máu, ngất xỉu, bằng dùi cui, roi điện, bị đưa ra tòa và nhận những bản án đã định sẵn? LM Khải nói không đúng sự thật hay Lữ Giang bẻ cong ngòi bút, để bênh ai?

Ở phần hai của bài viết, tác giả kể “thành tích chống cộng” của LM Khải. Đã chống cộng và “giữ vai trò xung kích rất táo bạo”, LM Khải còn “đứng hàng đầu trong việc chống lại giáo quyền”, đặc biệt chống cả Vatican trong việc không tuân lệnh đuổi TGM Ngô Quang Kiệt đi khỏi Hà Nội và đưa GM Nguyễn Văn Nhơn về thay thế. Sao ông Nguyễn Cần ghét bỏ những người chống cộng đến thế? Chống cộng có sai trái không và có gì đáng xấu hổ không?

LM Cao Phương Kỷ đã phát biểu tại cuộc Hội Ngộ Dân Chúa là “chính Đức Mẹ Fatima chống cộng đấy. Đức Mẹ ra lệnh cho ba em phổ biến mệnh lệnh cầu nguyện cho nước Nga cộng sản trở lại”. Còn việc chống lại giáo quyền và Vatican thì đúng là chuyện bé xé ra to. Có mặt với giáo dân để chia sẻ tâm tình, nỗi bức xúc và những thỉnh nguyện của họ mà bị kết án là chống giáo quyền và chống Tòa Thánh thì đúng là suy diễn và luận tội kiểu cộng sản: Ai nói khác ta và không làm giống ta là mắc tội phá hoại an ninh quốc gia chiếu điều 88 luật Hình sự và phạm tội lật đổ chế độ chiếu điều 79!

Kế đến, tác giả Lữ Giang đánh LM Khải về những lời liên quan đến việc bổ nhiệm tân Giám Mục Nguyện Thái Hợp. Trả lời phỏng vấn của ký giả Trần Văn, LM Khải cho biết: “sự bổ niệm cha Nguyễn Thái Hợp, dòng Đaminh làm giám mục giáo phận Vinh gây ngạc nhiên cho nhiều người trong Giáo hội…khách quan mà thấy thì Ngài là người rất thân thiện với các cán bộ chính quyền nhà nước VN. Ngài cũng được coi là là người rất gắn bó đối với những linh mục bị coi là “yêu nước” khác trên đất nước này. Cụ thể là ở Sài Gòn… Người ta nhận thấy cha Nguyễn Thái Hợp theo xu hướng thân thiện với chính quyền cộng sản và theo xu hướng thỏa hiệp với chính quyền này để tồn tại hay là… thế nào đấy!”.

Để chứng minh “SỰ THẬT HOÀN TOÀN TRÁI NGƯỢC”, Lữ Giang ghi lại lời thuật về lễ tấn phong giám mục “hoành tráng” cho LM Nguyễn Thái Hợp tại nhà thờ chính tòa Xã Đoài ngày 23-7-2010, theo đó trên 13,000 đại biểu chính thức từ 19 giáo hạt, 180 giáo xứ trong khắp giáo phận đã qui tụ đông đảo, chưa kể lượng giáo dân đã tràn ngập tòa Giám Mục, nhà thờ chính tòa và các khu vực lân cận. Chủ tịch Hội Đồng GM và nhiếu giám mục cũng có mặt. Ý tác giả muốn nói là tân GM Nguyễn Thái Hợp rất được hâm mộ, không bị nghi ngờ như LM Khải phát biểu.

Lấy số người dự lễ để chứng minh “sự thật hoàn toàn trái ngược” là lý sự cùn. Có lễ tấn phong giám mục mới thì lẽ tự nhiên đại diện các giáo hạt, các giáo xứ phải có mặt, dù thích hay không thích, giáo dân kéo đến để tò mò coi mặt chủ chăn mới và cầu nguyện cho vị này mỗi ngày một tốt hơn. Đại đa số giáo dân chưa biết thành tích của tân giám mục, nên đi dự lễ không thắc mắc.

Dù vậy số người tham dự có đạt con số 200,000 như trong lễ cầu nguyện cho Tam Tòa bị bách hại không? Những nhận định của LM Khải về GM Nguyễn Thái Hợp đều không sai, xét một cách khách quan. Không thân thiện với nhà nước sao được mời dậy học và thuyết trình trong các cuộc hội thảo lớn mãi tận Hà Nội? Không gắn bó với những linh mục “yêu nước” sao thường đi lại và tổ chức những cuộc hội thảo, tọa đàm chung với những người này? Không cộng tác với nhà nước sao không dám nói một lời gì có thể làm mất lòng nhà nước, dù để chống bất công và bênh những người cô thế?

Chúng ta không kết án ai nhưng có quyền đặt nghi vấn qua những lời nói và việc làm của người ấy. Chúng ta hy vọng GM Nguyễn Thái Hợp, tân Chủ Tịch UB Công Lý và Hòa Bình của GH/CGVN, sẽ tranh đấu cho công lý và đem lại hòa bình, trước tiên cho tâm hồn của anh chị em giáo dân VN.

Một việc khác liên hệ tới tư cách con người và tư cách tu hành của LM Nguyễn Văn Khải, đó là việc bị bề trên tối cao của Dòng chế tài, theo lời tác giả Lữ Giang. Lữ Giang viết: “Dĩ nhiên, những việc LM Khải làm như đã nói trên (chống hàng giáo phẩm VN và chống Tòa Thánh chú thích của người viết bài này), đã được tường trình đầy đủ, Linh Mục Michael Brehl, Bề Trên Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế ở Roma (tô đậm), đã ra lệnh cho LM Khải phải rời Việt Nam qua Roma”… Thật sự LM Khải đã bị triệu dụng qua Roma vì chống đối Giáo Hội”.

Tác giả Lữ Giang đã võ đoán và làm như ngồi chồm hổm ngay giữa văn phòng của LM Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế ở La Mã để biết tường tận lệnh phạt LM Khải phải rời VN. Bị phạt phải rời VN là điều cái cột đèn cũng muốn. Lại được đi Roma du học sau khi bị cộng sản cấm nhiều năm là sướng muốn chết! Bị triệu dụng mà được một linh mục quen đường đi nước bước dẫn đi theo đường bộ qua Lào, sang Thái Lan, được nhà dòng Chúa Cứu Thế ở Bangkok chăm sóc, lo visa và vé máy bay sang Roma an toàn. Sao có tội mà được thương đến thế?

Bị gọi đi hỏi tội mà lại được tự do đi khắp Âu, Mỹ để trình bầy thực trạng Giáo Hội VN và những thủ đoạn đàn áp tôn giáo của cộng sản. Sao Tòa Thánh và nhà dòng mâu thuẫn đến thế? Phải chăng tác giả Lữ Giang dựng chuyện phong thần, biến “cục cưng” của Tòa Thánh và của Dòng Chúa Cứu Thế thành “tội phạm”?

Chúng tôi chưa có đủ bằng cớ để quyết đoán ông Nguyễn Cần có làm việc cho cộng sản VN hay không. Nhưng qua những bài viết của ông, ai cũng thấy rõ ràng ông bênh cộng sản, làm lợi cho cộng sản, đánh phá những người chống cộng. Ông đánh phá những người chống cộng bằng giọng thù hằn, cay độc. LM Lý bị ông coi là khật khùng. LM Lợi bị ông gọi là linh mục chui, linh mục “homeless”. Linh mục Khải bị ông coi là tội phạm bị triệu giải về Roma.

Những anh em viết văn, viết báo chống cộng được ông đặt tên là “nhóm Giao Điểm Công Giáo”. Ý muốn nói nhóm này chống cộng qúa khích, giống như nhóm Giao Điểm chuyên đánh phá Công Giáo một cách hung hãn. Ông gây thù chuốc oán, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Đồng bệnh với những người cầm quyền ở Hà Nội.

Vậy tại sao vẫn còn có người đọc ông? Điều này không lạ. Một số người đọc ông để, qua ông, người ta biết phản ứng của cộng sản ra sao. Ông khôn khéo đánh lừa được một số người bằng cách thỉnh thoảng viết vài hàng phê bình cộng sản cách vô hại rồi lại chuyển sang chê bai những người chống cộng. Người ta cũng đọc ông vì tính tò mò, thích phản biện, thích những chuyện giật gân “sensational”, nhất là ông có tài bới móc, dựng chuyện, lấy trong Google và Wikipedia những chi tiết về người, sự việc, lời trích dẫn để kể chuyện láo mà cứ như chuyện thật.

Thật ra chúng ta phải căn cứ vào ý tưởng, lập trường để thẩm định đúng giá trị của một bài viết, không nên mờ mắt vì những chi tiết có dụng ý dẫn người đọc vào những nhận định sai lạc. Ngoài ra ông còn hay dậy thiên hạ là đừng quậy làm chi cho mệt, “Anh Hai” Hoa Kỳ đã tính toán cả rồi. Việc gì cũng không qua khỏi mắt và bàn tay sắp đặt của Anh Hai.

Đúng là ông Nguyễn Cần có dự mưu ru ngủ những nạn nhân cộng sản, khuyên họ an phận chấp nhận thực trạng, có quậy phá cách mấy cũng chẳng đi đến đâu, sau khi đã bôi đen và làm suy yếu hàng ngũ chống cộng. Ông làm việc này với mục đích gì? cho ai? Đó là thắc mắc lớn mà nhiều người muốn được giải đáp.



















TÒA TỔNG GIÁM MỤC VINH LÊN ÁN
HÀNH ÐỘNG ÐÀN ÁP TÔN GIÁO TẠI NGHỆ AN


HÀ NỘI.-Vừa bị khủng bố, đánh đập, vừa bị vu khống, phân biệt đối xử… đó là những gì linh mục và các giáo dân của Giáo điểm Con Cuông, thuộc xã Yên Khê, huyện Con Cuông phải hứng chịu trong nhiều ngày qua mà đỉnh điểm là ngày Chủ nhật 1 tháng 7 năm 2012. Tòa Giám mục Vinh đã mạnh mẽ lên án hành động đàn áp tôn giáo này của nhà cầm quyền địa phương.

Theo thông báo của Tòa Giám mục Vinh công bố ngày 4 tháng 7, trong những ngày qua nhà cầm quyền đã liên tục cho người đe doạ, ngăn cản khủng bố linh mục và giáo dân và theo Tòa Giám mục Vinh, sự kiện xảy ra ra ngày Chủ nhật 1 tháng 7 là cao trào và là kết quả những mưu tính lâu dài, được dàn dựng công phu kỹ lưỡng của các thế lực đen tối.



Theo tường thuật của Giáo phận Vinh Online ngày 3 tháng 7 thì trong ngày Chủ nhật hôm đó, công an, dân phòng và một nhóm côn đồ đã kéo đến hành hung các nữ tu, giáo dân, thậm chí đánh cả linh mục Nguyễn Ðình Thục, khi vị linh mục này chuẩn bị cử hành thánh lễ. Nhiều giáo đã bị đánh trọng thương, trong đó có một phụ nữ bị đánh vào đầu gây chấn thương sọ não phải đưa đi Hà Nội cấp cứu.

Vẫn theo bản thông cáo trầm trọng nhất là đám người nói trên còn đập nát cả tượng Ðức Mẹ. Nhà nguyện bị chiếm giữ, linh mục Nguyễn Ðình Thục đã phải làm lễ ở ngoài sân, giáo dân thì hoảng sợ vì thấy cảnh sát cơ động 113 và một lực lượng quân đội với súng ống sẳn sàng chĩa vào nhà nguyện.

Ðể thể hiện sự phản đối, Tòa giám mục Vinh ngày 4 tháng 7 đã lêu gọi mọi linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận thắp nến cầu nguyện cho giáo dân tại Con Cuông, đồng thời kêu gọi các linh mục treo biểu ngữ tại giáo xứ với nội dung Phản đối hành vi phạm thánh và đánh đập linh mục, giáo dân của nhà cầm quyền Con Cuông. Cũng trong ngày 4 tháng 7, Tòa Giám mục Vinh đã gởi một công văn đến nhà cầm quyền tỉnh Nghệ An, để lên án mạnh mẽ vụ đàn áp linh mục và giáo dân tại Giáo điểm Con Cuông. Bức công văn khẳng định việc linh mục và giáo dân dâng lễ cầu nguyện tại xã Yên Khê, huyện Con Cuông là việc chính đáng, phù hợp với luật pháp Việt Nam và công ước quốc tế.



Tuy nhiên, tờ Nghệ An điện tử đến hôm qua vẫn tiếp tục đăng bài khẳng định là chính các linh mục và giáo dân Giáo xứ Quan Lãng đã kéo đến gây rối, hành hung người dân xã Yên Khê và cho rằng các linh mục đã truyền đạo trái phép, vì đã làm lễ tại một nhà riêng mà chưa có sự đồng ý của nhà cầm quyền điạ phương.(SBTN)



International Conference on Vietnam
Foundation for Development of Vietnam (SOV)
and Universal Peace Foundation (UPF)

 

Quyền Công Nhân và luật Lao Động Việt Nam

(Workers’Rights and Labor Law in Vietnam)

Bản tóm tắt tiếng Việt

 Nguyễn Quốc Khải

Ngày 6 tháng 2, 2010 Sandtonhotel Toor Hotel, Stationplein 2 Alphen a/d Rijn, The Netherlands.

Luật Lao Động Việt Nam ban hành vào năm 1994 ấn định mức lương tối thiểu, công nhận những quyền lợi căn bản của công nhân, bao gồm cả quyền thành lập nghiệp đoàn và quyền đình công dưới một số điều kiện. Trên thực tế, Luật Lao Động được soạn thảo nhằm mục tiêu giúp cho chánh quyền kiểm soát chặt chẽ công nhân Việt Nam. Hậu quả là công nhân Việt Nam bị từ khước mọi quyền lao động căn bản.

Cũng vì không tôn trọng luật lao động do quốc tế công nhận, Viêt Nam đã không đủ điều kiện để được gia nhập  Chương Trình Uu đãi Thuế Quan Phổ Quát của Hoa Kỳ (Generalized System of Preferences GSP) vào năm 2008. Nếu được chấp thuận, Việt Nam sẽ có thể xuất cảng sang Hoa Kỳ khoảng 5,000 sản phẩm mà không phải trả thuế nhập cảng.

 Quyền lập hội

 Mặc dù Việt-Nam là một hội viên của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (International Labor Organization ILO), nhưng Việt Nam chưa thừa nhận Quy Uớc 87 liên quan đến quyền tự do lập hội và quyền tổ chức và Quy Uớc 98 liên quan đến quyền tổ chức và thương lượng tập thể.

 Tất cả các nghiệp đoàn ở mọi cấp (địa phương, tỉnh, hay quốc gia) đều nằm dưới sự kiểm soát của Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam (TLĐLĐVN) , một tổ chức trực thuộc Đảng CSVN.  Công nhân có quyền lựa chọn cấp nghiệp đoàn thuộc TLĐLĐVN để tham gia, nhưng không đươc tham gia bất cứ nghiệp đoàn nào độc lập với TLĐLĐVN.

 Tổng Liên Đoàn Lao Động Hoa Kỳ (AFL-CIO) nhận định rằng  ”Theo điều (1) của Luật Nghiệp Đoàn [Viêt Nam], nghiệp đoàn là một tổ chức của Đảng CSVN.  Quyền lập hội không có thể nói là tồn tại khi công nhân không thể liên hệ hoặc tự thành lập một tổ chức cho chính mình và không bị chính trị chi phối. Mặc dù, một vài nghiệp đoàn độc lập đã được thành lập, nhưng không được chính thức công nhận.”  [1]

Quyền tập hợp

 Tại Việt Nam, công dân không có quyền tập hợp. Mọi tập hợp từ trên 5 người trở lên phải có giấy phép của chính quyền địa phương.  Nghị định số 38/2005/ND-CP quy định chi tiết về vấn đề này.   Mọi sự tập hợp lớn trên đường phố, vỉa hè, trước các công ốc, tổ chức quần chúng, Hội nghị quốc tế, Quốc Hội, Hội đồng Nhân Dân, hoạt động chính trị của đảng, nhà nước, Mặt Trận Tổ Quốc (MTTQ) hoặc những tổ chức xã hội chính trị khác đều bị cấm đoán. Ngoài ra, Nghị định này cấm tất cả nhửng tập hợp làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, nhửng tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế, những lãnh tụ của đảng CSVN, chính quyền, và MTTQ.

 Kết quả là người dân nói chung và công nhân nói riêng, không có quyền biểu tình để bầy tỏ quan điểm và đòi hỏi của mình.

 Quyền tổ chức và thương lượng tập thể.

 Những người lãnh đạo TLĐLĐVN tại mọi cấp đều là đảng viên CSVN. Họ cũng là nhân viên của cơ sở kinh doanh nơi làm việc và thường lãnh lương cao. Do đó, những lãnh tụ nghiệp đoàn này phục vụ quyền lợi của công ty và đảng CSVN thay vì quyền lợi của công nhân.

 Luật Lao Động Việt-Nam cho phép công nhân đình công, nhưng áp đặt rất nhiều điều kiện khiến cho khó có thể tổ chức được đình công hợp pháp. Trước hết, bất cứ cuộc đình công nào cũng phải được sự chấp thuận của TLĐLĐVN. Nhưng chưa bao giờ TLĐLĐVN khởi xướng, tổ chức, hay hỗ trợ cuộc đình công nào cả. Tất cả mọi cuộc đình công ở Viêt Nam đều bất hợp pháp, đều là tự phát, không có tổ chức, và không được hỗ trợ. Do đó, sức mạnh của công nhân về mặt thương lượng tập thể rất là yếu.

 Muốn có giấy phép để đình công, công nhân trước hết phải đệ trình khiếu nại lên hội đồng hoà giải lao động địa phương bao gồm một số đại diện công nhân và cùng số đại diện chủ nhân. Nếu cuộc hòa giải thất bại, bất cứ bên nào cũng có quyền khiếu nại tiếp lên Hội đồng Hòa Giải Lao Động cấp huyện do Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh thiết lập hoặc Ủy Ban Nhân Dân cấp huyện. Nếu cuộc tranh chấp không được giải quyết, đôi bên phải đưa vấn đề lên Hội đồng Hòa Giải Lao Động tỉnh, tiếp theo là Toà An Lao Động nằm dưới Toà An Nhân Dân Tỉnh. Nếu cần đôi bên có thể khiếu nại tiếp với toà hòa giài va toà An Tối Cao. Nếu không đạt được kết quả, lúc đó công nhân có quyền đình công hợp pháp. [2]

 Đảng CSVN kiểm soát không những TLĐLĐVN mà còn cả các hội đồng Hoà Giải, Ủy Ban Nhân Dân, và các Tòa An Nhân Dân. Do đó, việc cho phép đình công hợp pháp rất hiếm hoi, nếu không muốn nói là không bao giờ xẩy ra.

 Không những thế, vào năm 2007, Luật Lao Động Việt-Nam lại được tu chính để áp đặt thêm mộ số biện pháp hành chánh và hình sự để trừng phạt người tham dự đình công. [3] Trước hết, mọi cuộc đình công phải có sự đồng ý của ít nhất 75% thành viên trong nghiệp đoàn tại công ty với 300 công nhân trở lên và 50% đối với công ty có dưới 300 công nhân. Ngoài ra, công nhân tham gia vào cuộc đình công trái phép, sẽ phải bồi thường thiệt hại cho chủ nhân.

Điều luật buộc công nhân phải bồi thường thiệt hại cho chủ nhân nếu tham gia đình công bất hợp pháp xem ra không thể thi hành được. Gần đây một công ty ở Saigon kiện công nhân ra tòa, nhưng không thành công vì toà không định được người nào trong số 10,000 công nhân đứng đầu cuộc đình công.  [4] [5]

Như thế vẫn còn chưa đủ, Luật Lao Động mới chỉ cho phép công nhân đình công vì lý do tranh chấp về quyền lợi (benefits) mà thôi. Đối với tranh chấp về quyền lao động (labor rights) hay vấn đề thi hành hợp đồng,  đôi bên phải giải quyết tại tòa.

Tại  một hội nghị lao động tại Saigon vào tháng 6, 2008, các viên chức chính phủ và đại diện TLĐLĐVN nói rằng “Những nghiệp đoàn yếu kém không lôi cuốn được sự tin cậy của công nhân. Do đó, công nhân chọn lựa đình công bất hợp pháp thay vì nhờ công đoàn can thiệp.”  Mặt khác, phần đông các đại diện công đoàn tại các công ty có tên trong sổ lương của công ty cũng không muốn lãnh đạo đình công vì sợ mất việc. [6]

Nói tóm lại, trên thực tế, công nhân Việt Nam không có quyền đình công và nếu đình công là bất hợp pháp và có thể bị mất việc và bồi thường chủ nhân. Công nhân Việt Nam không nhận được hỗ trợ nào từ tổ chức, đoàn thể, hay chính phủ khi có tranh chấp với chủ nhân. Do đó, thế thương lượng tập thể của công nhân rất yếu.

Cưỡng bách lao động

Luật pháp Việt Nam cấm đoán cưỡng bách lao động và lao động trẻ em, nhưng trên thực tế tệ nạn này tiếp tục xẩy ra ở Việt-Nam. Tù nhân bắt buộc phải làm việc để sản xuất thực phẩm và dụng cụ để dùng trong tù hoặc bán để lấy tiền tiêu dùng theo báo cáo của nhà nước.

Kỹ nghệ ”xuất khẩu lao động” phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Hiện nay có khoảng 500,000 công nhân Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng lao động. Mỗi năm họ mang về cho Việt Nam khoảng 3 tỉ Mỹ kim.

Chương trình “xuất cảng lao động” của Việt-Nam đã gây ra nhiều tiếng xấu. Vì thiếu tài nguyên, thiếu kinh nghiệm, và thiếu chuẩn bị, chính quyền đã không đủ khả năng trong việc bảo vệ công nhân làm việc tại nước ngoài. Họ trở thành nạn nhân của chủ nhân và nhân viên công lực ngoại quốc. Xa quê hương và bất đồng ngôn ngữ, họ rất dễ bị bóc lột.

Vào tháng 2, 2008, BPSOS (Boat People SOS) và Liên Minh Bài Trừ Nạn Nô Lệ Mới ở A châu. (Coaltion to Abolish Modern day Slavery in Asia CAMSA) đã giải cứu được 200 công nhân Việt Nam làm việc tại những xưởng máy trong điều kiện tồi tệ tại Amman, Jordan. Ngoại trừ 4 người, tất cả công nhân còn lại là phụ nữ.  Những công nhân này bị đánh đập, làm việc quá sức, và ăn chặn tiền lương.

Cũng trong tháng 2, 2008, BPSOS và CAMSA đã thành công trong việc giải cứu 2,600 công nhân ngoại quốc tại Malaysia, gồm một nửa là công nhân Việt Nam. Họ là nạn nhân của sự bóc lột và đối sử tồi tệ.  Theo hợp đồng, những công nhân này phải được trả US$245 mỗi tháng.  Tuy nhiên trên thực tế, họ chỉ nhận được US$3 mỗi hai tuần.  BPSOS và CAMSA quyết định hủy bỏ đơn kiện sau khi giới chủ nhân của công ty này đồng ý bồi thường cho tất cả các công nhân theo đúng với hợp đồng nguyên thủy.

Không những vậy, công nhân Việt-Nam còn bị bóc lột ngay tại quốc gia của mình. Họ phải trả một lệ phí rất cao so với lợi tức của họ để có cơ hội kiếm việc làm ở nước ngoài.  Thường những công nhân này phải làm kiệt lực trong hai năm mới có thể có tiền trả lệ phí có thể lên đến khoảng US$10,000 (165 million VNĐ). Một số công ty quốc doanh liên hệ đến dịch vụ buôn bán nguời dưới hình thức “xuất khẩu lao động.”

Chính phủ Việt Nam đã tìm cách cải thiện chương trình ”xuất khẩu lao động” trong thời gian gần đây. Các viên chức Việt Nam đã giảm bớt thái độ đối nghịch đối với các tổ chức thiện nguyện. Trong năm 2009, chính quyền Việt Nam đã dóng cửa 16 công ty “xuất cảng lao động” vì vi phạm luật. [7]

Tuổi tối thiểu và lao động trẻ em.

Việt Nam đã phê chuẩn hai quy ước 182 về việc cấm hình thức tồi tệ nhất về lao động trẻ em vào năm 2000 và quy ước 138 về tuổi lao động tối thiểu vào năm 2003. Tuy nhiên Việt Nam vẫn có nạn lao động trẻ em và trẻ em tiếp tục trở thành nạn nhân của sự bóc lột.

Lý do là chính quyền Việt Nam không dành đủ ngân sách để cưỡng bách việc thi hành luật. Bộ Xã Hội và Thương Binh Việt Nam vào tháng 6, 2006 báo cáo rằng khoảng 30% trẻ em Việt-Nam trong khoảng 6-17 tuổi phải làm một số việc. Nhưng người ta tin rằng con số này có thể cao hơn nhiểu vì đa số trẻ em làm việc trong nông trại ở thôn quê hoặc cơ sở kinh doanh của gia đình không chịu ảnh hưởng của Luật Lao Động.

Điều kiện làm việc và lương bổng

Chính phủ Việt Nam ấn định mức lương tối thiểu cho nhiều vùng khác nhau, cho những loại công ty khác nhau và cho những khu vực kinh tế  khác nhau.

Mức lương tối thiểu cho công nhân không có khả năng chuyên môn tại những công ty đầu tư nước ngoài là 1 million VNĐ (khoảng US$61) tại Hà Nội và Saigon, 900,000 VNĐ (US$55) cho những vùng đô thị gần hai thành phố này và những khu kỹ nghệ và thành phố khác và 800,000 VNĐ (US$48) cho tất cả những vùng còn lại.  Mức lương tối thiểu cho  công nhân không có khả năng chuyên môn trong khu vực của chính phủ là 540,000 VNĐ (US$ 34).

Một số công ty liên doanh có thể được miễn theo mức lương tối thiểu nếu mới thành lập hoặc hoạt động tại những nơi hẻo lãnh.  Tuy nhiên lương của công nhân không thể dưới 800.000 VNĐ (US$ 48).

Công nhân làm việc 40 giờ một tuần trong khu vực công. Chính phủ khuyến khích khu vực tư nhân cũng áp dụng số giờ tương tự, tuy nhiên không bắt buộc. Làm trên 40 giờ, công nhân được trả tiền phụ trội bằng 1.5 lần lương thường, 2 lần nếu phải làm việc vào ngày nghỉ trong tuần, 3 lần nếu cần phải lam việc vào ngày nghỉ lễ hay vào thời gian nghỉ có trả lương.

Luật Lao Động giới hạn số giờ làm việc phụ trội bắt buộc tối đa là 4 giờ mỗi tuần và 200 giờ cho mỗi năm. Trong trường hợp đạc biệt số giờ phụ trội có thể tăng lên đến 300 giờ, nếu có sự chấp thuận của chính phủ, TLĐLĐVN và chủ công ty. 

Trên thực tế, công nhân Việt-Nam không được bảo vệ đúng theo luật. Họ vẫn phải chịu lương thấp, ngày làm việc dài, và không được trả tiền làm giờ phụ trội, trong điều kiện thiếu vệ sinh, không có bảo hiểm và không có tiền hưu trí. Nguyên nhân là chính phủ không đủ nhân lực và thanh tra để buộc các chủ nhân thi hành luật.

Lương của công nhân trung bình khoảng $US700 một năm, so với tổng sản phẩm nội địa trung bình đầu người ước lượng cho năm 2009 là US$1,036. Với lợi tức thấp như vậy, công nhân không thể nuôi sống gia đình một cách đầy đủ.

Vào tháng 9, năm 2009, trên 1,000 công nhân tại công ty sản xuất giầy An Thịnh tại tỉnh Bình Dương đã đình công để đòi tăng lương và cải thiện bửa ăn. Một đại diện của giới chủ nhân nói rằng công nhân đòi tăng lương 10% trên số lương đang áp dụng là 2 triệu VNĐ (US$112). Trong khi đó tờ báo Lao Động cho biết lương của công nhân chỉ có 1 triệu VNĐ (US$56) và bữa cơm của công nhân trị giá 5,500 VNĐ (US$0.30).

Công nhân đình công 400 lần trong năm 2006, 600 lần trong năm 2007, 309 lần trong năm 2008, và 216 lần trong năm vừa qua. Khoảng 72% số đình công này xẩy ra ở các công ty có đầu tư nước ngoài.  Công nhân tiếp tục đình công mặc dù họ phải cẩn thận hơn vì luật Lao động mới khắt khe. 

Rất khó để tiên đoán số lần đình công và số công nhân tham gia đình công, cũng như cường độ của đình công trong năm 2010. Trong hai năm 2008-2009, số lần đình công giảm một cách đáng kể có thể vì tình trạng kinh tế tri trệ, khiến công nhân không có nhiều việc lam để chọn lựa. Họ phải bám vào việc làm đang có.  Tình trạng kinh tế sáng sủa hơn trong năm 2010 có thể sẽ làm đảo ngược chiều hướng này.  Mặt khác, trong 5 năm vừa qua, ban quản trị công ty và chính quyền đã có kinh nghiệm hơn đối với nguyện vọng và phản ứng của công nhân. Điều này sẻ giúp cho sự thương lượng giữa đôi bên chủ nhân và người lao động dễ đi đến kết quả và tránh được đình công.

Kết luận:

Để cải thiện thật sự quyền lợi của công nhân, chính phủ Việt Nam nên

(1) phê chuẩn hai quy ước của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế 87 và 98 để chính thức công nhận quyền lập hội và quyền tổ chức và thương lượng tập thể của công nhân;

(2) cho phép công nhân thành lập nghiệp đoàn độc lập; (3) công nhận Hiệp Hội đoàn Kết Công Nông Việt Nam và Công Đoàn Độc Lập Việt Nam;

(4) Hủy bỏ nghị định 38/2005/ND-CP để cho phép công nhân được tụ tập tự do trong việc tranh đấu cho quyền lợi của công nhân;

(5) Biến đổi TLĐLĐVN thành viện nghiên cứu lao động; và (6) dành ngân sách rộng rãi để kiểm soát việc thi hành Luật Lao Động;

(7) Chấm dứt tình trạng bóc lôt những công nhân ngay trong nước khi họ tìm cơ hôi ra nước ngoài kiếm sống; và (7) Bảo vệ công nhân Việt Nam làm việc tại hải ngoại.

Một khi Luật Lao Động được hoàn chỉnh và việc thi hành luật được tiến hành đứng đắn, quyền lợi của công nhân Việt-Nam sẽ được bảo đảm hơn. Một Đạo Luật Lao Động nghiêm chỉnh cần phải tạo cho công nhân có phương cách và nơi chốn để bầy tỏ nguyện vọng chính đáng một cách công bằng và ôn hòa. Trong điều kiện như vậy, xã hội mới được ổn định, và Kinh tế sẽ được phát triển thuận lợi.

Cũng trong hoàn cảnh như thế, Việt-Nam sẽ hội đủ tiêu chuẩn để gia nhập Chương Trình Ứu đãi Thuế Quan Phổ Quát của Hoa K(Generalized System of Preferences GSP). Theo đó, Việt Nam sẽ có thể xuất cảng sang Hoa Kỳ hàng ngàn sản phẩm mà không phải trả thuế nhập cảng. Điều này giúp tạo thêm công ăn việc làm và gia tăng lợi tức cho công nhân và nông dân Việt-Nam.

Một lý do khiến chính quyền Việt-Nam, cũng như trong những chế độ cộng sản độc tài khác, không chấp nhận phong trào công đoàn độc lập cũng như không chấp nhận bất cứ một tổ chức phi chính phủ nào khác, là họ muốn bảo vệ vị thế độc tôn của đảng Cộng Sản và duy trì chế độ độc đảng. Bao lâu chính quyền Việt Nam còn duy tri tình trạng này, quyền lợi của người dân, đặc biệt là công nhân, còn bị thiệt thòi.  Một chế độ mệnh danh là xã hội chủ nghĩa thì không thể dùng luật để áp chế công nhân, thay vì bảo vệ quyền lợi của công nhân.

 oo0oo

 Tác giả Nguyễn Quốc Khải hiện tại đang làm chuyên viên tư vấn tại Ngân Hàng Thế Giới. Ông  cũng là Chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ báo điện tử www.Vietnam Review.com và chủ tịch Ủy Ban Hoa Kỳ Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam. Trước đây ông là một chuyên viên kinh tế trong nhiều năm cũng tại Ngân Hàng Thế Giới và từng là giáo sư thỉnh giảng (professorial lecturer) tại Johns Hopkins University, Hoa Kỳ. Bài viét trên đây trình quan điểm riêng của tác giả.

 

Chú thích:

 



[1]  The American Federation of Labor & Congress of Industrial Organizations (AFL-CIO), “Comments Concerning the Application of Vietnam to be Designated as An Eligible Beneficiary Developing Country Under the Generalized System of Preferences (GSP)”, August 4, 2008.    

[2]  Human Rights Watch, “Not Yet a Workers’ Paradise”. May 4, 2009.

[3]  Decree No. 11/2008/NĐ-CP, January 30, 2008 and Circular No. 07/2008/TTLT-BLDTBXH-BTC, May 30, 2008.

[4]  WorkerFreedom, “330 Illegal Strikes in Six Months,” June 21, 2008.

[5]   Decree No. 11/2008/NĐ-CP, January 30, 2008 and Circular No. 07/2008/TTLT-BLDTBXH-BTC, May 30, 2008.

[6] WorkerFreedom,Workers Prefer Illegal Strikes To Impotent Labor Unions,” June 24, 2008.

[7]  The U.S. Department of State, “Country Reports on Human Rights Practices 2008,” released by the Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor, February 25, 2009.

 

NÔNG DÂN TQ NỔI DẬY BẠO ĐỘNG

XUẤT PHÁT TỪ CÙNG MỘT CƠ CHẾ

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 18.01.2012

Web: http://VietTUDAN.net

 

Cái Cơ Chế ở Trung quốc và ở Việt Nam giống nhau là Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế. Độc tài chính trị ấy cũng do độc đảng toàn trị. Kinh tế thì chủ trương bán Nhân lực cho tài phiệt nước ngoài mà người Lao động không có tiếng nói. Riêng về phía Nông dân, thì CSTQ và CSVN vẫn duy trì chủ trương “Đất là của nhân dân, nhưng Nhà Nước (độc tài) quản lý “. Chính ở điểm này mà Nông dân là lớp người cầm LIỀM đứng lên trước, rồi BÚA của Công nhân mới tiếp theo trong hoàn cảnh suy thoái Kinh tế của hai nươc hiện nay giữa cuộc Khủng hoảng Kinh tế của Thế giới.

Chúng tôi nói là LIỀM của Nông dân sẵn sàng BẠO ĐỘNG hơn BÚA của Công nhân. Thực vậy, đối với Công nhân, đã có những đợt Biểu tình, Đình công tại hai nước. Nhưng Công nhân khó trở thành gay gắt để đi đến BẠO ĐỘNG vì Nhà Nước có thể dùng biện pháp sa thải trong một nước mà có nhiều thất nghiệp, vì vậy mà Nhà nước không cần phải sử dụng bạo lực đàn áp gay gắt. Trong khi ấy, đối với Nông dân, chỉ có một giải pháp là Đất đai còn cho Nông dân hay bị trưng dụng cho Nhà Nước trung ương hay địa phương. Không có giải pháp thay thế. Một là còn đất hai là mất đất trắng tay ! Vì vậy mà thái độ đấu tranh của Nông dân là một MẤT một CÒN với Nhà Nước. Nếu Nhà Nước dùng bạo lực KHỦNG BỐ để chiếm Đất, thì Nông dân cũng phải dùng BẠO LỰC để bảo vệ Đất. Ở thời kỳ dễ dãi làm ăn, thì Nông dân có thể xoay xở trở thành Công nhân để kiếm sống. Nhưng ở thời kỳ Khủng hoảng Kinh tế toàn cầu làm Công nghệ xuống và Thất nghiệp tăng, thì Nông dân không thể xoay xở được mà bị dồn vào thế buộc phải BẠO ĐỘNG bảo vệ miếng Đất làm kế sinh nhai duy nhất.

 

Trung quốc đang ở thời suy thoái Kinh tế 

 

Chúng tôi đã viết rất nhiều để cho thấy rằng việc Khủng hoảng Nợ công và tình trạng Thất nghiệp của Hoa kỳ và Liên Aâu tất yếu đưa đến suy thoái Kinh tế Trung quốc. Kinh tế Trung quốc cũng như Việt Nam tùy thuộc vào xuất cảng sang hai Thị trường chính yếu Hoa kỳ và Liên Aâu. Dân chúng Hoa kỳ và Liên Au kiệt quệ về Mãi lực, thì người ta giảm thiểu việc  mua hàng từ Trung quốc. Những thông tin mới đây nhất cho thấy rằng những phân tích và khẳng định của chúng tôi trước đây là đúng.


Thông tin của Đài VOA ngày hôm qua 17.01.2012 cho biết:

“China's economy, the world's second-largest, grew at its slowest pace, latest government figures show.” (Kinh tế Trung quốc, nền Kinh tế lớn thứ hai Thế giới, đã chỉ tăng trưởng với mức độ chậm nhấät, những con số thống kê mới đây cho thấy như vậy).

Biết rằng nền Kinh tế của mình lệ thuộc vào xuất cảng, nên Trung quốc cố gắng tạo Mãi lực nội địa để cứu vãn, nhưng quá chậm. Đài VOA nói rõ lý do yếu kém hẳn về tăng trưởng:

“Reason for the slide is the slowdown in exports because of weakening demand from Europe and the US.” (Lý do của trượt dốc là sự đi xuống xuất cảng vì việc giảm sút mua hàng từ Aâu châu và Hoa kỳ).

Cựu Kinh tế gia trưởng của IMF và hiện là Giáo sư tại trường đại học Harvard, Tiến sĩ Kenneth ROGOFF, cũng đồng quan điểm như Đài VOA:

“Tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc, nhờ vào xuất khẩu và chi tiêu vào hạ tầng cơ sở và địa ốc, không bền vững.

Các bạn phải phân biệt là Trung Quốc đang làm tốt công việc của họ và không biết họ có thể quản lý mọi sự một cách hoàn hảo hay không. Và như tôi đã nói, và tôi sẽ nói như thế nữa, là tỉ lệ tăng trưởng chậm lại đáng kể của Trung Quốc trong một hay bất cứ năm nào trong vòng 10 năm tới không phải là vào khoảng 10%.


Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ của châu Âu đang làm tổn hại sự tăng trưởng của Trung Quốc vì có sự suy yếu của những nền kinh tế tiên tiến quan trọng, thị trường chính của lượng xuất khẩu khổng lồ Trung Quốc.

Đây là một tình hình rất nguy hiểm. Tất cả chiến lược tăng trưởng của Trung Quốc không thể bền vững, khi mà mức đầu tư bằng 50% tổng sản lượng nội địa. Đây không phải là những dự án mãi mãi bạn có thể thực sự thu nhập lợi tức. Điều chúng ta biết là không thể nào tăng trưởng bằng cách xuất khẩu mãi mãi. Quốc gia của bạn tăng trưởng 10% trong khi đối tác mậu dịch của bạn tăng trưởng chậm hơn nhiều. Bạn có thể làm bài tính, và thấy không thể nào thực hiện được.

Các nhà phân tích Trung Quốc nói chính phủ đang nỗ lực lấy lại thăng bằng kinh tế bằng cách khuyến khích tiêu thụ nội địa và tăng lương.”

 

Những nổi dậy BẠO ĐỘNG của Nông dân

 

Xin lưu ý rằng số đông những Công nhân đến từ những vùng quê nội địa gốc Nông dân. Khi tăng trưởng tuột dốc, Xí nghiệp đóng cửa, thì những Công nhân gốc Nông dân trở về miền quê và như vậy tăng cường cho phía Nổi dậy của Nông dân. Những Tin tức mới đây ghi nhận những cuộc Nổi dậy của Nông dân với BẠO ĐỘNG:

 

*       Dân Hà Nam nổi dậy

 

Bản Tin của RFI (TÚ ANH, theo AFP như sau:

“Uy tín của đảng Cộng sản Trung Quốc lại bị sứt mẻ. Báo chí thừa nhận nhiều ngàn dân ở Hà Nam xuống đường phản đối chính quyền không ngăn chận nạn đầu tư địa ốc lừa đảo gây thiệt hại cho dân chúng. Theo Reuters, vụ biểu tình đã bắt đầu từ hôm qua, đầu năm dương lịch.

Nguồn tin này đã được báo chí và chính quyền địa phương xác nhận vào hôm nay 2/1/2012. Hàng ngàn người kéo về nhà ga xe lửa thành phố An Dương, tỉnh Hà Nam với ý định kéo lên Bắc Kinh để tố giác tệ nạn tham ô và khiếu nại trước các vụ lừa đảo trong ngành địa ốc.

Họ bị một lực lượng cảnh sát đông đảo ngăn chận tại quảng trường trước nhà ga nhưng dường như không xảy ra xung đột.

Từ nhiều tháng qua, thông tin cho biết tình trạng làm ăn phá sản mà thực chất là đầu cơ lừa đảo đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng cho chính quyền huyện An Dương, một vùng nông thôn với hơn 5,2 triệu dân, cách Bắc Kinh 500 cây số về hướng tây nam.

Đảng Cộng sản Trung Quốc lo ngại mất quyền cai trị trước hàng trăm ngàn cuộc biểu tình của dân chúng phản đối nạn trưng thu đất đai, tham nhũng và nạn lừa đảo tài chính trên toàn quốc. Vụ An Dương cho thấy khi lòng dân bất mãn sẽ đưa đến phản kháng như thế nào.

Hôm nay, 02/01/2012, mạng điện tử của bí thư đảng Cộng sản tại An Dương, Trương Quảng Trí công nhận sự phản đối của dân chúng và hứa hẹn sẽ có biện pháp nghiêm ngặt chống đầu tư bất hợp pháp.

Mặc dù chính quyền tìm cách ngăn chận biểu tình nhưng thừa nhận “vụ phản đối này phản ánh sự yếu kém của đảng trong việc kiểm soát nạn đầu cơ lừa đảo”.

Vào tháng 10 năm ngoái, báo Diễn đàn Doanh nghiệp Thế kỷ 21 đã tường thuật vụ lừa đảo có hàng chục công ty tham gia mời gọi dân chúng đầu tư địa ốc với lời hứa nhận được lãi suất thật cao. Hệ quả là các công ty này biến mất cùng với tiền tiết kiệm của khách hàng nhẹ dạ.

Theo tờ Minh Báo thì cảnh sát đang điều tra vụ này với hàng trăm nghi phạm. Tuy nhiên, trên internet, dân cư địa phương cho biết là nhiều viên chức chính quyền tỏ ra không sốt sắng triệt hạ đường dây lừa bịp này.”

 

*       Dân Ô Khảm nổi dậy

 

Bàn tin này theo chính Tân Hoa Xã:

“Ông Lâm Tổ Loan một trong số những người lãnh đạo cuộc phản kháng ở Ô Khảm

Người đàn ông lãnh đạo các cuộc phản kháng đông đảo chống hành động tịch thu đất đai bất hợp pháp tại một xã ở miền nam Trung Quốc đã được bổ nhiệm làm chủ tịch xã, trong một hành động hiếm có do chính phủ Trung Quốc đưa ra.

Tân Hoa Xã, hãng thông tấn chính thức của nhà nước Trung Quốc, loan tin ông Lâm Tổ Loan đã trở thành Chủ tịch xã Ô Khảm ở tỉnh Quảng Đông thuộc miền nam Trung Quốc. Tin cho biết ông Lâm sẽ giúp tổ chức bầu cử một ủy ban nhân dân xã mới.

Ông là một trong số những nhà lãnh đạo trong những tuần lễ diễn ra các cuộc phản kháng tại Ô Khảm trong đó dân làng đòi chấm dứt tệ trạng tham nhũng của chính phủ địa phương và việc cướp đất bất hợp pháp của dân.

Các vụ phản đối đã bùng nổ trong tháng 12 khi một trong những người lãnh đạo cuộc biểu tình phản đối đã chết trong khi bị cảnh sát giam giữ.

Sau đó cư dân đã chặn đường vào thị xã và đòi trả tự do cho nhiều người lãnh đạo cuộc biểu tình bị giam giữ.

Trong một đáp ứng hiếm thấy, các giới chức chính phủ Trung Quốc gọi đòi hỏi của dân làng là hợp lý và đã trả tự do cho những người cầm đầu.

Những cuộc biểu tình tại Trung quốc phản đối tham nhũng, ô nhiễm, đòi tăng lương và phản đối tịch thu đất của dân rất thường xảy ra trong mấy năm gần đây, một phần, theo các nhà phân tích tình hình chính trị, là do sự lớn mạnh vượt bực của internet. “

 

*       Dân lập chướng ngại chặn đường

 

Tin nổi dậy tại Trung quốc cũng được tờ FINANCIAL TIMES ngày 17.01.2012 khẳng định trên trang nhất:

“The leader of a Chinese village rebellion has been appointed secretary of the local branch of Communist party.

Initially peacefull, the demonstrations in Wukan turned violent when authorities  sent paramilitary troups. After a protest  leader died in police custody in early December, residents erected barricades.

Wukan has become  a symbol of hope for party reformers who argue that political change is essential in China.”

(Người đứng đầu của một làng nổi dậy Trung quốc đã được chỉ định làm Thư ký chi nhánh đảng Cộng sản địa phương.

Lúc đầu, những cuộc biểu tình chống đối tại Wukan rất ôn hòa, nhưng đã trở thành BẠO ĐỘNG khi chính quyền gửi quân đội địa phương đến trấn áp. Sau khi người lãnh đạo nổi dậy bị chết tại đồng Công an, những người địa phương chống đối đã dựng những chướng ngại chặn đường để tự vệ.

Wukan đã trở thành biểu tượng cho hy vọng của những người chủ trương cải cách đảng để nói lên rằng việc thay đổi chính trị là thiết yếu cho Trung quốc.)

 

Đôi lời Kết luận

 

Trung quốc đã dùng bạo lực quân đội nhân dân để đàn áp, nhưng đã  không thể trấn át được ý chí quyết tử đấu tranh của Nông dân. Vốn đấu tranh ôn hòa, nhưng khi gặp đàn áp bằng vũ lực, Nông dân sẽ trở BẠO ĐỘNG:

“Initially peacefull, the demonstrations in Wukan turned violent when authorities  sent paramilitary troups “.(Lúc đầu, những cuộc biểu tình chống đối tại Wukan rất ôn hòa, nhưng đã trở thành BẠO ĐỘNG khi chính quyền gửi quân đội địa phương đến trấn áp.)

Tại Tiên Lãng, Kỹ sư ĐÀO VĂN VƯƠN cũng bị đẩy vào đường cùng và buộc lòng phải tự vệ bằng BOM, SÚNG vậy.

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 18.01.2012

Web: http://VietTUDAN.net

Posted on 05 Mar 2011
TOP
back to Audio FreeViet INDEX
RSS  FreeVietNews-Audio
  • 28 AUDIO các Bài Nhận Định Đầu Năm và Chúc Tết Quý Tỵ 2013 từ Hải Ngoại
  • Mặc Giao: Bầu cử tự do, công bằng, và lương thiện!
  • Bác sĩ Cấn Thị Bích Ngọc: Đoàn Én đem lại mùa Xuân!
  • Đại Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu: Cương quyết bảo vệ giang sơn Việt Nam!
  • 70 NĂM TÌNH CA VIỆT NAM (1930 - 2000)
  • Công Giáo Miền Bắc đồng loạt phản kháng nhà nước Việt Cộng!
  • Mãi mãi dòng thơ HOA ĐỊA NGỤC
  • Tôi Phải Sống -- Hồi ký đời tù của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
  • Huỳnh Thục Vy: Biểu tình là thể hiện tâm tư yêu nước!
  • Đức Giám Mục Nguyễn văn Long: Không để sự Ác hoành hành
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Ý nghĩa của sự Dấn Thân!
  • Tiến sĩ Nguyễn văn Lương: NGỪNG DU LỊCH & HẠN CHẾ GỞI TIỀN VỀ VIỆT NAM!
  • TỘI ÁC KINH KHỦNG của Đảng Cộng Sản Trung Quốc!
  • Bác sĩ Cấn Thị Bích Ngọc: Quả là Quốc Nhục!!
  • Buồm cao ghi dấu can trường
  • 4 cuốn Sách Pháp viết về 30-4-1975: Pierre Darcourt, Jean Lartéguy, Olivier Todd, Vanuxem
  • AUDIO Hội Luận PALTALK mỗi tối Chúa Nhật 7-10pm California
  • Tiến sĩ Lê Minh Nguyên: Đoàn văn Vươn--Quyền tự vệ chính đáng!
  • Thỉnh Nguyện Thư vận động Chính Quyền và Quốc Hội Hoa Kỳ!
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
  • Mặc Giao: Thêm ý chí và lòng cương quyết!
  • Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: Đạo đức và Tôn giáo!
  • Mậu Thân và nỗi đau của Huế
  • VIỆT KHANG: Lòng nào làm ngơ trước NGOẠI XÂM?
  • 33 BÀI NHẬN ĐỊNH & CHÚC TẾT ĐỒNG BÀO VIỆT NAM
  • THÁI HÀ đấu tranh quyết liệt!
  • Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp: Biết vận dụng Sức Mạnh quần chúng!
  • Văn Phòng II Viện Hóa Đạo: Hiểm họa mất nước!
  • Linh mục Nguyễn văn Khải: giáo dân xông vào nơi hiểm nguy!
  • Mặc Giao: Con thú điên cuồng ở chân tường!
  • Tiến sĩ Trần An Bài: Cách Mạng Bông Lau tại Việt Nam !
  • SƠN HÀ NGUY BIẾN -- XUỐNG ĐƯỜNG CỨU NƯỚC!
  • Hội Ngộ Dân Chúa 2011
  • Nhà văn Chu Tất Tiến: Yêu Nước và Cứu Nước!
  • Tiến sĩ Hà văn Hải: Cuộc cách mạng của nông dân Việt Nam
  • Giáo dân giáo xứ Cồn Dầu kêu cứu
  • Luật sư Nguyễn Hữu Thống: Giải Thể Chế Độ Cộng Sản
  • Tập trung cầu nguyện phản đối VC giam tù & khủng bố dân
  • Mặc Giao: Hội đủ điều kiện nổi dậy ở VIỆT NAM chưa?
  • Quyền lực của Nhân Dân, Sức Mạnh của Giới Trẻ!
  • Phạm văn Thanh: Hãy đồng loạt nổi dậy phế bỏ chế độ VC!
  • Trần Phong Vũ: Từ Bắc Phi đến Việt Nam
  • Hòa Thượng Thích Quảng Độ & Radio Phật Giáo & Quê Mẹ
  • 26 lời kêu gọi cứu nước + chúc Tết đồng bào Việt Nam
  • Tiến sĩ Trần An Bài: Mọi chế độ độc tài đều bị đạp đổ!
  • Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm: Đoàn kết, đứng lên đòi quyền sống!
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Tôn Giáo xây dựng nền văn minh tình thương!
  • Tiến sĩ Mai Thanh Truyết: Ngọn Lửa Thiêng giúp dân Biểu Tình!
  • Mục sư Phạm Hữu Nhiên: Một Tương Lai đầy Hy Vọng!
  • Tiến sĩ Lê Minh Nguyên: Vượt Sợ Hãi để làm Cách Mạng!
  • Hiền Tài Phạm Văn Khảm: Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh chúc Têt
  • Giáo sư Lê Tinh Thông: Thắp sáng lửa đấu tranh ở Việt Nam!
  • Mặc Giao: Tạo điều kiện & nắm cơ hội để vùng dậy!
  • Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tâm Châu: mong Việt Nam đổi mới, có Nhân Quyền, Tự Do Dân Chủ, ấm no hạnh phúc
  • Tù nhân dưới chế độ Việt Cộng bị hành hạ kinh khiếp
  • Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra đi + Nỗi lòng của giáo dân Hà Nội
  • Đất Nước tôi màu thắm bên bờ đại dương (Việt+English)
  • Chúng tôi đau trong ngực mỗi người bạn Ba Lan
  • Các audio: chinhnghiavietnamconghoa.org
  • AUDIO BOOK-- Trại Kiên Giam của Nguyễn Chí Thiệp
  • Professor Linvingston Voorhis: Những khác biệt giữa chủ nghĩa cộng sản Âu Châu và Á Châu
  • Giáo sư Lưu Trung Khảo: Lạc Quan, Tin Tưởng, Hy Vọng
  • Giáo sư Nguyễn Quốc Khải: Hải ngoại cần phải góp sức nhiều hơn!
  • Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm: 35 năm khốn khổ tủi nhục của dân tộc Việt Nam
  • Tiến sĩ Nguyễn văn Canh: Hồ Sơ Hoàng Sa Trường Sa và Chủ Quyền Dân Tộc
  • Giáo sư Nguyễn Thanh Giàu: Chúng ta phải hết sức giúp đỡ!
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Lưu truyền mãi với Sử Sách!
  • Trần Phong Vũ: Khối 8406, con đường đấu tranh quyết liệt và cụ thể
  • Mặc Giao: Đừng đòi hỏi họ phải là những chính trị gia chuyên nghiệp
  • Hữu Loan: Nhà Thơ bất khuất của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm
  • Về Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền
  • Muôn nghìn đời dạt dào Chính Khí Việt!
  • Giáo sư Lưu Trung Khảo: Tẩy chay hàng hóa Trung Quốc!
  • Hải Triều: Cứ làm hết mình (5/2007)
  • Giáo sư Lưu Trung Khảo: Hồn Nước
  • Tiến sĩ Hà văn Hải: Khi Nước mất, chúng ta sẽ mất tất cả!
  • MỪNG NĂM MỚI CANH DẦN 2010 -- NHẠC XUÂN VÀ GIA CHÁNH
  • Tiến sĩ Mai Thanh Truyết: Phải trang bị hành trang để tự cứu mình!
  • Giáo sư Nguyễn Thanh Giàu: Chúc cho dân Việt có Tự Do và Công Lý
  • Đức Giám Mục Mai Thanh Lương: Tại Quê Nhà dân Việt chúng ta vẫn đói khổ
  • Trần Phong Vũ: Cầu chúc Chân Cứng Đá Mềm!
  • Lm Anphong Trần Đức Phương: Đem yêu thương vào nơi oán thù
  • Nhà văn Mặc Giao: Hãy đánh động lòng Trời và lòng người trong năm Canh Dần!
  • Hòa Thượng Thích Chánh Lạc: Nên đặt Tổ Quốc Việt-Nam, quyền lợi và hạnh phúc của 85 triệu người Việt-Nam lên trên hết
  • Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng: Quốc Gia Dân Tộc đắm chìm trong khổ ải thì lấy Đạo mà cứu Đời
  • Luật sư Nam Thị Hồng Vân: Chúng ta quyết tâm đứng lên bảo vệ lãnh thổ!
  • Hòa Thượng Thích Thiện Tâm: Suy nghĩ về hiện tình Đất Nước và chúc Tết đồng bào quốc nội
  • Di Ngôn của Đức Ông Trần Văn Hoài (Tết 1999)
  • Cụ Nguyễn Kim Như: Chúng ta phải suy nghĩ và tích cực hơn! (2007)
  • Đặng Tấn Hậu: Tẩy Chay Hàng Hóa Trung Cộng!
  • Cố Giám Mục Lê Đắc Trọng: Nghĩ về Chủ nghĩa Cộng sản
  • Trần Phong Vũ: Cuộc Cách Mạng bằng Lời Cầu Nguyện tại Việt Nam
  • Linh mục Phan văn Lợi: Ta sinh ra làm người đứng thẳng!
  • Trồng Thánh Giá khắp nơi-- Bài giảng của Lm Phạm Minh Triệu
  • Giáo sư Lưu Trung Khảo: Văn Hóa Việt khác văn hóa Tàu!
  • Đức Giám Mục Mai Thanh Lương: Nhớ Giáo Hội và Quê Hương
  • Mừng Chúa Giáng Sinh 2011 & Chúc Mừng Tết Tây 2012
  • Vinh danh Khối 8406 hoạt động 5 năm
  • Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Tổ Quốc & nhân dân sẽ phá án cho tôi!
  • TS Phan văn Song: Tuổi Trẻ can trường, Tuổi Trẻ bất khuất!
  • Luật sư Nam Thị Hồng Vân: Hội Luật Gia Việt Nam tại California
  • 200 BẢN NHẠC MỪNG GIANG SINH & HAPPY NEW YEAR 2011
  • Thuy-Dzuong Nguyen: The Truth Lenders (Những Kẻ Cho Vay Sự Thật)
  • Tiến sĩ Hà văn Hải: Khối 8406, bốn năm nhìn lại
  • Giao Chỉ: Những bài Ca gọi Hồn Dân Tộc
  • Lm Phan văn Lợi: Lời tâm sự đầu Xuân Canh Dần 2010
  • Giáo xứ Hà Đông + Việt cộng âm mưu cướp tài sản Công Giáo
  • Liên phòng PALTALK: Yểm trợ Khối 8406 bốn năm hoạt động kiên trì, gian nan
  • Lê Thị Công Nhân: một mũi tên, một thành trì!
  • Việt cộng phóng thích Linh mục Nguyễn Văn Lý!
  • Mục Sư Trần Thanh Vân: Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam tại Hoa Kỳ chúc Tết Đồng Bào
  • Thủ tục Khiếu Tố các vi phạm Nhân Quyền tại Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc
  • Gs Nguyễn Chính Kết: Cuộc đấu tranh trong Nước hiện nay
  • Lê Thị Huệ phỏng vấn nhà hoạt động Thi Vũ Võ Văn Ái
  • Giáo xứ Đồng Chiêm: Việt Cộng đánh dân đổ máu, thương tích nặng


    Các Đài Phát Thanh Việt Ngữ
    hướng về Việt Nam:

    » VOA: 5:30 giờ sáng ||  8 giờ tối  ||  10 giờ khuya  (chương trình trong ngày) hay các chương trình lưu trữ.
    » BBC phát thanh từ Luân Đôn: 9:30 tối
    » RFI (Radio France Internationale) LIVE 9:00 tối hay các chương trình lưu trữ
    » RFA: 6:30-7:30 sáng || 9-10 giờ tối LIVE
    hay các chương trình lưu trữ trong 7 ngày qua
    » VERITAS - Chân Lý Á Châu
    » Đài Phật Giáo Việt Nam

    Các đài phát thanh từ Hoa Kỳ:

    » Radio Bolsa
    (6-12pm-- 6-10pm / Mon-Fri)
    - Nam Calif. LIVE
    - Bắc Calif. LIVE
    » Little Saigon Radio
    - Nam Calif. LIVE 
    - Houston LIVE
    » Việt Nam Hải Ngoại LIVE
    » Saigon Radio Hải Ngoại LIVE


    « FreeVietNews.com


  •  



     


    Radio Việt Ngữ

    Các Đài Phát Thanh Việt Ngữ hướng về Việt Nam:

    .

     Các đài phát thanh từ Hoa Kỳ:

    • Radio Bolsa - LIVE
      (6-12pm-- 6-10pm / Mon-Fri)
    • Little Saigon Radio
      - Nam Calif. LIVE -- Houston LIVE
    • Việt Nam Hải Ngoại LIVE
    • Saigon Radio Hải Ngoại (4-10pm / Mon-Fri) LIVE
      Services | © 2008 - 2013